BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
oOo TRẦN LÊ THANH HẢI NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA NỢ NƯỚC NGOÀI
LÊN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM.
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2013 LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả với sự
giúp đỡ của Cô hướng dẫn và những người mà tác giả đã cảm ơn. Số liệu thống kê
được lấy từ nguồn đáng tin cậy, nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn này
chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào cho tới thời điểm hiện nay. Tp. Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2013
Tác giả
Trần Lê Thanh Hải
MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
và
Muhammad Umer Hayat (2010)
“Nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế.
Nghiên cứu thực nghiệm từ Pakistan
” 16
2.2.4 Nghiên cứu của Sulaiman, L.A và Azeez, B.A (2012) "Tác động của nợ
nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế ở Nigeria" 17
2.2.5 Nghiên cứu của Okonkwa, C.S & Odularu, G.O. (2013): "Mối quan hệ
giữa nợ nước ngoài, gánh nặng nợ và tăng trưởng kinh tế: Nghiên cứu thực
nghiệm và bài học chính sách từ các nước Tây Phi" 18
2.3 Các nghiên cứu của các tác giả trong nước về mối quan hệ giữa nợ nước
ngoài và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam: 21
2.3.1 Nghiên cứu của Lâm Xiêm Dung (2011) "Tác động của nợ công đối với
tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam" 21
2.3.2 Nghiên cứu của Đoàn Ngọc Châu (2012)
"Tác động của nợ nước ngoài
đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam" 23
2.3.3 Nghiên cứu của Nguyễn Thị Song Hoanh (2012) "Tác động của nợ nước
ngoài đối với tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam" 24
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Thu thập dữ liệu cho mô hình nghiên cứu: 27
3.2 Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu: 28
3.3 Mô hình nghiên cứu tác động của nợ nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế
tại Việt Nam: 31
3.4 Phương pháp nghiên cứu: 33
4.5.3.1 Kiểm định ý nghĩa thống kê của mô hình ECM một bước trễ (kiểm định
RESET của Ramsey): 58
4.5.3.2 Kiểm định phần dư có phân phối chuẩn (Kiểm định Histogram -
Normality)của mô hình ECM một bước trễ: 58
4.5.3.3 Kiểm định sự phù hợp của hàm hồi quy (kiểm định Wald) mô hình
ECM một bước trễ: 60
4.5.3.4 Kiểm định tự tương quan (Kiểm định Breusch-Godfrey) mô hình ECM
một bước trễ: 60
4.6 Thảo luận kết quả nghiên cứu: 61
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 63
5.1 Kết luận: 63
5.2 Một số gợi ý chính sách đối với nền kinh tế Việt Nam: 64
5.3 Hạn chế của đề tài và bước nghiên cứu tiếp theo: 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký
hiệu Tên Tiếng Anh Tên Tiếng Việt
ECM Error correction model Mô hình hiệu chỉnh sai số
EXDY
VND Đồng Việt Nam
USD US Dollar Đô la Mỹ
WB World Bank Ngân hàng thế giới
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1. Bảng kết quả kiểm định nghiệm đơn vị
Bảng 4.2. Bảng độ trễ tối ưu
Bảng 4.3: Kết quả kiểm định đồng liên kết Johansen theo thống kê Trace
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định đồng liên kết Johansen theo thống kê Max-Eigen
Bảng 4.5 Kết quả hồi quy ước lượng vector sai số ngẫu nhiên VECM
Bảng 4.6: Hồi quy đồng liên kết
Bảng 4.7 Kiểm định phần dư để kiểm tra đồng liên kết
Bảng 4.8: Bảng tổng hợp kết quả phần dư có phân phối chuẩn
Bảng 4.9 Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi
Bảng 4.10 Hồi quy mô hình ECM hai bước trễ
Bảng 4.11 Hồi quy mô hình ECM một bước trễ
Bảng 4.12: Kết quả kiểm định ý nghĩa thống kê của mô hình ECM một bước trễ
Bảng 4.13 Kết quả kiểm định Histogram - Normality mô hình ECM một bước trễ
Bảng 4.14 Kiểm định Wald mô hình ECM một bước trễ
Bảng 4.15 Bảng kết quả kiểm định tự tương quan
G.O.(2013)
sử dụng phương pháp
kiểm định nghiệm đơn vị (Unit root test) của
Augmented Dickey-Fuller
(ADF) để kiểm định tính dừng của số liệu chuỗi thời
gian, lý thuyết đồng liên kết (Co-integration) của Johansen để đo lường các mối
quan hệ trong dài hạn giữa các biến (quan hệ đồng liên kết) và cuối cùng là sử dụng
mô hình điều chỉnh sai số ECM (Error Correction Model) theo Engle - Granger hai
bước (1987) để thực hiện khảo sát mối quan hệ động trong ngắn hạn giữa các biến
vĩ mô.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến nghiên cứu đều có mối tương quan
đồng liên kết. Trong dài hạn, các biến vĩ mô có sự tác động lên tăng trưởng kinh tế
đó là biến đầu tư trực tiếp nước ngoài tương quan dương với tăng trưởng kinh tế và
biến đầu tư trong nước trên GDP, nợ nước ngoài trên GDP và nợ phải trả trên xuất
khẩu tỷ lệ nghịch với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Trong khi đó, xét về ngắn
hạn, biến tăng trưởng kinh tế chịu ảnh hưởng bởi chính nó ở độ trễ một kỳ. Ngoài ra
nó còn còn bị tác động bởi biến nợ nước ngoài trên GDP ở kỳ hiện tại và nợ phải
trả trên xuất khẩu ở độ trễ thứ nhất. Các biến đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư
trong nước không thể hiện sự tác động của nó lên tăng trưởng kinh tế trong ngắn
hạn. Bài viết cũng đưa ra một số gợi ý chính sách dựa trên kết quả nghiên cứu nhằm
giúp cho nền kinh tế của Việt Nam tăng trưởng ổn định và bền vững.
Từ khóa: Nợ nước ngoài, tăng trưởng kinh tế, đồng liên kết, mô hình ECM,
đầu tư.
2
lũy nợ lớn của các quốc gia đang phát triển sẽ cản trở quá trình tăng trưởng và lợi
nhuận đạt được từ tăng trưởng sẽ bị kìm hãm bởi các khoản nợ phải thanh toán,
nguồn dự trữ ngoại tệ giảm do được sử dụng để trả nợ sẽ ảnh hưởng đến khả năng
thanh toán làm giảm khả năng tiếp cận các nguồn lực tài chính bên ngoài từ đó có
những tác động bất lợi đến đến đầu tư.
3
Như vậy, thật khó để nói liệu nợ nước ngoài có tác động nghịch chiều hay
thuận chiều đến tăng trưởng kinh tế. Trên thực tế, việc nắm rõ sự tác động này
trong thực trạng cụ thể của nền kinh tế là hết sức cần thiết để hoạch định những
chính sách quản lý hoạt động vay nợ nước ngoài một cách có hiệu quả nhất.
Thấy được tầm quan trọng của vấn đề này, tác giả chọn đề tài "Nghiên cứu
tác động của nợ nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam'' làm luận văn tốt
nghiệp cho mình nhằm tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi sau:
1. Liệu rằng có tồn tại hay không tồn tại mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng
trưởng kinh tế ở Việt Nam?
2. Mức độ tác động của mỗi biến đến tăng trưởng kinh tế là như thế nào trong ngắn
hạn và trong dài hạn?
Luận văn sẽ trả lời các câu hỏi trên và hi vọng đóng góp một phần hoàn thiện
trong việc nghiên cứu tác động nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế.
Bài viết đánh giá tác động của nợ nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế và xác
định sự tồn tại của gánh nặng nợ ở Việt Nam với chuỗi dữ liệu thời gian từ năm
1986-2012. Người viết dựa vào nghiên cứu của tác giả Okonkwa, C.S & Odularu,
G.O.(2013) để xây dựng mô hình cho Việt Nam.
Bài nghiên cứu gồm năm phần:
Chương 1: Giới thiệu nội dung chính của bài viết và vấn đề cần nghiên cứu.
Chương 2: Trình bày khung lý thuyết và các kết quả nghiên cứu trước đây
Tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm (hay gia tăng) về quy mô sản lượng của
nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Tăng trưởng kinh tế được phản ánh ở nhiều
chỉ tiêu nhưng chỉ tiêu thường được sử dụng là Tổng sản phẩm quốc nội (GDP),
tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tổng thu nhập quốc dân (GNI),
tốc độ tăng trưởng
GDP thực bình quân đầu người (real GDP per capita),
tăng trưởng vốn, lao động,
sự gia tăng dung lượng thị trường Sự tương tác giữa các bộ phận cấu thành GDP
như tiêu dùng nội địa, đầu tư, chi tiêu chính phủ và cán cân thương mại sẽ làm thay
đổi tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Quá trình tăng trưởng thể hiện các nguồn lực tăng trưởng như tài nguyên
thiên nhiên, vốn, lao động, công nghệ, quản lý, quan hệ, thị trường được khai thác
và sử dụng có hiệu quả cao nhất. Tăng trưởng kinh tế bao hàm cả tăng trưởng theo
chiều rộng và chiều sâu, số lượng và chất lượng, ngắn hạn và dài hạn Nhiều công
trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã lượng hoá tác động của các nguồn lực tăng
5
trưởng đến chất lượng và động thái tăng trưởng thông qua các mô hình như mô hình
tái sản xuất giản đơn của C.Mác, tái sản xuất mở rộng của V.I. Lênin, mô hình các
giai đoạn tăng trưởng kinh tế của W.Rostow hoặc Solow, hoặc hàm sản xuất Cob
Douglas.
Quá trình tăng trưởng kinh tế có thể có nhiều mô hình khác nhau như tăng
trưởng kinh tế nội sinh, tăng trưởng kinh tế ngoại sinh hoặc sự kết hợp của cả hai
mô hình này tùy điều kiện và sự lựa chọn chiến lược của các quốc gia. Như vậy,
tăng trưởng kinh tế là quá trình tích luỹ giá trị gia tăng của một nền kinh tế từ các
nguồn lực trong và ngoài nước và nó phải được thúc đẩy bằng những động lực đủ
mạnh của chính sách hoặc những yếu tố khác trong điều kiện toàn cầu hoá và hội
Coast, Gambia, Ghana và Senegal giai đoạn từ năm 1970 đến năm 2007.
Theo Benedict Clements và các cộng sự (2003), thanh toán nợ nước ngoài
cũng có khả năng ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế do làm giảm đầu tư tư nhân.
Khi các yếu tố khác không đổi, thanh toán nợ cao có thể làm tăng thâm hụt ngân
sách, giảm tiết kiệm công, điều này lần lượt có thể làm tăng lãi suất hoặc làm giảm
nguồn tín dụng sẵn có của đầu tư tư nhân từ đó làm giảm tăng trưởng kinh tế. Trả
nợ cao cũng có thể có những tác động bất lợi đến các thành phần của chi tiêu công
bằng cách siết chặt các nguồn lực sẵn có cho cơ sở hạ tầng làm ảnh hưởng không tốt
đến tăng trưởng kinh tế.
Savvides (1992) khẳng định rằng nếu một quốc gia có con nợ không thể trả
nợ nước ngoài thì sẽ ảnh hưởng đến tình hình kinh tế của đất nước. Quốc gia đó chỉ
được hưởng lợi một phần từ sự gia tăng sản lượng hoặc xuất khẩu bởi vì một phần
của sự gia tăng đó được dùng để thanh toán các món nợ cho các chủ nợ. Như vậy,
đối với quốc gia con nợ nói chung, nợ cao có thể làm giảm lợi nhuận để đầu tư và
không khuyến khích việc hình thành vốn trong nước, điều này có thể ảnh hưởng đến
tiết kiệm và đầu tư tư nhân, ngay cả khi các khoản nợ nước ngoài được vay bởi
Chính phủ. Chính phủ có ít động lực để tiến hành những chính sách thúc đẩy sự
hình thành nguồn vốn trong nước hoặc làm giảm tiêu dùng hiện tại để nền kinh tế
tăng trưởng cao trong tương lai và có thể trả nợ cao hơn.
2.1.3 Nợ nước ngoài vừa thúc đẩy vừa kìm hãm tăng trưởng kinh tế:
Các nhà kinh tế học vẫn còn tranh luận về tác động thuận chiều hoặc nghịch
chiều của nợ nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế. Mặc dù, có thể thấy đa số đều kết
luận rằng có mối quan hệ ngược chiều giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng, tuy nhiên
7
ở một mức độ nào đó, rõ ràng không thể phủ nhận vai trò của nợ trong việc bổ sung
Hình 1.1 Đường cong Laffer nợ
(Nguồn: Catherine Pattillo, Hélène Poirson and Luca Ricci, "External Debt and
Growth" (2002), IMF Working Paper Rearch Department)
Đường cong Laffer nợ cho thấy tổng nợ càng lớn sẽ đi kèm khả năng trả nợ
càng giảm. Đường cong nợ Laffer thể hiện rằng cùng phía bên trái, hoặc là mặt "tốt"
của đường cong, khi nghĩa vụ nợ gia tăng thì sẽ tương ứng với sự gia tăng khả năng
trả nợ, tuy nhiên, dọc theo mặt bên phải hay mặt "xấu" của đường cong nợ Laffer,
khi tổng nợ càng tăng lên sẽ dẫn đến khả năng trả nợ càng giảm. Đỉnh đường cong
Laffer nợ đã gợi ý điểm mà tại đó sự tăng lên trong tổng nợ bắt đầu tạo ra gánh
nặng cho đầu tư, cải tổ kinh tế và các hoạt động khác. Đây là điểm
mà tại đó nợ bắt
đầu ảnh hưởng
ngược chiều đến tăng trưởng. Vì vậy đỉnh của đường cong Laffer nợ
là mức độ nợ tối ưu mà một quốc gia có thể duy trì mà không phải lo ngại vấn đề
“nợ dư thừa”.
Mô hình "debt overhang" không trực tiếp phân tích ảnh hưởng của nợ nước
ngoài đến tăng trưởng kinh tế nhưng lại gợi ý rằng tổng nợ lớn sẽ kìm hãm tăng
trưởng và sẽ làm giảm đầu tư. Do đó, ở mức hợp lý, vay nợ tăng lên sẽ khuyến
khích tăng trưởng nhưng tổng nợ tích lũy lớn sẽ có thể cản trở tăng trưởng. Từ đó
có thể kết luận rằng nợ và tăng trưởng có mối liên hệ phi tuyến.
Lý thuyết “debt overhang” còn đi đến một kết quả rộng hơn, đó là mức nợ
nước ngoài quá cao sẽ làm giảm các ưu đãi của Chính phủ cho các hoạt động cải tổ
cơ cấu và tài khóa do việc củng cố tình hình tài khóa quốc gia có thể làm tăng áp
9
lực trả nợ nước ngoài. Những bất lợi này đối với công cuộc cải tổ đang là mối quan
ngại lớn ở các nước có thu nhập thấp, nơi mà việc cải cách cơ cấu là cần thiết để
10
Đóng góp của nợ vào tăng trưởng
sản lượng bình quân đầu người hàng
năm (%)
Hình 1.2 Mối liên hệ “threshold effect” giữa nợ và tăng trưởng.
Một số nghiên cứu thực nghiệm đã tìm ra các bằng chứng ủng hộ lý thuyết
“debt overhang”. Có không ít các bài nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật kinh tế lượng
để đánh giá ảnh hưởng trực tiếp của dung lượng nợ đến đầu tư. Trong đó, dung
lượng nợ được dự đoán sẽ gây ra cả những ảnh hưởng trực tiếp (qua việc cản trở các
ưu đãi để tiến hành cải cách cơ cấu) và gián tiếp (thông qua ảnh hưởng đến đầu tư).
Ở các nước có thu nhập trung bình, Warner (1992) kết luận rằng khủng hoảng nợ
không ảnh hưởng đến đầu tư, trong khi Chowdhury (2001) lại tìm ra các bằng
chứng ủng hộ cho lý thuyết “debt overhang”. Fosu (1999) trong bài nghiên cứu cho
55 nước Châu Phi cũng đã chứng minh sự tồn tại của lý thuyết “debt overhang”.
Đây là lý thuyết và quan điểm của các nhà kinh tế trên thế giới về nợ nước
ngoài và tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, để có cơ sở mở rộng và tìm hiểu về các tác
động của nợ nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế đồng thời làm căn cứ vận dụng
các nghiên cứu đó tại Việt Nam, tác giả sẽ tìm hiểu thêm một số công trình nghiên
cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế.
Kể từ nửa sau thập niên 90, các nhà làm chính sách trên thế giới đã nhận ra
mối liên hệ giữa việc mắc nợ nước ngoài cao trong nhiều nền kinh tế đang phát triển
với nguy cơ giới hạn sự tăng trưởng và phát triển ở các quốc gia này.
Were (2001) cũng đã đánh giá tác động của nợ nước ngoài đối với tăng
11
Tác giả đã sử dụng bộ dữ liệu thời gian từ năm
1970-1995
12
để tiến hành các bước thực nghiệm.
Trong cơ cấu nợ nước ngoài của Kenya, những năm 1970, chủ yếu là nợ
song phương. Từ đầu năm 1980 trở đi, chủ yếu là nợ dài hạn khu vực công, nợ
đa
phương chính thức. Kể từ đầu những năm 1990, tỷ lệ nợ nước ngoài trên GNP
rất cao 39% (1970-1980), 67% (1981-1990) và 89% (1991-1999). Tỷ lệ tăng trưởng
kinh tế bình quân 5,1% (1970-1980), 4.2% (1981-1990) và 2.3% (1991-1999). Tỷ lệ
nợ nước ngoài trên xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ bình quân 121% (1970-1980),
260% (1981-1990) và 268% (1991-1999).
Để đo lường các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế, tác giả đã sử
dụng phương pháp Dickey-Fuller (DF) và Augmented
Dickey-Fuller (ADF) để
kiểm định tính dừng và không dừng (unit roots or non-
stationary tests) của các
chuỗi thời gian sử dụng trong mô hình, và tiếp
tục sử dụng phương pháp phân tích
đồng tích hợp (Cointegration) của Engle -
Granger (1987) để đo lường các mối
quan hệ trong dài hạn giữa các biến (quan hệ đồng liên kết). Cuối cùng, tác giả sử
dụng mô hình điều chỉnh sai số ECM (Error Correction Model) để thực hiện khảo
sát mối quan hệ trong ngắn hạn giữa các biến vĩ mô. Từ đó, rút ra kết luận, nhận xét
và đề xuất.
Mô hình nghiên cứu:
3
FFDC + b
4
DTOT + b
5
DINT +
b
6
SER + b
7
DRER + b
8
INFL + b
9
GRATE + b
10
GPUIV + u
2t
Trong đó :
+ GRATE là tỷ lệ tăng trưởng GDP thực
+ Biến INT là tỷ lệ lãi suất
+ Biến EDGDP là tỷ lệ của nợ nước ngoài trên GDP
+ Biến DSR nợ phải trả trên giá trị xuất khẩu
+ Biến FFDC là tài trợ nước ngoài ròng bù đắp thâm hụt
+ Biến PINV tỷ lệ đầu tư tư nhân trên GDP
13
Những nỗ lực giải quyết cuộc khủng hoảng nợ nước ngoài đã không có kết
quả. Kenya đã không thể đạt được mục tiêu trở thành một nước công nghiệp hóa
14
vào năm 2020 mà không có sự hỗ trợ tài chính từ bên ngoài. Kết quả này là sự hỗ
trợ cần thiết cho Kenya để được xem xét các biện pháp giảm nợ toàn diện. Việc đạt
được đồng thời nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế bền vững thật sự khó đạt được
nếu các biện pháp khả thi không được thực hiện. Chính phủ có thể đóng vai trò
quan trọng trong việc kích thích nền kinh tế nếu các nguồn lực thu được từ các
khoản giảm nợ được chú trọng vào đầu tư công một cách hiệu quả thông qua việc
Chính phủ mở rộng khu vực sản xuất tư nhân không những không gây ra sự chèn
lấn cho đầu tư tư nhân mà còn có tác dụng kích thích hiệu ứng đầu tư cùng chiều.
2.2.2 Nghiên cứu của Frimpong, J.M.and Oteng-Abayi,E.F. (2006), “Tác
động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế ở Ghana. Một nghiên cứu
thực nghiệm”
Trọng tâm của nghiên cứu này là đánh giá tác động của nợ nước ngoài đến
tăng trưởng kinh tế của Ghana. Tác giả đã sử dụng bộ dữ liệu thời gian từ năm
1970-1999, để tiến hành các bước thực nghiệm.
Những năm của thập niên 80, Ghana phải đối mặt với một vấn đề nợ rất
nghiêm
trọng, các khoản thanh toán nợ nước ngoài là 577.000.000 USD (114%
GDP) vào cuối năm 1982. Cuộc khủng hoảng nợ này là do sự tăng vọt giá dầu trên
thị trường quốc tế, và việc tăng lãi suất cho vay ở các nước phương Tây, trong bối
cảnh các chính sách kinh tế và quản lý kinh tế trong nước yếu kém. Vào cuối năm
2000, nợ của Chính phủ Ghana và nợ bảo lãnh đã lên đến 6 tỷ USD, chiếm khoảng
571% của doanh thu tài chính, 157% xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ và 78% của
GDP.
1
lnEDT
t
+ α
2
lnTDS
t
+ α
3
lnINV
t
+ α
4
lnFDI
t
+ α
5
EXP
t
+ ε
t
Trong đó :
+ Biến Y là biến phụ thuộc đại diện cho mức tăng trưởng kinh tế;
+ Biến EDT là tỷ số giữa tổng số nợ nước ngoài trên GDP;
+ Biến FDI là tỷ lệ đầu tư trực
tiếp nước ngoài trên GDP;
+ Biến INV là tỷ lệ đầu tư trong nước trên GDP;
+ Biến TDS là tỷ lệ nợ phải trả trên xuất khẩu (%)
+ Biến EXP là chỉ tiêu đại diện cho biến đo lường độ mở của nền kinh tế (%)
Mặc dù, tình hình chính trị thường xuyên bất ổn nhưng Pakistan có tốc độ
tăng
trưởng kinh tế rất cao. Tuy nhiên, Pakistan lại thường xuyên phải đối mặt với
vấn
đề nghiêm trọng trong cán cân thanh toán do thâm hụt ngân sách. Để giải
quyết
thâm hụt cán cân thanh toán quốc gia họ đã dựa vào nợ nước ngoài. Do quá
phụ thuộc
vào nguồn lực bên ngoài và không kiểm soát được nguồn vốn vay,
Ngân hàng Thế giới đã
phân loại Pakistan là quốc gia mắc nợ nghiêm trọng của
Nam Á vào năm 2001. Nợ nước ngoài của Pakistan bình quân trên 50% GDP.
Pakistan đã được sắp xếp lại nợ nước ngoài hai lần giữa năm 1998 và 2001 bởi vì
nước này không thể trả nợ nước ngoài. Trong đó nợ nước ngoài năm 1972-1973 là
4.385 triệu USD đã tăng lên 29.630 triệu USD (năm 2005-2006) cho thấy một sự
gia tăng liên tục nợ nước ngoài. Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng mô hình như
sau:
GDP = α
0
+ α
1
ED + α
2
DS + u
t
Trong đó :
+ Biến GDP là biến phụ thuộc đại cho tổng sản phẩm quốc nội ;
+ Biến ED là biến tổng nợ nước ngoài
+ Biến DS là biến nợ phải trả.
Để đo lường các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế trong mô hình