BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VŨ TRUNG DŨNG
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ
HỮU ĐẾN MỨC ĐỘ SỬ DỤNG NỢ CỦA DOANH
NGHIỆP NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tôi cam đoan rằng luận văn “Nghiên cứu thực nghiệm về tác động của cấu trúc
sở hữu lên mức độ sử dụng nợ của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam” là
nghiên cứu của chính tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Ngọc Định.
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi xin
cam đoan rằng luận văn này chưa từng được công bố hoặc sử dụng để nhận bất kỳ
bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác.
Không có nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà
không được trích dẫn theo đúng quy định. Tác giả
Vũ Trung Dũng
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ ĐỒ THỊ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
3.4 Lý giải các kết quả nghiên cứu 46
PHẦN KẾT LUẬN 52
Kết luận 52
Giới hạn và đề xuất nghiên cứu 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 1: DANH SÁCH CÁC DOANH NGHIỆP LẤY MẪU 59
PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ HỒI QUY MÔ HÌNH 2 (POOLED OLS, REM VÀ FEM)
VÀ CÁC KIỂM ĐỊNH LỰA CHỌN MÔ HÌNH 62
PHỤ LỤC 3: KẾT QUẢ HỒI QUY MÔ HÌNH 3 (POOLED OLS, REM VÀ FEM)
VÀ CÁC KIỂM ĐỊNH LỰA CHỌN MÔ HÌNH 68 DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ ĐỒ THỊ
Bảng 2.1: Tổng hợp các biến sử dụng trong mô hình nghiên cứu
Bảng 3.1: Phân loại các doanh nghiệp lấy mẫu theo lĩnh vực hoạt động
định bốn giả thuyết khác nhau về quan hệ giữa sở hữu của nhóm các cổ đông lớn
bên ngoài, nhóm các cổ đông quản trị điều hành lên mức độ sử dụng nợ của doanh
nghiệp. Các kết quả thu được cung cấp bằng chứng về một đường cong quan hệ
giữa tỷ lệ sở hữu của các cổ đông quản trị điều hành với mức độ sử dụng nợ của
doanh nghiệp.
Từ khóa: Cấu trúc sở hữu; Cấu trúc vốn; Chi phí đại diện
Giới thiệu chung
Kể từ khi Modigliani và Miller (1958) đưa ra mối liên hệ độc lập giữa các quyết
định tài chính và giá trị doanh nghiệp, các nhà kinh tế học tài chính đã dành sự quan
tâm đáng kể cho việc phân tích các biến số liên quan đến cấu trúc vốn. Gần đây, có
khá nhiều các công trình nghiên cứu đứng trên góc độ quản trị điều hành doanh
nghiệp để nỗ lực tìm kiếm lời giải cho các biến số tác động lên các quyết định về
cấu trúc vốn. Dưới góc độ quản trị điều hành, các quyết định về cấu trúc vốn không
2chỉ phụ thuộc bởi các nhân tố rủi ro trong hoạt động mà còn phụ thuộc vào mục
đích, các mối liên hệ và mong muốn của các nhà quản trị doanh nghiệp.
Sử dụng những giả định hợp lý dựa trên các nghiên cứu về chi phí đại diện, các
lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm đưa ra kết luận cho rằng các nhà quản trị, là
những người phải gánh chịu rủi ro về nhân sự - vốn không thể được đa dạng hóa
trong hoạt động của doanh nghiệp, có động lực mạnh mẽ để giảm thiểu loại rủi ro
này bằng việc duy trì hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Amihud và Lev, 1981).
Một cách thức khác để giảm thiểu rủi ro này là việc giảm việc sử dụng nợ của
doanh nghiệp (Friend and Lang, 1988).
Các kết quả của việc phát triển lý thuyết về chi phí đại diện gần đây cũng chỉ ra
rằng cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp có thể tác động lên kết quả hoạt động của
doanh nghiệp bằng việc giảm mâu thuẫn đại diện giữa các nhà quản trị và cổ đông
của doanh nghiệp (Putterman, 1993). Các doanh nghiệp có sự khác biệt về mức độ
sở hữu tập trung giữa các cổ đông tham gia bên trong và các nhà đầu tư bên ngoài.
tác động của cổ đông tham gia quản trị doanh nghiệp và nhóm các cổ đông lớn bên
ngoài lên đòn bẩy tài chính. Ngoài ra, đa số các nghiên cứu về cấu trúc vốn hiện nay
đều được xây dựng trên dữ liệu của thị trường Mỹ. Số lượng các nghiên cứu đóng
góp bằng chứng thực nghiệm bên ngoài thị trường Mỹ là rất hạn chế.
Luận văn sử dụng khung nghiên cứu về chi phí đại diện để phát triển các giả
thuyết kiểm định. Thứ nhất, mô hình về quyền sở hữu của các cổ đông lớn bên
ngoài được đưa ra để khảo sát ra tác động của quyền sở hữu của các cổ đông lớn
bên ngoài lên ưu tiên của các nhà điều hành để giảm rủi ro về nhân sự và do vậy có
hành vi điều chỉnh tỷ lệ nợ của doanh nghiệp. Thứ hai, mô hình về quyền sở hữu
của các cổ đông điều hành cho thấy tác động của quyền sở hữu của các cổ đông
điều hành lên tỷ lệ nợ. Thứ ba, luận văn sử dụng một mô hình kết hợp tác động của
cả hai nhóm quyền sở hữu của cổ đông bên ngoài và cổ đông quản trị điều hành lên
quyết định tài trợ của doanh nghiệp.
Luận văn bao gồm các phần như sau: Chương 1 đưa ra các cơ sở lý luận và
nghiên cứu thực nghiệm xem xét vai trò của các cổ đông lớn bên ngoài và các cổ
đông quản trị điều hành lên các quyết định tài chính của doanh nghiệp. Chương 2
tập trung xây dựng các mô hình kiểm định và Chương 3 sẽ trình bày các kết quả
thực nghiệm thu thập được cũng như đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo cho đề tài
này.
2
Các cổ đông lớn bên ngoài ở đây được định nghĩa là các cổ đông sở hữu số lượng lớn cổ phần của doanh
nghiệp tuy nhiên không tham gia vào các hoạt động quản trị điều hành doanh nghiệp.
4CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ
GIỮA CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ CẤU TRÚC VỐN
1982 và Easterbrook, 1984). Phát hành thêm cổ phầm làm tăng khả năng vốn cổ
phần bên ngoài nắm giữ được gia tăng. Khi tăng vốn cổ phần bên ngoài, các nhà
quản trị sẽ bị theo dõi bởi Ủy ban Chứng khoán Mỹ (SEC), ngân hàng đầu tư và các
cổ đông cung cấp khoản vốn mới này. Sự theo dõi này là làm cho các nhà quản trị
với nỗ lực duy trì công việc của mình sẽ hành động nhiều hơn cho lợi ích của các cổ
đông.
Cách thứ ba để giảm chi phí đại diện là tăng việc tài trợ bằng nợ (Jensen và
Meckling, 1986). Tăng việc sử dụng nợ vay đồng nghĩa giảm tổng số vốn cổ phần
công ty sử dụng, từ đó giảm xung đột giữa các nhà quản lý và cổ đông. Tuy nhiên,
việc tài trợ nợ có thể dẫn đến xung đột giữa các cổ đông và các trái chủ, từ đó phát
sinh chi phí đại diện của việc sử dụng nợ. Một trong những vấn đề liên quan đến các
trái chủ là các cổ đông thường tìm cách gia tăng giá trị tài sản của mình bằng việc
gia tăng rủi ro thông qua các quyết định đầu tư mạo hiểm. Mayer (1977) nhấn mạnh
một xung độ khác sẽ phát sinh nếu công ty buộc phải lựa chọn các khoản đầu tư.
Lúc này, các nhà quản trị có thể sẽ từ bỏ các quyết định đầu tư mang lại lợi ích cho
các trái chủ hơn là lợi ích của các cổ đông. Các chi phí đại diện của nợ khác rõ ràng
hơn như chi phí phá sản và các loại chi phí kèm theo khác như việc các trái chủ phải
kiếm tìm sự phòng vệ (Smith and Warner,1979).
Chi phí đại diện vốn cổ phần và nợ nói cho cùng đều làm giảm giá trị của doanh
nghiệp. Để giảm thiểu các loại chi phí này, các nhà quản trị có thể lựa chọn các
chính sách tài trợ hỗn hợp ít tốn kém chi phí nhất và phù hợp với chính sách hoạt
động của doanh nghiệp. Lúc này, các nhà quản trị sẽ có xu hướng ưu tiên lựa chọn
các quyết sách làm gia tăng lợi ích cá nhân của họ và áp lực cạnh tranh của thị
trường.
61.2 Sở hữu của các cổ đông bên ngoài và cấu trúc vốn
Các lý thuyết xung quanh vai trò của các cổ đông lớn nhấn mạnh rằng các cổ
đông lớn bên ngoài luôn hướng tới việc giám sát và tác động đến hoạt động quản trị
gia tăng, quyền biểu quyết và khả năng ảnh hưởng cũng gia tăng, mang đến cho họ
khả năng trong việc kiểm soát hoạt động của các nhà quản trị. Khi việc sử dụng nợ
có thể coi như một công cụ để kiểm soát nội bộ đối với hoạt động quản trị điều hành
thì gia tăng tỷ lệ nợ làm gia tăng khả năng giám sát của của các cổ đông lớn bên
ngoài doanh nghiệp. Lập luận này dẫn tới giả thuyết thứ nhất: Các doanh nghiệp có
mức độ sở hữu của các cổ đông lớn bên ngoài cao hơn thì tương ứng sẽ có mức độ
sử dụng nợ cao hơn.
Giả thuyết về việc giám sát hoạt động của Shleifer và Vishny (1986), đã được
kiểm tra bởi Pound (1988). Ông lập luận rằng các cổ đông lớn có thể là những
người bỏ phiếu thụ động bị dẫn dắt bởi những người bên trong công ty chống lại lợi
ích của các cổ đông nhỏ lẻ và phân tán. Các bằng chứng hỗ trợ cho lý thuyết người
bỏ phiếu thụ động (passive voters hypothesis) được cung cấp bởi nghiên cứu
McConnell và Servaes (1990) về mối quan hệ giữa các cổ đông lớn và giá trị doanh
nghiệp. Nếu các giả thuyết này mô tả chính xác hơn vai trò có hệ thống của các cổ
đông bên ngoài, đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp có thể liên quan phủ định đến
cấu trúc sở hữu của nhóm các cổ đông này. Do vậy, giả thuyết thứ nhất trong luận
văn này được đưa ra có thể xem như tiến hành kiểm tra thực nghiệm hai quan điểm
liên quan đến vai trò của các cổ đông bên ngoài đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
1.3 Quyền sở hữu của các cổ đông điều hành và các quyết định tài chính
Jensen và Meckling (1976), Fama và Jensen (1986), Shleifer và Vishny (1986),
và nhiều các nhà nghiên cứu khác, đều thống nhất lập luận cho rằng cấu trúc sở hữu
cổ phần có tác động quan trọng đến các ưu tiên trong quản trị điều hành và giá trị
doanh nghiệp. Các lý thuyết nền tảng đều được dựa trên giả định rằng các nhà đầu
tư luôn mong muốn được đầu tư vào danh mục đa dạng hóa để giảm thiểu rủi ro
danh mục. Do nghĩa vụ của cổ đông công ty chỉ giới hạn trong phần vốn góp của
họ, các rủi ro này có thể được đa dạng hóa bởi các khoản đầu tư khác. Tuy nhiên,
8các nhà quản trị doanh nghiệp lại không thể hướng tới mục tiêu về tối thiểu hóa rủi
9diện của dòng tiền tự do như quan điểm của Jensen (1986). Jensen lập luận rằng các
nhà quản trị khi nắm giữ dòng tiền tự do lớn dường như có xu hướng thực hiện các
hoạt động nằm ngoài mục tiêu doanh nghiệp. Grossman và Hart (1980) cho rằng nợ
sẽ thiết lập một cơ chế giám sát có thể được sử dụng để làm giảm thiểu chi phí đại
diện của dòng tiền tự do trong trường hợp này. Đặc biệt là các nghĩa vụ liên quan
đến nợ làm giảm sự quản lý tùy tiện của các nhà quản trị lên dòng tiền tự do và
những ưu tiên của họ nhằm hướng đến các hoạt động nằm ngoài mục tiêu của doanh
nghiệp.
Jensen và Meckling (1976) lập luận rằng quyền sở hữu của cổ đông điều hành
có thể làm giảm thiểu những ưu tiên của các nhà quản trị để thu lợi từ giá trị của các
cổ đông và thực hiện các hành vi gây tổn hại tới giá trị doanh nghiệp. Do vậy, việc
sở hữu cổ phần của các cổ đông điều hành có thể phần nào điều chỉnh được hành vi
của các nhà quản trị và cân bằng được lợi ích giữa các nhà quản trị và cổ đông trong
công ty. Đây là nội dung chính của “lý thuyết cân bằng lợi ích” (convergence of
interest hypothesis).
Lý thuyết về sự cân bằng của lợi ích đã được kiểm tra bởi Fama và Jensen
(1983) và Demsetz (1983) và đã đưa ra kết luận rằng việc sở hữu cổ phần quản trị
điều hành có thể tạo ra các tác động bất lợi lên xung đột về đại diện giữa nhà quản
trị và các cổ đông do chi phí khi nắm giữ số lượng lớn cổ phần của các cổ đông điều
hành. Họ lập luận rằng thay vì giảm thiểu các vấn đề về liên quan đến tư lợi của
người quản trị, sở hữu cổ phần của các cổ đông quản trị điều hành có thể núp dưới
danh nghĩa của đội ngũ quản trị đương nhiệm làm gia tăng chủ nghĩa cơ hội trong
việc quản trị doanh nghiệp.
Sự kết hợp giữa giả thuyết về sự cân bằng lợi ích và sự núp bóng cho ta ý tưởng
về đường cong quan hệ giữa sở hữu cổ đông điều hành và giá trị doanh nghiệp. Các
nghiên cứu như Morck et al (1988), McConnell và Servaes (1990) và McConnell và
Servaes (1995) tìm thấy mốt quan hệ phi tuyến giữa mức độ sở hữu của các cổ đông
tăng trưởng, giá trị công ty (đo lường bởi Tobin’s Q) có tương quan dương với mức
độ sử dụng đòn bẩy tài chính, các công ty có nhiều cơ hội tăng trưởng hơn cho thấy
11có tương quan âm với đòn bẩy tài chính. Do đó, có lý do để tin rằng có mối quan hệ
giữa quyền sở hữu của cổ đông điều hành và cấu trúc vốn.
Các giả thuyết về sự cân bằng lợi ích và hiệu ứng núp bóng có thể được áp dụng
để giải thích xung đột giữa nhà quản trị và các cổ đông. Berger và các cộng sự
(1997) trong một nghiên cứu về hành vi của các CEO và mức độ sử dụng nợ đã cho
thấy các nhà quản trị núp bóng thường tìm cách né tránh sử dụng nợ. Điều này đồng
nghĩa với các quyết định tài chính của công ty có thể bị ảnh bởi hưởng các nhà quản
trị đồng thời là cổ đông trong công ty. Các chứng cứ thực nghiệm hỗ trợ cho lập
luận rằng các quyết định về cấu trúc vốn liên quan tới vấn đề đại diện cũng được
cung cấp bởi nghiên cứu của Johnson (1997) đưa ra về hiệu ứng giám sát ảnh hưởng
tới các quyết định tài trợ nợ của doanh nghiệp.
Sử dụng các giả thuyết về hội tụ lợi ích và hiệu ứng núp bóng, có thể dự đoán
mối quan hệ giữa quyền sở hữu của các cổ đông điều hành và tỷ lệ nợ biểu hiện
dưới dạng đường cong. Theo đó, khi quyền sở hữu của các cổ đông quản trị điều
hành ở mức độ thấp, việc sở hữu cổ phần này làm cho lợi ích của các nhà quản trị
và cổ đông tương đồng, dẫn đến sự gia tăng trong mức độ sử dụng nợ. Tuy nhiên,
khi các nhà quản trị nắm giữ số lượng đủ lớn cổ phần trong công ty, quyền sở hữu
của các cổ đông điều hành gia tăng dẫn tới sự núp bóng của các nhà quản trị trong
việc điều hành doanh nghiệp. Thông thường, khi mức độ sở hữu của các cổ đông
điều hành quá cao, sẽ có những mâu thuẫn trong hành vi của nhà quản trị, dẫn đến
việc gia tăng thực hiện các hành động vì lợi ích cá nhân và giảm mức độ sử dụng
nợ. Do đó, có thể dự đoán được mối quan hệ giữa quyền sở hữu của các cổng đông
điều hành và xung đột đại diện là đường cong dưới tác động của động cơ quản trị
ban đầu giảm xuống, sau gia tăng khi mức độ sở hữu của các cổ đông điều hành gia
tăng.
đưa ra trong các giả thuyết nêu trên đều có khả năng làm giảm thiểu các hành vi tư
lợi của nhà quản trị. Các lập luận này đưa tới giả thuyết nghiên cứu thứ ba: Khi
quyền sở hữu của các cổ đông điều hành ở mức độ thấp, mức độ sở hữu của các cổ
đông bên ngoài có tương quan dương với tỷ lệ nợ của doanh nghiệp.
4
Friend và Lang (1988) định nghĩa các cổ đông không điều hành như là các nhà đầu tư nắm giữ từ 10% cổ
phần của doanh nghiệp trở lên.
5
Ngoại trừ nghiên cứu của McConnell và Servaes (1995) đã bao gồm quyền sở hữu của các cổ đông tổ chức,
sở hữu của các cổ đông điều hành và đòn bẩy tài chính trong một mô hình nhưng lại tập trung vào giải thích
biến số giá trị doanh nghiệp.
13Khi sở hữu của các cổ đông điều hành ở mức độ cao, hiệu ứng giám sát của các
cổ đông lớn bên ngoài bị lấn át bởi hiệu ứng núp bóng phát sinh từ mức độ sở hữu
lớn của các cổ đông điều hành doanh nghiệp. Do vậy, tác động của các cổ đông lớn
bên ngoài nhằm giảm thiểu tư lợi của các nhà quản trị bị giảm sút. Khi các nhà quản
trị có quyền kiểm soát lớn, các cổ đông bên ngoài không thể tự vệ bảo tài sản của
mình khỏi các hành vi thu lợi từ các nhà quản trị doanh nghiệp. Kết quả là lúc này,
quyền sở hữu của các cổ đông bên ngoài và quyền sở hữu của các cổ đông điều
hành mang đến những tác động trái ngược nhau.
Nếu tác động núp bóng của các cổ đông quản trị điều hành vượt trội so với tác
động kiểm soát của các cổ đông bên ngoài doanh nghiệp, tương quan dương giữa
quyền sở hữu của các cổ đông bên ngoài và mức độ sử dụng nợ sẽ bị giảm sút. Mức
độ sụt giảm này còn phụ thuộc vào độ lớn của hiệu ứng núp bóng. Nếu hiệu ứng
núp bóng lấn át hoàn toàn hiệu ứng kiểm soát, quan hệ giữa các cổ đông bên ngoài
và hệ số nợ là không còn nhiều tác động. Do nhiều tác động tổng hợp, việc dự đoán
tương quan giữa mức độ sở hữu của các cổ đông lớn bên ngoài và tỷ lệ nợ của
nước, các công ty cổ phần chi phối bởi các cá nhân hay nhóm cổ đông, doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài…).
Thông tin cần thiết cho việc khảo sát được thu thập từ báo cáo tài chính được
kiểm toán, báo cáo thường niêm và bản cáo bạch niêm yết hoặc phát hành thêm của
doanh nghiệp. Theo đó:
- Báo cáo thường niên và bản cáo bạch cung cấp các thông tin về cổ đông và
cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp, thông tin về hội đồng quản trị và ban giám đốc.
- Báo cáo tài chính đã kiểm toán cung cấp các số liệu về tình hình tài chính
trong năm của doanh nghiệp: doanh thu, lợi nhuận, tài sản, vay nợ…
15Báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của doanh nghiệp được thu thập liên
tục trong vòng 05 năm từ năm 2008 đến năm 2012. Do vậy, nghiên cứu này chỉ sử
dụng dữ liệu của các doanh nghiệp niêm yết từ năm 2009 trở về trước, các doanh
nghiệp niêm yết từ sau 2009 bị loại trừ.
Số lượng các doanh nghiệp niêm yết đến năm 2008 là 335 doanh nghiệp, đến
năm 2009 là 457 doanh nghiệp, tăng hơn 120 doanh nghiệp so với năm 2008, trong
đó HNX chiếm hơn 100 doanh nghiệp. Tác giả loại bỏ toàn bộ các doanh nghiệp
hoạt động trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng do đặc thù cấu trúc vốn trong ngành
tương đối khác biệt. Việc thu thập mẫu là các doanh nghiệp được tập trung chủ yếu
vào nhóm ngành sản xuất và thương mại do tính chất phổ biến. Sau khi chọn lọc,
mẫu bao gồm 137 doanh nghiệp niêm yết đáp ứng đủ yêu cầu được chọn.
Dữ liệu về cổ đông công ty được thu thập từ báo cáo thường niên, thực hiện
theo mẫu BCTN 02 ban hành kèm thông tư số 38/2007/TT-BTC ngày 18/04/2007
của Bộ Tài chính hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán.
Tuy nhiên, một số trường hợp báo cáo thường niên không cung cấp đủ thông tin về
cổ đông công ty. Sau khi sàng lọc và tập hợp dữ liệu, mẫu cuối cùng bao gồm 90
doanh nghiệp niêm yết. Chi tiết về các doanh nghiệp lấy mẫu được đề cập chi tiết
tại Phụ lục 1.
- Dữ liệu bảng có thể phát hiện và đo lường tốt hơn những ảnh hưởng mà
không thể quan sát trong dữ liệu chuỗi thời gian thuần túy hay dữ liệu chéo theo
không gian thuần túy.
- Dữ liệu bảng giúp ta nghiên cứu những mô hình hành vi phức tạp hơn. Ví dụ,
các hiện tượng như lợi thế kinh tế theo quy mô hay thay đổi kỹ thuật có thể được
xem xét thông qua dữ liệu bảng tốt hơn so với dữ liệu theo chuỗi thời gian thuần túy
hay theo không gian thuần túy
17- Bằng cách thu thập những số liệu có sẵn cho vài nghìn đơn vị, dữ liệu bảng
có thể tối thiểu hóa sự thiên lệch có thể xảy ra nếu ta tổng hợp các cá nhân hay
doanh nghiệp thành số liệu tổng.
Như vậy, dữ liệu bảng có thể làm phong phú thêm các phân tích thực nghiệm
theo những cách thức mà dữ liệu theo chuỗi thời gian hay không gian thuần túy khó
đạt được. Các phương pháp hồi quy dữ liệu bảng được áp dụng phổ biến hiện nay là
mô hình Pool OLS, mô hình hồi quy tác động cố định (Fixed Effects Model - FEM)
và mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model - REM):
Mô hình hồi quy Pooled OLS:
Mô hình Pooled OLS được sử dụng với các giả định là không có sự khác biệt về
không gian và thời gian của từng đơn vị quan sát quan sát. Do vậy, trong mô hình
Pooled tung độ gốc và độ dốc của các hệ số được giả định không đổi theo thời gian
và theo từng đơn vị quan sát. Theo Guajarati (1997), cách tiếp cận đơn giản nhất là
định lượng dữ liệu mẫu bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường
(phương pháp OLS). Do đó, mô hình Pool OLS được biểu diễn như sau:
Y
it
= β
1
+ β
Y
it
= β
it
+ β
2
X2
it
+ β
3
X3
it
+ … + β
k
Xk
it
+ u
it
(FEM)
Mô hình này có thể tách thành hai mô hình như sau:
Y
it
= β
1t
+ β
2
X2
it
+ β
3
tác động cố định kiểm soát những biến không quan sát giống nhau giữa các đơn vị
quan sát nhưng khác nhau khi thời gian thay đổi. Những tác động theo thời gian này
có thể là do tình hình kinh tế hay chính sách của nhà nước đổi với các doanh
nghiệp.
Mô hình (FEM_b) giả định tung độ gốc chung của mô hình thay đổi nhưng độ
dốc của các đơn vị chéo không. Ý nghĩa của tác động cố định là dù tung độ gốc
khác nhau giữa các đơn vị quan sát nhưng nó lại không thay đổi theo thời gian.
Những ảnh hưởng làm thay đổi tung độ gốc lúc này có thể do sự khác biệt về đặc
thù hay phong cách quản lý doanh nghiệp.
Mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model – REM):
Trong mô hình hồi quy tác động cố định, những yếu tố không quan sát được
xem như là tham số và được ước lượng. Tuy nhiên, ở mô hình tác động ngẫu nhiên
các yếu tố không quan sát được xem như là kết quả của các biến ngẫu nhiên. Ý
tưởng này được bắt nguồn từ mô hình (FEM_b), thay vì xử lý β
1i
cố định, chúng ta
19giả định nó như biến ngẫu nhiên có giá trị β
1
và giá trị tung độ gốc của đơn vị chéo
được biểu diễn:
β
1i
= β
1
+ ε
i
với i = 1, 2, 3… N và ε