BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
VŨ THỊ THU HIỀN
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
QUỐC TẾ VIỆT NAM CHI NHÁNH
BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
nghiên cứu, tìm tòi và sáng tạo nghiêm túc của bản thân. Khi thực hiện luận văn
không có sự sao chép, số liệu trong luận văn là trung thực, chính xác và được cung
cấp bởi người có thẩm quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt
Nam Chi nhánh Bình Dương.
Học viên ký tên
Vũ Thị Thu Hiền
MỤC LỤC
Lời cam đoan
Mục lục
DƯƠNG 23
2.1. Giới thiệu Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam Chi nhánh
Bình Dương 23
2.1.1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng thương mại
cổ phần Quốc tế Việt Nam Chi nhánh Bình Dương 23
2.1.2. Các sản phẩm, dịch vụ tại Ngân hàng thương mại cổ phầ
n Quốc tế Việt
Nam Chi nhánh Bình Dương 23
2.1.3. Các loại hình tín dụng, sản phẩm tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ
phần Quốc tế Việt Nam Chi nhánh Bình Dương 24
2.1.4. Nguyên tắc, quy định trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương
mại cổ phần Quốc tế Việt Nam Chi nhánh Bình Dương 26
2.2. Thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế
Việt Nam Chi nhánh Bình Dương 27
2.2.1. Tình hình hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế
Việt Nam Chi nhánh Bình Dương thời kỳ 2010-2012 27
2.2.1.1. Phân tích dư nợ tín dụng theo thời gian 27
2.2.1.2. Phân tích dư nợ tín dụng theo thành phần kinh tế 29
2.2.1.3. Phân tích dư nợ tín dụng theo ngành sản xuất kinh doanh 31
2.2.2. Thực trạng rủi ro tín dụng t
ại Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế
Việt Nam Chi nhánh Bình Dương 33
2.2.2.1. Phân tích nợ quá hạn theo thời gian 34
2.2.2.2. Phân tích nợ quá hạn theo thành phần kinh tế 35
2.2.2.3. Phân tích nợ quá hạn theo nguyên nhân 37
2.2.3. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần
Quốc tế Việt Nam Chi nhánh Bình Dương 39
2.2.3.1. Nguyên nhân từ phía ngân hàng 39
a rủi ro tín dụng bằng việc liên kết đồng bộ các tổ chức
tín dụng 67
3.2.1.3. Thiết lập các biện pháp ngăn ngừa khi nhận thấy khoản vay có vấn
đề………. 68
3.2.1.4. Tăng cường giám sát, theo dõi khách hàng vay vốn 69
3.2.1.5. Lựa chọn, áp dụng những phương pháp và công cụ phòng ngừa, hạn
chế rủi ro thích hợp theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế 69
3.2.1.6. Cách thức xử lý nợ có vấn đề 71
3.2.1.7. Tăng cường và hoàn thiện hoạt động kiểm soát nội bộ 72
3.2.2. Giải pháp nâng cao quản trị rủi ro tín d
ụng 73
3.2.2.1. Thực hiện và nâng cao chất lượng công tác xếp hạng tín nhiệm 73
3.2.2.2. Hoàn thiện công tác thu nhập, lưu trữ và xử lý thông tin về khách
hàng vay 74
3.2.2.3. Xây dựng hệ thống thông tin nội bộ nhằm phục vụ tốt cho công tác
phân tích tín dụng 75
3.2.3. Giải pháp hỗ trợ 76
3.2.3.1. Nâng cao hiệu quả hoạt động phân tích, dự báo xu hướng phát triển
của các loại thị trường 76
3.2.3.2. Hoàn thiện về bộ máy tổ chức và công nghệ hoạt động ngân hàng 77
3.2.3.3. Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 79
Kết luận chương 3 79
Kết luận
Tài liệu tham khảo
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bảng 2.11: Dư nợ quá hạn theo thành phần kinh tế 36
Bảng 2.12: Dư nợ quá hạn theo nguyên nhân 37
LỜI MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong thời đại ngày nay, với trình độ phát triển cao của kinh tế - xã hội,
thị trường ngày càng mở rộng và phát triển theo mối quan hệ kinh tế khu vực và
quốc tế. Đây là điều kiện thuận lợi để hoạt động sản xuất, kinh doanh nói chung và
hoạt động ngân hàng nói riêng phát triển. Nền kinh tế hiện đại đem lại nhiều cơ hộ
i
nhưng bên cạnh đó cũng xuất hiện những nguy cơ tiềm ẩn.
Đối với ngân hàng, hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ tín dụng, có
quan hệ mật thiết, hữu cơ với khách hàng và nền kinh tế thông qua quá trình thực
hiện kinh doanh các dịch vụ ngân hàng như: huy động vốn, cho vay vốn, thanh
toán và các hoạt động dịch vụ khác. Do đó, rủi ro đối với ngân hàng rất đa dạng,
xuất hiệ
n gắn liền với mỗi dịch vụ gây ảnh hưởng với những mức độ khác nhau.
Trong đó, rủi ro tín dụng nếu xảy ra sẽ có tác động lớn, trực tiếp đến sự tồn tại
và phát triển của mỗi tổ chức tín dụng; cao hơn nó ảnh hưởng đến toàn bộ hệ
thống ngân hàng bởi những đặc thù trong hoạt động tín dụng, hoạt động kinh
doanh ngân hàng. Đặc bi
ệt đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam, do lợi
nhuận của tín dụng là chủ yếu, chiếm phần lớn trong tổng thu nhập của ngân
hàng.
Trong bối cảnh trên, RRTD luôn là mối quan tâm hàng đầu của các ngân
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được chia làm 3 chương, cụ
thể:
Chương 1
: Những vấn đề cơ bản về quản trị RRTD tại Ngân hàng thương
mại.
Chương 2
: Thực trạng quản trị RRTD tại Ngân hàng thương mại cổ phần
Quốc tế Việt Nam Chi nhánh Bình Dương.
Chương 3
: Giải pháp quản trị RRTD tại Ngân hàng thương mại cổ phần
Quốc tế Việt Nam Chi nhánh Bình Dương.
1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN
DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng thương mại
Theo quy chế cho vay 1627/2001/QĐ-NHNN, tín dụng ngân hàng là một hình
thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản
tiền để sử dụng vào mục đ
ích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc
có hoàn trả cả gốc và lãi.
1.1.2. Rủi ro tín dụng trong hoạt động của các Ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Khái niệm về rủi ro tín dụng
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, rủi ro là một tập hợp các nhân tố bên
trong và bên ngoài có thể cản trở ngân hàng thực hiện các mục tiêu kinh doanh của
mình. Rủi ro là những sự kiện không chắc chắn có thể dẫn tới những t
ổn thất hoặc
lợi ích phát sinh từ các quyết định hoặc lựa chọn của ngân hàng.
trong hoạt động kinh doanh của khách hàng có thể dẫn đến RRTD.
Xuất phát từ đặc điểm này, biện pháp quản trị
RRTD cần tập trung nghiên cứu
thông tin về khách hàng, thiết lập hệ thống thông tin theo dõi dấu hiệu rủi ro, xây
dựng và đảm bảo mối quan hệ minh bạch giữa CBTD và khách hàng vay vốn.
Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp
Đặc điểm này thể hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu
quả của RRTD. Đây là đặc điểm tấ
t yếu của RRTD do đặc trưng ngân hàng là trung
gian tài chính kinh doanh tiền tệ. Đặc điểm này cũng là hệ quả của đặc điểm thứ
nhất vì mối liên hệ gián tiếp với RRTD khiến sự đa dạng và phức tạp của RRTD đối
với ngân hàng càng thể hiện rõ.
Nhận thức và vận dụng đặc điểm này, khi thực hiện quản trị RRTD cần áp
dụng đồng b
ộ nhiều biện pháp, không chủ quan đối với bất cứ một dấu hiệu rủi ro
nào.
Rủi ro tín dụng có tính chất tất yếu
Thông tin không cân xứng là nguyên nhân khiến cho các nhà kinh tế cũng như
các ngân hàng cho rằng kinh doanh ngân hàng thực chất là quản lý rủi ro ở mức độ
phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng. Do không thể có được thông tin cân xứng
về việc sử dụng tiền vay trong một thờ
i gian dài, bất cứ một khoản vay nào cũng
3
tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro đối với NHTM (không thu hồi vốn đầy đủ và đúng
hạn).
Với đặc điểm này, trong quá trình cấp tín dụng cho khách hàng, ngân hàng cần
chủ động có các biện pháp thích hợp xử lý vấn đề thông tin không cân xứng để đối
phó với RRTD, đo lường RRTD cũng như để xác định giá của khoản vay cho phù
hợp.
ra RRTD cho ngân hàng. Nhìn chung, các nguyên nhân này ngân hàng có thể xác
định được thông qua quá trình tìm hiểu, nắm tình hình tài chính của khách hàng
trước, trong và sau khi cho vay, tìm hiểu mục đích sử dụng tiền vay và hiệu quả
của phương án sản xuất kinh doanh.
Rủi ro trong kinh doanh của người đi vay: Rủi ro kinh doanh của doanh
nghiệp được thể hiện ở mức độ biến động ít hay nhiều theo chiều hướng xấu của
kết quả kinh doanh. Rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp sẽ xảy ra nếu việc
xây dựng và triển khai các phương án, dự án đầu tư sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp không khoa học, việc dự toán chi phí và xác định mức sản lượng
không phù hợp. Các thiệt hại doanh nghiệp phải gánh chịu do sự biến động của
thị trường cung cấp, thị trường tiêu
thụ.
Rủi ro tài chính: Rủi ro tài chính của doanh nghiệp thể
hiện ở các doanh
nghiệp không thể đối phó với các nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi tiền vay cho chủ nợ.
Rủi ro tài chính diễn ra cùng với mức độ sử dụng nợ, nó gắn liền với cơ cấu tài
chính doanh nghiệp.
Nguyên nhân khác
Ngoài những nguyên nhân nêu trên, RRTD còn do nguyên nhân khác như:
- Nguyên nhân bất khả kháng: Các thiệt hại từ nguyên nhân thiên tai, bão
lụt, hạn hán, hỏa hoạn và động đất. Những thay đổi về nhu cầ
u của người tiêu
dùng hoặc về kỹ thuật một ngành công nghiệp có thể làm sụp đổ cả cơ đồ của
một hãng kinh doanh và đặt người đi vay từng làm ăn có lãi vào thế thua lỗ.
- Thông tin không cân xứng: Thông tin không cân xứng trên thị trường
tài chính dẫn đến sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức đã đặt các ngân hàng
trước nguy cơ rủi ro cao.
- Môi trường pháp lý: cùng với môi trường kinh t
ế, môi trường pháp lý
Tóm lạ
i, RRTD xảy ra ở những mức độ khác nhau: nhẹ nhất là các NHTM sẽ
bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất là khi các NHTM
không thu hồi được cả vốn và lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao sẽ dẫn đến lỗ và mất vốn.
Nếu tình trạng này kéo dài các NHTM có thể sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm
trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Chính vì vậy, đòi
hỏi các nhà quả
n trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp quản
6
trị RRTD nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay.
Đối với nền kinh tế
Khi một NHTM gặp phải RRTD hoặc bị phá sản thì người gửi tiền sẽ rơi vào
tâm trạng hoang mang, lo sợ và khi đó sẽ xảy ra tình trạng mọi người tới rút tiền,
hành động này sẽ tác động xấu đến toàn hệ thống ngân hàng.
Hoạt động ngân hàng có liên quan đến hoạt động doanh nghiệp, vì vậy NHTM
phá sản sẽ
ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Khi
đó, sự rối loạn của các NHTM sẽ ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế, làm cho
nền kinh tế suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn
định. Nếu tổn thất do RRTD gây ra ở mức kiểm soát được thì việc xử lý nằm trong
giới hạn cho phép của quỹ dự phòng bù đắ
p rủi ro của các NHTM. Tuy nhiên, khi
tổn thất lớn vượt quá khả năng xử lý của các NHTM thì có thể gây hậu quả cho
chính NHTM và các doanh nghiệp có liên quan, ảnh hưởng tới người gửi tiền và tới
nền kinh tế, là nguy cơ tiềm ẩn cho khủng hoảng tài chính.
1.2. Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại
Các nhà nghiên cứu hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng đều cho rằng đối với
các NHTM, quản trị kinh doanh chính là qu
ản trị RRTD và quản trị RRTD là trung
NHTM bằng các chính sách, biện pháp quản lý, giám sát các hoạt động tín dụng
khoa học và hiệu quả.
1.2.2. Sự cần thiết của quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại
Như đã phân tích ở
trên, tác động, ảnh hưởng của RRTD đối với hoạt động
của NHTM là rất lớn. Chính vì thế, một trong những hoạt động chủ yếu, cơ bản và
được thực hiện nghiêm túc hơn bao giờ hết trong công tác quản lý, quản trị ngân
hàng đó là thực hiện quản trị RRTD. Có thể nói sự cần thiết phải quản trị RRTD,
xuất phát từ chính những tác động ảnh hưởng của RRTD đố
i với hoạt động kinh
doanh, thậm chí đến toàn hệ thống ngân hàng. Quá trình này gắn liền với ba sự cần
thiết cơ bản sau:
- Quản trị RRTD tốt sẽ hạn chế rủi ro phát sinh, nâng cao hiệu quả khai
thác và sử dụng vốn của các NHTM. Chúng ta đều biết, hoạt động tín dụng ngân
hàng là đi vay để cho vay. Bất kỳ khoản vốn tín dụng nào bị ứ đọng không chỉ ảnh
hưởng
đến thu nhập của ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản
của các TCTD theo hướng làm chậm quá trình tuần hoàn và luân chuyển vốn của
Xác định rủi ro
Kiểm soát rủi ro
Đo l
ư
ờng rủi ro
Quản trị rủi r
o
8
các TCTD, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.
Trong trường hợp khác, nếu nợ quá hạn, nợ xấu phát sinh sẽ làm gia tăng chi
phí có tính chất hiệu ứng. Kết quả là các TCTD không có nguồn thu từ khoản cho
9
1.2.3. Một số vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng
1.2.3.1. Xác định rủi ro
RRTD là rủi ro chính trong hoạt động cho vay của các NHTM. Nó xuất hiện
trên một số cơ sở sau đây:
- Sản phẩm của hoạt động tín dụng ngân hàng là sản phẩm gián tiếp thoả
mãn nhu cầu của xã hội về hàng hoá, vật tư, dịch vụ… Khi sử dụng các sả
n phẩm
trực tiếp, các chủ thể vay vốn ngân hàng đã được hưởng sản phẩm gián tiếp - tín
dụng ngân hàng. Từ đây chất lượng sử dụng sản phẩm trực tiếp và trong trường
hợp việc sử dụng các sản phẩm trực tiếp có sự cố, rủi ro sẽ ảnh hưởng đến chất
lượng sử dụng sản phẩm gián tiếp. Ở đây cho th
ấy, vai trò của ngân hàng chấp
nhận một mức rủi ro nhất định, điều chỉnh định hướng giảm sự rủi ro cho các
ngành kinh tế vay vốn.
- Quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở hoàn trả. Trong quan hệ tín dụng này,
ngân hàng là người cho vay - chủ sở hữu khoản vốn vay, còn bên kia là khách hàng
vay vốn. Người được nhận uỷ quyền sử dụng tiền vốn của ngân hàng trong thời hạn
nhấ
t định. Như vậy, khi hết hạn sử dụng, khách hàng phải hoàn trả vốn cho ngân
hàng và một khoản tiền lãi như giá cho sử dụng vốn.
Việc hoàn trả vốn như vậy là tất yếu và hoàn trả đúng hạn đầy đủ là vấn đề
được ngân hàng đề cao. Trong hoạt động thực tiễn, khó có thể dự đoán hết tính
đúng đắn và đúng hạn của khoản vố
mô, độ lớn của rủi ro có ý nghĩa rất lớn đối với công tác quản trị RRTD nhằm nâng
cao chất lượng khoản vay. Về
mặt định lượng RRTD, được xác định theo phương
pháp tính hệ số. Các chỉ số đo lường RRTD bao gồm:
- Chỉ số nợ quá hạn/tổng dư nợ cho vay
- Chỉ số nợ xấu/tổng dư nợ cho
- Chỉ số nợ xấu/tổng nợ quá hạn
- Chỉ số dư nợ cho vay/tổng vốn huy động
Một trong nh
ững tính chất cơ bản của tài chính hiện đại là tính rủi ro và vì
vậy tất cả các mô hình tài chính hiện đại đều được đặt trong môi trường rủi ro. Do
đó, cần thiết phải có một khái niệm rủi ro theo quan điểm lượng và phải xây dựng
công cụ để đo lường nó. Có thể sử dụng nhiều mô hình khác nhau để đánh giá rủi
ro tín dụng. Các mô hình này rất đa dạng bao gồm các mô hình định lượng và mô
hình đị
nh tính. Các mô hình này không loại trừ lẫn nhau, nên ngân hàng có thể sử
dụng nhiều mô hình để phân tích đánh giá mức độ rủi ro tín dụng của khách hàng.
11
Mô hình định tính về rủi ro tín dụng: đối với mô hình này ngân hàng cần
đề cập đến 3 yếu tố:
- Phân tích tín dụng: đối với mỗi đơn xin vay vốn, CBTD cần phải trả
lời được 3 câu hỏi cơ bản sau:
+ Khách hàng vay có độ tín nhiệm và biết tình hình của họ như thế
nào? Khách hàng có thiện chí trả nợ khi khoản vay đến hạn hay không? Điều này
liên quan đến việc nghiên cứu chi tiết “6 khía cạnh - 6C” của khách hàng là:
tính cách (Charater), năng lực (Capacity), thu nhập (Cash), tài sản thế chấp
(Collateral), điều kiện (Condition) và ki
ểm soát (Control). Tất cả các tiêu chí này
phải được đánh giá tốt, thì khoản vay mới được xem là khả thi.
ấu hiệu xấu liên quan đến khoản vay.
- Hệ thống chỉ tiêu tài chính đánh giá khách hàng: Hệ thống chỉ tiêu tài
chính dùng để phân tích đánh giá tín dụng doanh nghiệp được chia thành 4
nhóm:
+ Nhóm chỉ tiêu thanh khoản (Liquidity ratios)
+ Nhóm chỉ tiêu hoạt động (Activity ratios)
+ Nhóm chỉ tiêu đòn bẩy (Leverage ratios)
+ Nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời (Profitability ratios)
Mô hình định lượng về rủi ro tín dụng:
Mô hình định tính được xem là mô hình cổ điển để đánh giá rủi ro tín dụng.
Mô hình này ngày nay được xem là mất thời gian, tốn kém, lại mang tính chủ
quan. Hiện nay, hầu hết các ngân hàng đều tiếp cận phương pháp đánh giá rủi ro
hiện đại hơn, đó là định lượng hóa rủi ro tín dụng. Sau đây là một số mô hình
lượng hóa rủi ro tín dụng thường được sử dụ
ng.
- Mô hình điểm số Z:
Mô hình này phụ thuộc vào: chỉ số các yếu tố tài chính của người vay – X;
tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay
trong quá khứ, mô hình được mô tả như sau:
Z = 1,2X
1
+ 1,4X
2
+ 3,3X
3
+ 0,6X
4
+ 1,0 X
5
đến mức mất hoàn toàn cả vốn và lãi của khoản vay.
Không có lý do thuyết phục để chứng minh rằng các thông số phản
ánh tầm quan trọng của các chỉ số trong công thức là b
ất biến. Tương tự như vậy,
bản thân các chỉ số cũng được chọn cũng không phải là bất biến, đặc biệt khi
các điều kiện kinh doanh cũng như điều kiện thị trường tài chính đang thay đổi liên
tục.
Mô hình không tính đến một số nhân tố khó định lượng nhưng có thể
đóng một vai trò quan trọng ảnh hưởng đến mức độ củ
a các khoản vay (danh
tiếng của khách hàng, mối quan hệ lâu dài giữa ngân hàng và khách hàng hay các
yếu tố vĩ mô như sự biến động của chu kỳ kinh tế).
- Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng:
Ngoài mô hình điểm số Z, nhiều ngân hàng còn áp dụng mô hình cho
điểm để xử lý đơn xin vay của người tiêu dùng như: mua xe hơi, trang thiết bị
gia đình, bất động sản… Các yếu tố quan trọng trong mô hình cho điểm tín dụng
bao g
ồm: hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu
nhà, thu nhập, tài khoản cá nhân, thời gian làm việc.
Mô hình này thường sử dụng 7-12 hạng mục, mỗi hạng mục được cho
điểm từ 1 – 10.
14
+
Ưu điểm: mô hình loại bỏ được sự phán xét chủ quan trong quá trình
cho vay và giảm
đáng kể thời gian ra quyết định tín dụng.
+ Nhược điểm: mô hình không thể tự điều chỉnh một cách nhanh chóng
để thích ứng với những thay đổi trong nền kinh tế và cuộc sống.
1.2.3.3. Kiểm soát rủi ro tín dụng
+ Dự đoán môi trường hoạt động của khoản cho vay: cần xem xét môi
trường vĩ mô và môi trường vi mô.
Môi trường vĩ mô: các khoản vay có thể chịu ảnh hưởng bởi điều kiện
tự nhiên, trình độ phát triển của nền kinh tế, đặc điểm văn hoá xã hội của đất nước,
cơ sở pháp lý và chính sách kinh tế, tài chính, tín dụng.
Môi trường vi mô: đối thủ cạnh tranh củ
a người vay vốn có thể gây
nhiều ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh; thị trường cung cấp và tiêu thụ; điều
kiện phát triển ngành nghề mà người vay vốn đang kinh doanh. Đặc biệt là trình độ,
năng lực điều hành của nhà quản lý cũng ảnh hưởng nhiều đến kết quả kinh doanh
của doanh nghiệp.
Rủi ro môi trường luôn tồn tại cả bên trong lẫn bên ngoài một tổ chứ
c, vì vậy
một khoản vay khi đưa vào sử dụng sẽ có những rủi ro không lường trước được.
Việc dự đoán các yếu tố môi trường sẽ cho phép ngân hàng nhận định khả năng rủi
ro của một khoản vay ở mức độ chấp nhận hay không trước khi quyết định cho vay.
+ Dự đoán rủi ro từ hướng khách hàng
Khả năng rủi ro tín dụng có thể xả
y ra do ý muốn trả nợ của khách
hàng giảm đi.
Rủi ro trong quản lý, điều hành kinh doanh của khách hàng.
Khả năng thay đổi nhân thân của người vay hay người điều hành.
Để có thể dự đoán chính xác về khách hàng, ngân hàng phải có đầy đủ thông
tin, tiến hành phân tích thông tin kịp thời để đánh giá khả năng trả nợ cũng như ý
muốn trả nợ của họ. Trong điều ki
ện kinh doanh do rất nhiều lý do mà ý muốn trả
nợ thật sự được dấu kín và thuật ngữ chuyên ngành gọi đây là rủi ro đạo đức. Rủi ro
đạo đức xảy ra khi một bên tham gia vào một giao dịch có ý muốn thực hiện các
hoạt động bất lợi cho bên kia. Rủi ro đạo đức từ phía khách hàng trong rủi ro tín