BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN THỊ THÚY KIỀU GIẢI PHÁP TĂNG THU NHẬP TỪ HOẠT
ĐỘNG DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG TẠI NGÂN
HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TS. NGUYỄN THỊ LOAN
TP.HCM – NĂM 2013
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô Trường Đại học Kinh Tế
TP.HCM đã tận tâm giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt
thời gian tôi học tập tại Trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến cô TS. Nguyễn Thị Loan đã nhiệt tình
hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Sau cùng, tôi xin cảm ơn đến những người bạn, đồng nghiệp và những người thân
đã tận tình góp ý và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu. Xin cảm ơn chân thành
đến quý khách hàng, những người góp phần không nhỏ cho luận văn này thông qua việc
đánh giá một cách thực tế và khách quan hoạt động dịch vụ của Agribank.
Xin chân thành cảm ơn!
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Nguyễn Thị Thúy Kiều là tác giả của luận văn thạc sĩ “ Giải pháp tăng
thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn Việt Nam”.
WTO : Tổ chức Thương mại thế giới
DANH MỤC BẢNG BIỂU
BẢNG BIỂU Trang
Bảng 1.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của Vietcombank giai đoạn 2011-2012 23
Bảng 1.2: Kết quả hoạt động kinh doanh của HSBC giai đoạn 2011-20102 25
Bảng 2.1: Hoạt động dịch vụ phi tín dụng của Agribank giai đoạn 2008-2012 32
Bảng 2.2: Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của Agribank giai đoạn 2008-2012 33
Bảng 2.3: Hoạt động kiều hối của Agribank giai đoạn năm 2008-2012 37
Bảng 2.4: Thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng của Agribank giai đoạn năm 2008-
2012 41
Bảng 2.5: Kết quả hoạt động kinh doanh của Agribank giai đoạn 2008-2012 43
LỜI MỞ ĐẦU
1. LÝ DO NGHIÊN CỨU
Thế giới đang trong kỷ nguyên của hội nhập kinh tế và xu hướng toàn cầu hóa diễn ra
rộng khắp. Trong nền kinh tế toàn cầu hóa, các yếu tố của quá trình tái sản xuất hàng hóa và
dịch vụ được chuyển dịch tự do từ nước này sang nước khác thông qua các cam kết mở cửa
thị trường. Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra trên nhiều lĩnh vực trong đó có
lĩnh vực ngân hàng, đem lại nhiều cơ hội và cũng không ít thách thức.
Các sản phẩm dịch vụ phi tín dụng mà các ngân hàng cung ứng cho cá nhân và doanh
nghiệp đã và đang chứng minh sự tiện ích trong quá trình phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị
trường. Các sản phẩm này cũng là nguồn thu an toàn và ổn định cho các NHTM, mặc dù vậy
tỷ trọng thu nhập từ các sản phẩm dịch vụ của các NHTM Việt Nam còn khá thấp so với hệ
thống các NHTM của các nước khác. Để có thể tồn tại và phát triển trong giai đoạn cạnh
tranh gay gắt hiện nay, các NHTM phải tìm cách phát huy những thế mạnh, khắc phục
những điểm yếu, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, tìm ra giải pháp nhằm
nâng tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng trên tổng doanh thu, đem lại sự phát triển bền
vững cho chính các NHTM Việt Nam, rút ngắn khoảng cách trong trình độ kinh doanh giữa
mình và các ngân hàng nước ngoài đang gia nhập ngày càng nhiều vào thị trường kinh
doanh ngân hàng tại Việt Nam.
Là một trong số những ngân hàng lớn nhất Việt Nam, ngân hàng Nông Nghiệp Và
Phát Triển Nông Thôn Việt Nam cũng không ngoại lệ. Nhận thức được tầm quan trọng của
việc phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng đồng thời xuất phát từ những đòi hỏi mang tính
thực tiễn và nhu cầu cấp thiết trong việc thay đổi cơ cấu nguồn thu nhập, đặc biệt là trong
bối cảnh hiện nay, nguồn thu từ hoạt động tín dụng gặp nhiều rủi ro nên tác giả chọn đề tài:
“Giải pháp tăng thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng tại ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn Việt Nam”.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu thực trạng nguồn thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng
Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam;
- Phân tích, đánh giá tỷ trọng nguồn thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng trong tổng
nguồn thu nhập của ngân hàng đồng thời tìm hiểu những khó khăn còn tồn tại trong việc
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN
HÀNG THƢƠNG MẠI 1
1.1. Khái quát về dịch vụ ngân hàng thƣơng mại 1
1.1.1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng 1
1.1.2. Đặc điểm dịch vụ ngân hàng 3
1.1.3. Phân loại dịch vụ ngân hàng thương mại 5
1.1.4. Thu nhập ngân hàng 6
1.2. Khái quát về thu nhập và dịch vụ phi tín dụng tại NHTM 6
1.2.1. Khái niệm 6
1.2.2. Đặc trưng 7
1.2.3. Các dịch vụ phi tín dụng chủ yếu tại NHTM 8
1.2.4. Thu nhập dịch vụ phi tín dụng 15
1.2.5. Chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng thu nhập và dịch vụ phi tín dụng 15
1.3. Sự cần thiết phải tăng thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng 16
1.3.1. Đối với ngân hàng thương mại 16
1.3.2. Đối với nền kinh tế 17
1.4. Những nhân tố tác động đến nguồn thu từ dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng
thƣơng mại 17
1.4.1. Nhân tố chủ quan 17
1.4.2. Nhân tố khách quan 21
1.5. Kinh nghiệm phát triển dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thƣơng mại trong nƣớc
và ngân hàng thƣơng mại nƣớc ngoài 22
1.5.1. Kinh nghiệm ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam 22
1.5.2. Kinh nghiệm ngân hàng TNHH MTV HSBC Việt Nam 24
1.5.3. Bài học kinh nghiệm đối với ngân hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Việt
Nam 26
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 27
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 28
2.1. Giới thiệu về tổ chức và dịch vụ chủ yếu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
3.2.7. Xây dựng thương hiệu 70
3.2.8. Chiến lược Marketing 70
3.2.9. Giải pháp hoàn thiện kênh phân phối và mạng lưới hoạt động 72
3.3. Giải pháp hỗ trợ 73
3.3.1. Kiến nghị đối với NHNN 73
3.3.2. Kiến nghị đối với Chính phủ, Bộ ngành 74
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3……………………………………………………………………… 75
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục 1
Phụ lục 2
Phụ lục 3
Phụ lục 4
Phụ lục 5
Phụ lục 6
Phụ lục 7
1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN
HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1. Khái quát về dịch vụ ngân hàng thƣơng mại
1.1.1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng
Theo Hiệp định chung về thương mại dịch vụ - (GATS): “Dịch vụ tài chính là bất kỳ
Theo WTO: Trong bảng phân loại các dịch vụ của Tổ chức thương mại thế giới, dịch
vụ tài chính được xếp vào phân ngành thứ 7 trong 12 phân ngành dịch vụ. WTO phân loại
dịch vụ thành 12 ngành: dịch vụ kinh doanh; dịch vụ liên lạc; dịch vụ xây dựng và thi công;
dịch vụ phân phối; dịch vụ giáo dục; dịch vụ môi trường; dịch vụ tài chính; dịch vụ liên
quan đến sức khỏe và dịch vụ xã hội; dịch vụ du lịch và dịch vụ liên quan đến lữ hành; dịch
vụ giải trí, văn hóa và thể thao; dịch vụ vận tải; các dịch vụ khác.
“Dịch vụ tài chính bao gồm: Dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ liên quan đến bảo
hiểm; DVNH và các dịch vụ tài chính khác; dịch vụ chứng khoán”. Trong đó DVNH bao
gồm:
+ Nhận tiền gửi và các khoản phải trả từ công chúng;
+ Cho vay dưới hình thức, bao gồm: Tín dụng tiêu dùng, tín dụng cầm cố thế chấp,
bao thanh toán và tài trợ giao dịch thương mại;
+ Thuê mua tài chính;
+ Môi giới tiền tệ;
+ Quản lý tài sản: Quản lý tiền mặt hoặc danh mục đầu tư; mọi hình thức quản lý đầu
tư tập thể; quản lý quỹ hưu trí; các dịch vụ lưu ký và tín thác;
+ Các dịch vụ thanh toán và bù trừ tài sản tài chính, bao gồm: Chứng khoán, các sản
phẩm phái sinh và các công cụ chuyển nhượng khác;
+ Cung cấp và chuyển thông tin tài chính và xử lý dữ liệu tài chính cũng như cung
cấp các phần mềm liên quan của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính khác;
+ Các dịch vụ tư vấn và trung gian môi giới, các dịch vụ tài chính phụ trợ khác, kể cả
tham chiếu và phân tích tín dụng, nghiên cứu tư vấn đầu tư và danh mục đầu tư, tư vấn về
mua lại và tái cơ cấu chiến lược doanh nghiệp.
3
Theo Luật TCTD 2010 sửa đổi, không nêu DVNH mà chỉ nêu hoạt động ngân hàng
là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận
tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
“Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản” là việc cung ứng phương tiện thanh
toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ
hiện làm thẻ và khách hàng mới sử dụng thẻ.
Thứ ba, tính không đồng nhất: đặc trưng về tính không đồng nhất trong sản xuất và
tiêu dùng đã làm cho các dịch vụ trở nên không ổn định về chất lượng. Điều này dẫn đến hai
hệ quả: Thứ nhất là về phía những nhà cung cấp dịch vụ đã nảy sinh vấn đề là làm thế nào
để xử lý đối với sự không chuẩn hóa, còn về người mua khi có sự gia tăng của tính không
chắc chắn về những gì họ thực sự mua được.
Thứ tư, tính khó xác định: đặc trưng về tính không đồng nhất đã dẫn đến việc khó
xác định chất lượng dịch vụ. Ngoài ra, chất lượng DVNH còn được cấu thành từ nhiều yếu
tố như uy tín, thương hiệu, quy mô hình ảnh, công nghệ của ngân hàng, và trình độ cán
bộ… Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng DVNH nhưng thường xuyên
thay đổi nên DVNH khó có thể được xác định một cách chính xác.
Thứ năm, dòng thông tin hai chiều: DVNH không đơn giản là sự mua sắm một lần
rồi kết thúc mà liên quan đến một chuỗi các giao dịch hai chiều thường xuyên trong khoảng
thời gian cụ thể. Kiểu tương tác như trên cung cấp cho các ngân hàng những thông tin quý
giá về khách hàng liên quan đến sở thích, nhu cầu, yêu cầu của khách hàng… để từ đó ngân
hàng có những điều chỉnh thích hợp trong việc cung cấp DVNH.
Thứ sáu, tính đa dạng phong phú và không ngừng phát triển: hiện nay trên thế giới
có từ vài chục đến hàng trăm loại DVNH khác nhau. Các ngân hàng đang cố gắng phát triển
theo hướng kinh doanh đa năng chứ không chỉ đơn thuần thực hiện những nghiệp vụ truyền
thống như trước kia. Với mỗi loại hình dịch vụ, các ngân hàng đều cố gắng đa dạng hóa các
hình thức cung cấp. Ngoài ra, nhiều DVNH ra đời và phát triển với sự hỗ trợ đắc lực của
công nghệ thông tin. Không chỉ có các dịch vụ hiện đại mới sử dụng các phương tiện kỹ
thuật hiện đại mà các dịch vụ truyền thống cũng đang được cải tiến với hàm lượng công
nghệ thông tin cao.
5
1.1.3. Phân loại dịch vụ ngân hàng thương mại
1.1.3.1. Theo quy mô giao dịch
Dịch vụ ngân hàng bao gồm dịch vụ ngân hàng bán buôn và dịch vụ ngân hàng bán
thu được lợi nhuận cao thì vấn đề then chốt là quản lý tốt các khoản mục tài sản Có, nhất là
khoản mục cho vay và đầu tư, cùng các hoạt động trung gian khác. Các khoản thu nhập của
ngân hàng bao gồm hai khoản:
- Thu về hoạt động tín dụng như : thu lãi cho vay; thu lãi chiết khấu; phí bảo lãnh…
- Thu về hoạt động dịch vụ phi tín dụng như : thu lãi tiền gửi; dịch vụ thanh toán; dịch vụ
ngân quỹ; thu lãi góp vốn, mua cổ phần; thu về mua bán chứng khoán; thu về kinh doanh
ngoại tệ, vàng bạc đá quí; thu về nghiệp vụ uỷ thác, đại lý; thu dịch vụ tư vấn; thu kinh
doanh bảo hiểm; thu dịch vụ ngân hàng khác (bảo quản cho thuê tủ két sắt, cầm đồ…); các
khoản thu bất thường khác …
1.2. Khái quát về thu nhập và dịch vụ phi tín dụng tại NHTM
1.2.1. Khái niệm
Theo luật các TCTD 2010 thì hoạt động ngân hàng là “việc kinh doanh, cung ứng
thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ
thanh toán qua tài khoản”.
Do đó có thể thấy rằng hoạt động nhận tiền gửi mang lại nguồn vốn cho ngân hàng
để tiến hành cấp tín dụng từ đó đem lại nguồn thu từ dịch vụ tín dụng cho ngân hàng. Song
song đó, hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản sẽ mang lại các nguồn thu
khác không liên quan đến hoạt động tín dụng. Cũng theo luật các TCTD 2010 thì “ Cung
ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng các phương tiện thanh toán; thực
hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng,
thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách
hàng”.
Như vậy từ những định nghĩa trên có thể rút ra khái niệm: “Dịch vụ phi tín dụng bao
gồm các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng như: thực hiện dịch vụ thanh toán
séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch
vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng”. Tuy nhiên khái
niệm này còn nhiều chỗ thiếu sót và chưa đầy đủ vì hoạt động của ngân hàng rất đa dạng,
7
ngoài các hoạt động cấp tín dụng và cung ứng dịch thanh toán qua tài khoản còn có các hoạt
hàng hóa hữu hình khác, chỉ có thể cảm nhận thông qua các tiện ích mà dịch vụ mang lại.
- Quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm diễn ra đồng thời: Chu kỳ của một sản phẩm
chia làm hai giai đoạn: sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên đối với dịch vụ ngân hàng,
chúng được tạo ra khi khách hàng có yêu cầu và sử dụng ngay.
- Không ổn định về mặt chất lượng và dễ sao chép (cả về tính chất và hình thức) và do
nhiều yếu tố cấu thành: Một dịch vụ tài chính do sự kết hợp của các yếu tố bên trong (nhân
lực, công nghệ …) và bên ngoài (môi trường, thể chế …). Ngoài ra, còn có sự tham gia của
các NHTM và các tổ chức phi tài chính.
1.2.3. Các dịch vụ phi tín dụng chủ yếu tại NHTM
1.2.3.1. Dịch vụ thanh toán
Dịch vụ thanh toán là việc các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, cung ứng các
phương tiện thanh toán, thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu,
ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng
thông qua tài khoản khách hàng.
Trung gian thanh toán là một trong những hoạt động truyền thống của NHTM. Thanh
toán qua ngân hàng ngày càng được sử dụng rộng rãi, thay thế cho thanh toán bằng tiền mặt
và dịch vụ này đang trở thành nhu cầu không thể thiếu của khách hàng cá nhân cũng như
doanh nghiệp. Với các tiện ích mà hình thức thanh toán qua ngân hàng mang lại cho khách
hàng cũng như hiểu được tầm quan trọng của dịch vụ này trong việc góp phần gia tăng
nguồn vốn huy động có chi phí thấp và nguồn thu nhập từ phí cho ngân hàng, các NHTM đã
tập trung nhiều nổ lực cho phát triển lĩnh vực này nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán của nền
kinh tế. Thanh toán qua ngân hàng bao gồm thanh toán trong nước và thanh toán quốc tế.
Thanh toán trong nƣớc
- Thanh toán bằng ủy nhiệm chi (UNC): là phương thức thanh toán được ngân hàng
thực hiện theo UNC của khách hàng bằng cách trích chuyển tiền trên tài khoản tiền gửi
thanh toán của khách hàng lập UNC sang tài khoản tiền gửi thanh toán của bên thụ hưởng.
9
Thanh toán bằng UNC được sử dụng phổ biến nhằm đáp ứng nhu cầu chuyển tiền của khách
hàng hoặc nhu cầu thanh toán các giao dịch hàng hóa, dịch vụ, trả nợ, nộp thuế …
nhờ thu, phương thức giao chứng từ trả tiền và phương thức tín dụng chứng từ …
- Phương thức thanh toán chuyển tiền: là phương thức thanh toán đơn giản nhất, trong
đó một khách hàng (người mua, người trả tiền, người nhập khẩu …) yêu cầu ngân hàng
phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho người thụ hưởng (người bán, người nhận
tiền, người xuất khẩu …) ở một địa điểm xác định trong một thời gian nhất định. Việc
chuyển tiền có thể thực hiện bằng hai hình thức chủ yếu là hình thức chuyển tiền bằng điện
và hình thức chuyển tiền.
- Phương thức thanh toán nhờ thu: là phương thức thanh toán trong đó công ty xuất
khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ sẽ tiến hành ủy thác cho
ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền từ công ty nhập khẩu dựa trên cơ sở hối phiếu và bộ
chứng từ do công ty xuất khẩu xuất trình. Phương thức thanh toán nhờ thu thực hiện với hai
hình thức nhờ thu trơn và nhờ thu kèm chứng từ.
- Phương thức thanh toán giao chứng từ trả tiền: là phương thức thanh toán mà trong
đó công ty nhập khẩu trên cơ sở hợp đồng mua bán yêu cầu ngân hàng bên xuất khẩu mở
cho mình một tài khoản tín thác để thanh toán tiền cho công ty xuất khẩu khi nhà nhập khẩu
xuất trình đầy đủ chứng từ theo đúng thỏa thuận.
- Phương thức tín dụng chứng từ: là một sự thỏa thuận mà trong đó một ngân hàng
(ngân hàng mở thư tín dụng) đáp ứng những nhu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư
tín dụng) cam kết hay cho phép ngân hàng khác chi trả hoặc chấp nhận những yêu cầu của
người thụ hưởng khi những điều kiện quy định trong thư tín dụng được thực hiện đúng và
đầy đủ.
1.2.3.2. Dịch vụ thẻ
Thanh toán bằng thẻ: thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán do các ngân hàng phát
hành. Chủ thẻ sử dụng thẻ để thực hiện việc thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nộp, rút
tiền mặt, chuyển khoản tại các máy, các quầy của ngân hàng.
Để sử dụng thẻ ngân hàng, khách hàng phải thực hiện thủ tục đăng ký sử dụng thẻ tại
các NHTM. Các NHTM ngày nay đang cung cấp cho khách hàng hai loại thẻ phổ biến nhất
là thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng.
11
hệ thống các phương tiện điện tử và quy trình tự động xử lý giao dịch được ngân hàng sử
dụng để giao tiếp với khách hàng và cung ứng các sản phẩm, DVNH cho khách hàng.
Dịch vụ ngân hàng điện tử được đánh giá là khá hiệu quả, có nhiều triển vọng phát
triển vì những lợi ích mà dịch vụ này mang lại cho khách hàng và cả ngân hàng. Sử dụng
dịch vụ này thông qua các công cụ hỗ trợ như điện thoại, máy tính, Internet, khách hàng có
thể tra cứu thông tin, giám sát tình hình tài chính của khách hàng, thực hiện thanh toán bất
kỳ thời điểm nào, bất kỳ nơi đâu mà không cần phải đến ngân hàng nhờ đó tiết kiệm được
thời gian và chi phí giao dịch. Đới với ngân hàng, khi cung cấp dịch vụ ngân hàng điện tử,
ngân hàng sẽ không cần phải mở quá nhiều chi nhánh, phòng giao dịch cũng như tăng thêm
đội ngũ nhân viên mà vẫn phục vụ được khách hàng nhờ đó giúp ngân hàng tiết kiệm được
chi phí kinh doanh. Hơn nữa, các giao dịch được thực hiện bằng dịch vụ ngân hàng điện tử
sẽ rút ngắn thời gian tác nghiệp và chuẩn hóa các thủ tục, quy trình đối với ngân hàng.
Sự phát triển như vũ bảo của công nghệ thông tin trong những năm gần đây đã ảnh
hưởng rõ rệt đến sự phát triển của công nghệ ngân hàng. Ở nhiều nước trên thế giới, dịch vụ
ngân hàng điện tử đã phát triển khá phổ biến và đa dạng về loại hình sản phẩm, dịch vụ.
Hiện nay, có hai kênh phân phối dịch vụ ngân hàng điện tử chủ yếu là Internet và điện thoại.
- DVNH thực hiện qua điện thoại có tốc độ phát triển mạnh trong vài năm trở lại đây
và trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho khách hàng trong hoạt động tư vấn dịch vụ, thực
hiện các nghiệp vụ giao dịch tại ngân hàng. Kênh phân phối dịch vụ ngân hàng điện tử qua
điện thoại có thể thực hiện với các dịch vụ: Call centre, phone banking, SMS banking,
Mobile banking.
- Internet Banking: dịch vụ được dự đoán sẽ tạo ra sự bùng nổ trong phân phối sản
phẩm dịch vụ ngân hàng trong tương lai là hệ thống Internet Banking. Kênh phân phối dịch
vụ ngân hàng điện tử Internet là kênh cho phép khách hàng được đặt lệnh yêu cầu ngân
hàng phục vụ mình thực hiện việc chuyển tiền, thanh toán hoặc kiểm soát hoạt động của tài
khoản cá nhân, tổ chức thông qua mạng Internet.
Hiện nay, dịch vụ Internet Banking ngày càng được các ngân hàng hoàn thiện, các
ngân hàng không chỉ dừng lại ở việc thiết kế trang web để cung cấp thông tin về sản phẩm
dịch vụ mà các ngân hàng còn cung cấp các tiện ích khác như xem thông tin tài khoản,
13