ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
TRƯƠNG BÁ KIÊN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA TƯƠNG TÁC ĐẠI DƯƠNG
KHÍ QUYỂN ĐẾN CƯỜNG ĐỘ VÀ QUỸ ĐẠO BÃO BẰNG MÔ
HÌNH HWRF
Chuyên ngành: Khí tượng và Khí hậu học
Mã số: 60 44 87
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HOÀNG ĐỨC CƯỜNG
Hà Nội - 2012
DANH MỤC BẢNG 5
MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ DỰ BÁO CƯỜNG ĐỘ VÀ QUỸ ĐẠO BÃO
BẰNG MÔ HÌNH KHÍ QUYỂN ĐẠI DƯƠNG 8
1.1. Tổng quan về tình hình dự báo bão bằng mô hình số trị trên thế giới 8
1.1.1 Lịch sử phát triển dự báo số trị đối với dự báo thời tiết và bão. 8
1.1.2 Mô hình số trị toàn cầu 8
1.1.3 Mô hình dự báo số trị khu vực có thể dự báo bão 10
1.1.4 Một số mô hình số trị chuyên dự báo bão 11
1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của tương tác khí quyển đại
dương tới cường độ và quỹ đạo bão 14
1.2.1 Trên thế giới 14
1.2.2 Trong nước 17
CHƯƠNG II. MÔ HÌNH TƯƠNG TÁC KHÍ QUYỂN ĐẠI DƯƠNG TỚI DỰ
BÁO CƯỜNG ĐỘ, QUỸ ĐẠO BÃO VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ 20
2.1 Mô hình WRF 20
2.1.1 Tổng quan về mô hình WRF 20
2.1.2 Cấu trúc của mô hình WRF 21
2.1.3 Các quá trình vật lý trong mô hình 22
2.2. Mô hình ROMS 28
2.2.1 Hệ toạ độ thích ứng địa hình
29
2.2.2 Phương pháp tính 30
a) Sai phân theo không gian 30
b) Sai phân theo thời gian 31
2.2.3 Tham số hoá 31
DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
AFWAM: Air Force WWMCCS ADP Modernization
ATE: Along Track Error
ATNĐ: Áp thấp nhiệt đới
AVN: Aviation Model
COADS: Comprehensive Ocean-Atmospheric Data Set
COAMPS: The Coupled Ocean/Atmosphere Mesoscale Prediction System
COAWST: Coupled-Ocean-Atmosphere-Wave-Sediment Transport
CSTMS: Community Sediment Transport Modeling Systems
CTE: Cross Track Error.
ECMWF: The European Centre for Medium-Range Weather Forecasts
ETA: Mô hình Ê-ta
GDAS: Global Data Assimilation System
GEFS: Global Ensemble Forecast System
GEM: Global Environmental Multiscale Model
GEM: Global Environmental Multiscale Model
GFDL: Geophysical Fluid Dynamics Laboratory
GFDN: The US Navy version of GFDL
GFS : Global Forecast System
GME: Global Model Europe
GSM: Global System Model
HRM: High Resolution Regional Model
HWRF: Hurricane Weather Research and Forecast
JTYM: Japan Typhoon Model
KMA: Korea Meteorological Administration
KTTV: Khí tượng thủy văn
LBAR :Limited_Area Sine Transform Barotropic Track Model
MCT: Model Coupling Toolkit
Hình 2.5. Miền tính dự báo 38
Hình 3.1. Độ chênh lệch SST giữa WRF-ROMS và WRF ứng với hạn dự báo 00h,
12h và 24h 42
Hình 3.2. Độ chênh lệch SST giữa WRF-ROMS và WRF ứng với hạn dự báo 36h và
48h
43
Hình 3.3. Độ chênh lệch SST giữa WRF-ROMS và WRF ứng với hạn dự báo 00h,
12h và 24h 43
Hình 3.4. Độ chênh lệch SST giữa WRF-ROMS và WRF ứng với hạn dự báo 36h,
48h và 72h 44
Hình 3.5. Độ chênh lệch SST giữa WRF-ROMS và WRF ứng với hạn dự báo 00h,
12h và 24h 45
Hình 3.6. Độ chênh lệch SST giữa WRF-ROMS và WRF ứng với hạn dự báo 36h,
48h và 72h 45
Hình 3.7. Độ chênh lệch SLP giữa WRF-ROMS và WRF tại thời điểm 00Z 46
Hình 3.8. Độ chênh lệch SLP giữa WRF-ROMS và WRF tại hạn dự báo 12h và 24h
46
Hình 3.9. Độ chênh lệch SLP giữa WRF-ROMS và WRF tại hạn dự báo 36h và 48h
47
Hình 3.10. Độ chênh lệch SLP giữa WRF-ROMS và WRF tại thời điểm 00Z 47
Hình 3.11. Độ chênh lệch SLP giữa WRF-ROMS và WRF tại hạn dự báo 12h và
24h 48
Hình 3.12. Độ chênh lệch SLP giữa WRF-ROMS và WRF tại hạn dự báo 12h và
24h 49
Hình 3.13. Độ chênh lệ
ch SLP giữa WRF-ROMS và WRF tại thời điểm 00Z 49
Hình 3.14. Độ chênh lệch SLP giữa WRF-ROMS và WRF tại hạn dự báo 12h và
24h 50
Hình 3.15. Độ chênh lệch SLP giữa WRF-ROMS và WRF tại hạn dự báo 48h và
(2010082300Z). 59
Hình 3.29. Sai số khoảng cách (a), dọc (c) , ngang (d) trung bình và quỹ đạo (b)
bão Nock-ten (2011072700Z). 60
Hình 3.30. Sai số khoảng cách (a), dọc (c) , ngang (d) trung bình và quỹ đạo (b)
bão Nalgae (2011100200Z). 61
Hình 3.31. Sai số khoảng cách (a), dọc (b) , ngang (c) trung bình. 62
Hình 3.32 SLP min trung bình và ME của SLP min 62
5
DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1: Tùy chọn vật lí vi mô trong WRF 23
Bảng 1.2: Một số tùy chọn tham số hóa đối lưu mây tích trong mô hình WRF 24
Bảng 1.3: Tùy chọn bề mặt đất trong WRF 24
Bảng 1.4. Tùy chọn sơ đồ bức xạ trong WRF 26
Bảng 2.1 Gianh giới các lớp nước (m) tại các độ sâu khác nhau 386
MỞ ĐẦU
Hàng năm Việt Nam chịu thiệt hại rất nặng nề do thiên tai như lũ lụt, hạn hạn,
rét đậm, rét hại… và trong đó phải kể đến thiên tai do bão-áp thấp nhiệt đới gây
thiệt hại lớn về người và của cho nước ta. Chính vì vậy, yêu cầu về dự báo và cảnh
báo bão chính xác, kịp thời cường độ và quỹ đạo bão là một trong những nhiệm vụ
quan trọng hàng
đầu đối với cơ quan dự báo nghiệp vụ nhằm đưa ra các cảnh báo
hướng tới thử nghiệm dự báo quỹ đạo và cường độ bão cho Việt Nam.
Nội dung của luận văn gồm có:
Mở đầu
Chương I. Tổng quan về dự báo quỹ đạo và cường độ bão bằng mô hình khí
quyển đại dương
Chương II. Hệ thống mô hình tương tác khí quyển đại dương tới quỹ đạo và
cường độ bão và phương pháp đánh giá.
Chương III. Đánh giá ảnh hưởng tương tác khí quyển đại dương tới quỹ đạo
và cường độ bão
K
ết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo.
8 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ DỰ BÁO CƯỜNG ĐỘ VÀ QUỸ ĐẠO BÃO
BẰNG MÔ HÌNH KHÍ QUYỂN ĐẠI DƯƠNG
1.1. Tổng quan về tình hình dự báo bão bằng mô hình số trị trên thế giới
1.1.1 Lịch sử phát triển dự báo số trị đối với dự báo thời tiết và bão.
Hiện nay, ở các nước phát triển phương pháp số là phương pháp dự báo thời
tiết chính thống. Ở Châu Âu, Mỹ và các nước phát tri
ển phương pháp này bắt đầu
phát triển từ những năm 50 của thế kỷ XX, trong đó sự đầu tư cao nhất cho hướng
nghiên cứu phát triển này của Liên minh Châu Âu được tập trung ở Trung tâm Dự
báo thời tiết hạn vừa Châu Âu (ECMWF). Tuy nhiên, cho đến trước những năm 80
của thế kỷ XX, các nghiên cứu phát triển về lý thuyết cũng như ứng dụng chủ yếu
vẫn chỉ quan tâm đến các khu v
ực ngoại nhiệt đới của Châu Âu và Mỹ. Trong
những thập niên 1980-1990 cùng với sự phát triển của khoa học máy tính và sự đầu
tư phối hợp phát triển các mô hình số trị từ các nước có ngành dự báo số phất triển
hệ tọa độ áp suất theo địa hình và chủ yếu là giaiar các phương trình bằng phương
pháp ước lượng phi thủy tĩnh.
IFS (Integrated Forecast System) được phát triển bở
i Trung tâm Dự báo
thời tiết hạn vừa Châu Âu (ECMWF) hay được gọi là mô hình Châu Âu. IFS là mô
hình toàn cầu dự báo nghiệp vụ có hạn dự báo 10 ngày với khoảng 51 thành phần
dự báo được tổ hợp.
UM (Unified Model) là mô hình toàn cầu được phát triển bởi Cơ quan Khí
tượng Anh Quốc.
GME (Global Model Europe) được phát triển bởi Cục khí tượng Đức và là
mô hình thuỷ tĩnh được xây dựng trên sáu phương trình nguyên thuỷ với sáu biến.
ARPEGE là mô hình số trị toàn cầ
u được phát triển bởi Cơ quan Khí tượng
Pháp …
10
1.1.3 Mô hình dự báo số trị khu vực có thể dự báo bão
Một số mô hình dự báo số trị khu vực như:
Mô hình ETA là mô hình dự báo khu vực với độ phân giải cao từ vài chục
đến vài km. Chính vì vậy, mô hình này có khả năng dự báo chi tiết đến từng khu
vực nhỏ. Tên gọi của mô hình ETA gắn liền với hệ toạ độ thẳng đứng của nó-hệ toạ
độ ETA (
). Hệ toạ độ này được xây dựng cho mục đích chính là tính ảnh hưởng
của các tác động địa hình ở những khu vực núi tới mô hình.
Mô hình khu vực phân giải cao HRM (High Resolution Regional Model)
là mô hình số thuỷ tĩnh, dự báo thời tiết khu vực quy mô vừa -, -. HRM dùng toạ
độ lai theo trục đứng, hệ toạ độ ngang quay (’, ’) và do đó cần phải chuyển đổi
qua lại giữa toạ độ địa lý (
Nghiên cứu Khí quyển Mỹ-NCAR) đã cho thấy rằng mô hình MM5 có thể sử dụng
tốt trong mô phỏng và dự đoán các đặc trưng của xoáy thuận nhiệt đới; đây là cơ sở
quan trọng trong dự báo mưa lớn, gây nên bởi xoáy thuận nhiệt đới ở những khu
vực chịu ảnh hưởng của nhiễu động khí quyển. Tại Hồng Kông, Đài Loan, mô hình
MM5 được sử dụng như một công ngh
ệ chính trong dự báo thời tiết. Mô hình MM5
ngừng phát triển từ năm 2004.
Mô hình RAMS (Regional Atmospheric Modeling System) là mô hình mây
quy mô vừa-CSU và mô hình mây thuỷ tĩnh đã được kết hợp với nhau, phiên bản
đầu tiên của một hệ thống mô hình khí quyển khu vực (RAMS). Đến năm 1986,
toàn bộ mã nguồn của RAMS được viết lại để loại bỏ những tính chất không còn
thích hợp trong mô hình và đồng thời đưa vào các tham số hoá mới từ mô hình gió
đất biển. Mô hình RAMS có nhi
ều lựa chọn để có khả năng ứng dụng rộng rãi cho
các mục đích khác nhau. Trong mô hình có thể lồng nhiều miền tính khác nhau với
độ phân giải có thể từ vài chục kilômét đến vài trăm mét. Vì vậy, nó có thể mô
phỏng chi tiết được các hệ thống khí quyển quy mô nhỏ như là dòng chuyển động
trên các địa hình phức tạp, các hoàn lưu nhiệt bề mặt.v.v lưới thô hơn bên ngoài sử
dụng để mô phỏng các quá trình quy mô l
ớn và cung cấp điều kiện biên phụ thuộc
thời gian cho các lưới tinh bên trong. Hệ phương trình của mô hình RAMS là hệ
phương trình bất thuỷ tĩnh như mô tả của Tripoli và Cotton (1982); các biến dự báo
là u, v, w, nhiệt độ thế, tỉ số xáo trộn. Một số lựa chọn cho việc tham số vật lý trong
mô hình như mô hình đất của Tremback và Kessler (1985), tham số hoá bức xạ theo
sơ đồ của Mahrer và Pielke (1977) và tham số hoá đối lưu theo sơ
đồ Kuo (1974) và
một số sơ đồ khác.
1.1.4 Một số mô hình số trị chuyên dự báo bão
Mô hình đầu tiên được đưa vào dự báo quĩ đạo bão nhiệt đới nghiệp vụ là
mô hình chính áp SANBAR (Sanders Barotropic Hurricane Track Forcast Model).
1997)
Một mô hình chính áp dự báo quĩ đạo bão khá thành công gần đây được phát
triển bởi Weber (2001) (WBAR). WBAR gồ
m 2 phần chính: (1) ban đầu hóa xoáy
nhằm loại bỏ xoáy thiếu chính xác trên trường phân tích toàn cầu và xây dựng xoáy
nhân tạo làm đầu vào cho mô hình; (2) mô hình số tích phân hệ phương trình nước
nông trên tọa độ địa lý sử dụng các biến trung bình lớp. WBAR đã được thử nghiệm
cho 167 trường hợp bão Đại Tây Dương và đã khẳng định được kỹ năng dự báo quĩ
13
đạo bão tương đối tốt, tuy thế cũng thể hiện nhược điểm của mô hình chính áp là sự
tăng lên của sai số vị trí khi các hệ thống tà áp phát triển.
Có thể nói, các mô hình chính áp với cấu trúc đơn giản, gọn nhẹ, dễ dàng cài
xoáy hai chiều tương ứng với xoáy bão quan trắc đã cho được những kết quả dự báo
khá tốt. Tuy nhiên, khi khí quyển có tính tà áp mạnh như ảnh hưởng của front lạnh
hay sự phát tri
ển bất đối xứng của nhiệt động lực do đối lưu thì mô hình chính áp sẽ
bộc lộ những mặt bất cập của mình. Hơn nữa, các vấn đề quan tâm trong dự báo bão
không chỉ là dự báo quỹ đạo mà còn những yếu tố khác cũng rất quan trọng như
cường độ bão, mưa trong bão, tốc độ gió mạnh trong bão, hiện tượng nước dâng do
bão, Chính vì vậy, hiện nay các trung tâm dự báo bão lớn trên thế giớ
i đều phát
triển hệ thống mô hình tà áp cho mục đích dự báo cường độ và quỹ đạo bão cũng
như các yếu tố liên quan.
Một số mô hình đang được sử dụng dự báo nghiệp vụ cường độ và quỹ đạo
bão tại một số cơ quan trên thế giới như: AFWAM (phiên bản MM5 dự báo bão của
cơ quan thời tiết Không quân Hoa Kỳ); AVN (hệ thống mô hình dự báo toàn cầu tại
NCEP, Hoa K
ỳ); COAMPS (hệ thống dự báo đại dương-khí quyển quy mô vừa của
Hải Quân Hoa Kỳ; UKM (mô hình dự báo thời tiết của cơ quan dự báo khí tượng
ừ hiệu ứng phản
hồi SST và bão di chuyển chậm ít chịu ảnh hưởng này [21]
Hong và nnk (2000) nghiên cứu tương tác giữa bão Opal với tâm nóng của
vịnh Mexico thông qua mô hình khí quyển-đại dương (COAMPS) phi thủy tĩnh,
trong mô hình này có tính toán tới ẩn, hiển nhiệt, độ mặn, mô-men trong tương tắc
giữa biển và khí quyển, kết quả cho thấy rằng bão Opal di chuyển chậm hơn và lệch
Đông hơn, cường độ mạnh lênh khi vào vùng nước ấ
m vinh Mêxico [13].
Wiexing và I.Ginis (2003): nghiên cứu ảnh hưởng của thông lượng nhiệt bề
mặt cung cấp bởi SST tới sự thay đổi cường độ của bão nhiệt đới tạ các vùng nước
nông (bão sắp đổ bộ) thấy ảnh hưởng mãnh mẽ của SST, SST thay đổi làm thay đổi
cường độ bão [23].
15
Chun-Chieh Wu và nnk (2007) nghiên cứu ảnh hưởng của dị thường SST
đối xứng yếu và bất đối xứng mạnh tới tâm và cường độ bão bằng mô hình kết hợp
khí quyển-đại dương, kết quả thấy rằng quỹ đão của bão thay đổi khá nhỏ trong
trường hợp có và không liên hoàn biển khí quyển. Tuy nhiên thành phần đối xứng
trong sự lạnh di của SST làm yếu bão và có xu hướng làm bão lệch bắc theo mặt
beta, mặ
t khác thành phần bất đối xứng ít tác động ở rìa nhưng mạnh ở phía trước
của bão và tăng nén đoạn nhiệt lên mặt phía nam của bão di chuyển hướng tây, có
xu hướng làm bão lệch nam. Trong các trường hợp liên hoàn thấy bão di chuyển
hướng tây với xoáy tương tối phía ngoài yếu (mạnh) làm cho bão có xu hướng di
chuyển lệch bắc (nam) hơn so với trường hợp không chạy liên hoàn.
Chau-Ron Wu, Yu-Lin Chang và nnk (2008) Nghiên cứu tương tác của bão
Nari khi di chuyển vào dòng biển Kuroshio thấ
y rằng tại vùng nước lạnh (SST thấp
nhất) bão yếu đi nhất và mạnh lên đáng kể khi di chuyển vào vùng nước ấm (SST
cao) của của dòng Korushio trong suốt thời gian di chuyển xung quanh dòng hải lưu
C, cần 5 ngày đề SST trở
về trạng thái bình thường cho 44% số điểm đo và 8 ngày cho khoảng 88% điểm
trạm đo [20].
17
1.2.2 Trong nước
Mở đầu cho việc nghiên cứu tương tác đại dương- khí quyển là kết quả của
đề tài “Nghiên cứu tương tác biển – khí quyển vùng biển Thuận Hải - Minh Hải”
trong chương trình Nhà Nước” điều tra tổng hợp điều kiện tự nhiên vùng biển
Thuận Hải - Minh Hải” thời kỳ 1978 – 1981. Đề tài đã nêu ra “mô hình lý thuyết
của sự tương tác các lớp biên tà áp biển - khí quyể
n. Ở mô hình này chưa đề cập
đến các tính toán cụ thể các đặc trưng tương tác của biển - khí quyển” [7].
Lê Đình Quang (1982), nghiên cứu “về một cách tham số hoá lớp biên tà áp
dừng của khí quyển” đã xây dựng mô hình lớp biên tà áp của khí quyển. Trước hết
tác giả đã nêu “vài nét tổng quát của động lực khí quyển nhiệt đới”. Khi đánh giá
bậc đại lượng của một số tham s
ố khí tượng đến vĩ độ 50
0
N (theo hướng về xích
đạo). Các quy mô đặc trưng chọn lựa mô tả hình thế synốp ở vĩ độ thấp, kể cả
những XTNĐ trong thời kỳ phát triển cực đại của chúng. Khi tăng theo vĩ độ (chẳng
hạn từ 10
0
N đến 40
0
N) các đặc trưng rối như: tốc độ động lực, góc quay của gió
theo độ cao, độ cao của lớp biên và hệ số rối giảm đi rõ rệt. Đặc biệt hệ số rối ở
10
C; thế nhiệt Q
*
> 0,2.
10
-6
jun/m
2
), cộng với các điều kiện động lực trên cao thuận lợi, bão nhanh chóng
sâu xuống, vận tốc gió cực đại tăng lên (V
max
~ 28 m/s) và di chuyển chậm về phía
tây. Do cơ chế nước trồi và xáo trộn, nhiệt độ nước biển hạ đi nhanh chóng (T
0
<
26
0
C), dự trữ nhiệt của lớp tựa đồng nhất giảm xuống gần giá trị 0. Mối quan hệ
ngược bắt đầu phát huy tác dụng, bão tiếp tục di chuyển lên trên vùng có nhiệt độ
nước biển thấp hơn từ 1,5 - 2
0
C so với phần phía đông của Biển Đông. Điều này
làm bão đầy lên, tuy rằng trên cao còn điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của bão.
Nghiên cứu tương tác đại dương-khí quyển trong sự nảy sinh, tiến triển của XTNĐ
trên Biển Đông và mối quan hệ ngược, lần đầu tiên ở Việt Nam đã được đề cập đến
trong đề tài hợp tác Việt Xô về khí tượng nhi
ệt đới và bão thời kỳ 1981 - 1985;
1986 - 1990 và tiếp tục trong thời kỳ 1991 - 1995 bởi Lê Đình Quang và các cộng
tác viên của đề tài. Khi nghiên cứu và tính toán các đăc trưng nhiệt động lực của
XTNĐ phát triển trên Biển Đông trong mô hình bão tổ hợp trên Biển Đông, Lê
Đình Quang và các cộng tác viên đã đề cập đến các điều kiện để áp thấp nhiệt đới
thời mà nó trùng với tâm lạnh của SST, nó cản trở sinh ra XTNĐ hoặc
làm giảm cường độ bão khi di chuyển qua.
- Sau khi bão di chuyển qua để lại “vết nước lạnh” trên vùng nó qua[4].
Đinh Văn Ưu và nnk có nhiều nghiên cứu về tương tác khí quyển đại dương
như: Trao đổi năng lượng cơ học ở lớp biên khí quyển trên biển (1980), giáo trình
tương tác biển khí quyển (2003), Xây dựng mô hình tính toán và dự báo vận chuyển
và bồi, xói bùn cát đáy tại đới ven bờ trong điều kiện tác động của bão (2008)…
Nghiên cứu về tương tác biển-khí quyể
n ảnh hưởng tới cường độ và quỹ đạo
XTNĐ bằng mô hình đại dương-khí quyển còn khá ít và rất khiêm tốn ở nước ta.
20
CHƯƠNG II. MÔ HÌNH TƯƠNG TÁC KHÍ QUYỂN ĐẠI DƯƠNG TỚI DỰ
BÁO CƯỜNG ĐỘ, QUỸ ĐẠO BÃO VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ
2.1 Mô hình WRF
2.1.1 Tổng quan về mô hình WRF
Mô hình Nghiên cứu và Dự báo WRF (Weather Research and Forecast) là
mô hình đang được phát triển từ những đặc tính ưu việt nhất của mô hình MM5 với
sự cộng tác của nhiều cơ quan tổ chức lớn trên thế giới, chủ yếu là: Phòng nghiên
cứu Khí tượng qui mô nhỏ và qui mô vừa của trung tâm quốc gia nghiên cứ
u Khí
quyển Hoa Kỳ (NCAR/MMM), trung tâm quốc gia dự báo môi trường
(NOAA/NCEP), phòng thí nghiệm phương pháp dự báo (NOAA /FSL), trung tâm
phân tích và dự báo bão của trường đại học Oklahoma (CAPS), cơ quan thời tiết hàng
không Hoa kỳ (AFWA) và các trung tâm khí tượng quốc tế như Học viện khoa học khí
tượng của Trung Quốc CAMS, Cơ quan thời tiết trung ương của Đài Loan, Cơ quan
khí tượng Hàn Quốc KMA.
Hiện nay, mô hình WRF đang được sử dụng rộng rãi trong dự báo thời tiết
nghiệp v
s
ử dụng đất (landuse), các loại đất về miền mô phỏng; đọc và nội suy các trường khí
tượng từ các mô hình khác (mô hình toàn cầu, mô hình khu vực có độ phân giải
thấp) về miền mô phỏng.
WRFDA: là chương trình đồng hóa số liệu quan trắc vào trường phân tích
được tạo ra bởi chương trình WPS. Chương trình này cũng cho phép cập nhật điều