Chuyên trở hàng hóa trong kinh doanh thương mại quốc tế bằng đường biển - Pdf 29

Trờng đại học ngoại thơng
khoa kinh tế và kinh doanh quốc tế
bộ môn vận tải và bảo hiểm
---------------------------
TIểU LUậN VN TI V BO HIM
Đề tài :
CHUYÊN CHở hàng hóa trong kinh doanh
thơng mại quốc tế bằng đờng biển
Giáo viên hớng dẫn: Hoàng Thị Đoan Trang
Nhúm ti: Nhóm ANH_ NHậT
Hà Nội, 03/2008
1
lời mở đầu
Ngành công nghiệp Dệt May là một ngành có truyền thống lâu đời ở Việt
Nam và là một ngành công nghiệp mũi nhọn đóng vai trò quan trọng trong
nền kinh tế.
Thực tế các năm qua đã chứng minh điều này. Sản xuất của Ngành tăng tr-
ởng nhanh ; kim ngạch xuất khẩu không ngừng gia tăng với nhịp độ cao, thị
trờng luôn đợc mở rộng, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển góp phần
cân bằng cán cân xuất nhập khẩu theo hớng có tích luỹ ; thu hút ngày càng
nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm, góp phần quan trọng vào việc ổn
định chính trị xã hội đất nớc và đóng góp ngày càng nhiều cho ngân sách
Nhà nớc.
Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập với thế giới và khu vực, để phát triển
ngành Dệt May Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Theo
Hiệp định ATC/WTO, từ 1/1/2005 các nớc phát triển sẽ bãi bỏ hạn
ngạch nhập khẩu cho các nớc xuất khẩu hàng Dệt May là thành viên
của Tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO), khi đó các cờng quốc xuất
khẩu hàng Dệt May nh ấn Độ, Indonesia, HongKong, Đài Loan, Hàn
Quốc... và đặc biệt là Trung Quốc sẽ có lợi thế xuất khẩu thế giới. Theo
Hiệp định AFTA, từ 1/1/2006, thuế xuất nhập khẩu hàng Dệt May từ

nên nhóm không thể tránh khỏi những sai sót. Rất mong đợc sự đóng
góp của thầy giáo cùng toàn các bạn.
3
Phần I
Công nghệ dêt may Việt Nam
A. Đánh giá tổng quan về ngành công nghiệp dệt may
việt nam
1. Những kết quả đã t đợc của Ngành.
Ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam đã có những bớc tiến quan
trọng, góp phần tích cực vào việc giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội
bức xúc của đất nớc và tạo nền tảng quan trọng cho sự phát triển mạnh
mẽ và có hiệu quả hơn trong những năm tới. Trong những năm qua, tỷ
trọng giá trị sản xuất công nghiệp Dệt May trong tổng giá trị sản xuất
công nghiệp không ngừng tăng lên. Nếu trong năm 1985 giá trị sản xuất
toàn ngành chỉ chiếm 5,4% tổng giá trị sản xuất công nghiệp thì năm
2000 đã chiếm tới 7,86% (tính theo giá cố định 1994).
Bảng 1 : Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp Dệt May trong công
nghiệp Việt Nam (theo giá cố định 1994).
1995 1996 1997 1998 1999 2000
Toàn bộ công nghiệp 100 100 100 100 100 100
Công nghiệp dệt 5,97 5,40 5,40 5,53 5,56 4,81
Công nghiệp may 2,85 2,88 3,22 3,09 3,01 3,05
Nguồn: Niên giám thống kê 2000
Ngành công nghiệp Dệt May là một trong những ngành góp phần quan
trọng vào tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.
Bảng 2 : Tỷ trọng KNXK ngành Dệt May trong tổng KNXK của
ngành công nghiệp (1996 2000).
4
1996 1997 1998 1999 2000
Công nghiệp Dệt May (%) 15,92 15,04 14,5 15,17 13,1

Bảng 4 : Ngành Dệt May Việt Nam so với các nớc trong khu vực.
Số lợng sợi
(nghìn Tấn)
Số lợng vải
(Triệu m2)
Sản phẩm may
(Triệu SP)
KNXK
(Tr.USD)
Trung Quốc 5.300 21.000 10.000 50.000
ấn Độ
2.100 23.000 12500
Thái Lan 1.000 4.200 2.500 6.500
Inđônêxia 1.800 4.400 3.000 8.000
Việt Nam 85 304 400 2.000
Nguồn: Tổng Công ty Dệt May Việt Nam 2000
Những số liệu trên cho thấy trong lĩnh vực Dệt May, Việt Nam cha phải
là đối thủ cạnh tranh trực tiếp với các nớc khác, cả trên thị trờng thế giới
và trong thị trờng nội địa.
thị tr ờng trong n ớc: Năm 1999 ngành Dệt cả nớc cha huy
động đợc hết 40% năng lực sản xuất, do đó dệt đợc gần 317 triệu
mét vải các loại phục vụ cho tiêu dùng trong nớc là chủ yếu. Ngành
May phải nhập hơn 200 triệu mét vải và gần 10 triệu sản phẩm quần
áo may sẵn từ nớc ngoài để tiêu thụ tại thị trờng trong nớc. Vải sản
xuất trong nớc tiêu thụ chậm, sức cạnh tranh kém cả về chất lợng,
mẫu mã và giá cả so với vải nhập ngoại, nhất là vải nhập từ Trung
Quốc. Hàng Dệt của ta sản xuất không chỉ khó tiêu thụ đợc ở các
thành phố lớn mà ngay cả tại vùng nông thôn cũng tiêu thụ chậm vì
chất lợng thua kém và giá bán cao hơn hàng Trung Quốc.
ở thị tr ờng xuất khẩu : Kim ngạch buôn bán hàng Dệt May

của khách hàng nớc ngoài. Ngành may phát triển theo phơng thức
7
may gia công là chủ yếu, nguyên liệu vải và các phụ liệu đều phải
nhập từ nớc ngoài. Mẫu mã sản phẩm dệt, may còn đơn điệu chủ
yếu là những sản phẩm dễ làm và có yêu cầu kỹ thuật trung bình,
thấp.
Thứ hai : Việc xuất khẩu bằng phơng thức gia công của các
doanh nghiệp may chiếm tỷ trọng lớn, cùng với việc không bảo đảm
nguyên phụ liệu trong nớc đã gây ảnh hởng khá nặng nề tới hiệu quả
xuất khẩu.
Phơng thức gia công quốc tế phù hợp với trình độ phát triển thấp của
các doanh nghiệp Dệt May vì nó bảo đảm việc làm khi ngành này
cha có đủ khả năng thâm nhập trực tiếp vào thị trờng thế giới và khi
khả năng về vốn và trình độ công nghệ còn hạn hẹp. Song đây lại
không thể là phơng thức có thể duy trì lâu dài trong chiến lợc của
ngành Dệt May bởi lẽ nó sẽ gây nên tình trạng phụ thuộc, bất ổn
định trong sản xuất kinh doanh, trong đầu t của các doanh nghiệp và
hiệu quả kinh tế không đợc bảo đảm. Hơn nữa, ở trong nớc vẫn cha
có đủ khả năng bảo đảm nguyên liệu và phụ liệu cho sản xuất mà
chủ yếu các nguyên liệu và phụ liệu này phải nhập khẩu từ bên ngoài
nên hiệu quả sản xuất thấp.
Trong khi ngành Dệt May chủ yếu sử dụng nguyên liệu nhập khẩu,
thì kim ngạch xuất khẩu vải lại rất khiêm tốn: Nếu tính cả xuất khẩu
vải bông, sản phẩm dệt kim và các loại khăn thì kim ngạch chỉ
chiếm khoảng 10% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt May. Trong
ngành may, phơng thức gia công chiếm tỷ trọng lớn và vì hầu hết
các loại nguyên phụ liệu đều phải nhập khẩu nên giá trị gia tăng nhỏ,
thông thờng chỉ khoảng 20 - 25%.
Thứ ba : Trình độ công nghệ của các doạnh nghiệp lạc
hậu và mất cân đối là yếu tố quan trọng làm giảm khả năng cạnh

May của Việt Nam trong những năm từ 1996 cho đến nay.
9
Chất lợng nguồn nhân lực của ngành Dệt May còn nhiều
bất cập. Lực lợng lao động ngành Dệt May khá đông (trên 1 triệu
ngời), nhng số lợng công nhân kỹ thuật trình độ bậc cao, giỏi còn
ít. Đội ngũ cán bộ quản lý chủ chốt trong các doanh nghiệp còn
nhiều hạn chế trong tiếp cận với phong cách quản lý hiện đại, đặc
biệt là kinh nghiệm giao dịch xuất nhập khẩu, nghiên cứu tiếp thị
với thị trờng thế giới. Mức thu nhập bình quân của công nhân
ngành Dệt May thấp và không ổn định, thêm vào đó bệnh nghề
nghiệp ở các nhà máy Dệt May tác động xấu đến sức khoẻ và tâm
t của công nhân.
Vốn cho đầu t phát triển của ngành Dệt May còn thiếu, đặc
biệt ở các doanh nghiệp Nhà nớc. Hiện tợng đầu t dàn trải, manh
mún theo xu hớng tự cân đối, khép kín ở nhiều doanh nghiệp làm
cho ngành Dệt May ở tình trạng mất cân đối nghiêm trọng giữa
các khâu sản xuất.
Chính sách đầu t phát triển ngành Dệt May trớc đây cha
hợp lý nh quy định về thời hạn thu hồi vốn vay đầu t phát triển
cho ngành dệt từ 7 - 10 năm, ngành may từ 5 - 7 năm. Trong khi
thực tế ở Việt Nam, đầu t vào ngành dệt phải từ 12 - 15 năm,
ngành may từ 10 - 12 năm mới có thể thu hối đợc hết vốn. Các
thủ tục triển khai đầu t xây dựng thờng kéo dài nhiều năm. Các
chính sách cơ chế cha thực sự hấp dẫn nhà đầu t nớc ngoài và
trong nớc bỏ vốn đầu t nhiều hơn vào ngành Dệt May.
B.Thiết bị, công nghệ ngành dệt may Viêt Nam
Tính đến cuối thập kỷ 80, công nghệ kéo sợi của Việt Nam vẫn còn rất
lạc hậu, máy móc thiết bị thiếu đồng bộ, một số thuộc thế hệ I, một số
thuộc thế hệ II. Trình độ tự động thấp, sản phẩm đạt chất lợng thấp so
với chất lợng trung bình của thế giới, hầu hết đạt mức đờng75% của hệ

1. Dệt Huế 47.000
2. Dệt
Nam Định
105.256
24.000
(Nhật)
16.400
(Italia)
3. Dệt 8-3 70.280 27.716 10.200
4. Dệt Hà
Nội
136.548
+320 Roto
5. Dệt
Vĩnh Phú
28.968
6. Dệt
Thành
Công
41.000
15.000(TQ)
26.000(Nhậ
t)
7. Dệt
Đông Nam
44.864
8. Dệt
Thắng Lợi
104.992
9. Dệt Nha

Roto
84.600
+1600 Roto
25.856 10.200
Nguồn : Tổng Công ty Dệt May Việt Nam
Bảng trên cho ta thấy, hiện nay toàn ngành có 677.124 cọc sợi và 3520
roto. Trong đó:
- Thiết bị mới hoàn toàn là 84600 cọc sợi và 1600 roto.
- Thiết bị đợc thay thế bằng máy Second-hand của Tây Âu là
56500 cọc sợi.
- Thiết bị bổ sung nâng cấp là 10200 cọc sợi.
Nhìn chung, thiết bị của Ngành còn rất lạc hậu, tỷ lệ số cọc sợi mới
hoàn toàn thấp chỉ chiếm 12,5% tổng số cọc sợi của toàn ngành, số cọc
sợi đợc thay thế bằng máy Second-hand của Tây Âu cũng chỉ chiếm
hơn 8,3%, thiết bị nâng cấp không đáng kể chỉ có 1,5%, tức là số thiết
bị đợc coi là hiện đại chỉ có khoảng 22,3% tổng số cọc sợi. Hiện đã có
một số doanh nghiệp nh Dệt Thành Công, Dệt Nha Trang, Dệt Phong
Phú đã mua sắm thiết bị kéo sợi tiên tiến là các roto nhng con số này
còn ít ỏi so với quy mô thiết bị toàn ngành chỉ có 3520 roto, mà chủ yếu
là của Trung Quốc (chiếm 91%).
I . Thiết bị, công nghệ dệt thoi
12
Về thiết bị, công nghệ dệt thoi trong nhiều năm qua, các doanh nghiệp
đã bỏ vốn đầu t mua sắm thiết bị góp phần nâng cao chất lợng, đa dạng
hoá sản phẩm; hàng ngàn máy dệt không thoi có thoi khổ rộng đợc nhập
về, nhiều bộ mắc hồ mới hiện đại thay cho các thiết bị cũ, đến nay trong
toàn ngành, máy dệt mới chiếm 25%, số lợng máy có khả năng nâng
cấp chiếm 45%.
Về công nghệ, đã chuyển biến mạnh dới tác động của cơ chế thị trờng,
một số công nghệ hiện đại đã đợc nhập nh :

nên hạn chế trong việc phát triển. Hơn nữa, chất lợng sợi sản xuất trong
nội địa thấp, không đủ tiêu chuẩn để làm ra sản phẩm có giá trị xuất khẩu
cao. Nhiều chuyên gia nớc ngoài đã khẳng định chất lợng nguyên liệu
chiếm tới 70% yếu tố tạo ra sản phẩm có giá trị cao, còn thiết bị chiếm
30%. Chính hạn chế về nguồn cung cấp nguyên liệu, đặc biệt là sợi
Cotton chải kỹ chất lợng cao nên phần lớn các doanh nghiệp đầu t mới
trong giai đoạn này đều lựa chọn phơng án sản phẩm dệt kim từ sợi
PE/Co - do ổn định đợc kích thớc vải trên máy văng định hình. Còn vải
dệt kim từ sợi Cotton hiện phần lớn phải nhập sợi để làm hàng xuất khẩu
hoặc chỉ sản xuất từ sợi Cotton nội địa với số lợng hạn chế và xuất với giá
trị thấp.
III. Thiết bị, công nghệ in nhuộm
Trong những năm vừa qua, ngành đã nhập đợc một số thiết bị hiện
đại của thế giới nh máy nhuộm sợi Bobin Hisaki, máy Jet, máy làm
bóng dệt kim tròn Dornier, máy in hoa cấy bông, máy in nhuộm hoa lới
quay, máy hồ văng định hình, máy Sanfort, comfit, cào bông, chải
tuyết làm các mặt hàng từ PE/Co, Petex, có khả năng sản xuất các áo
Jacket, áo sơ mi. Song theo đánh giá của Bộ Công nghiệp và Tổng công
ty Dệt May Việt Nam, thiết bị công nghệ in nhuộm đã rất lạc hậu. Hiện
nay, thiết bị in nhuộm có khoảng 35% còn mới, 30% có thể cải tạo nâng
cấp đợc, 35% phải loại bỏ dần từ nay đến năm 2010. In nhuộm đợc coi
là khâu yếu nhất trong hệ thống dệt của ngành Dệt May làm cho sản
phẩm dệt không đáp ứng đợc nhu cầu vải cho may xuất khẩu (hiện chỉ
14
đáp ứng đợc 10 - 15%) nhu cầu của ngành may. Do đó, hiệu quả của
toàn ngành Dệt May giảm, không tạo đợc mối liên hệ chặt chẽ giữa
ngành Dệt và ngành May trong quá trình phát triển.
IV. Thiết bị, công nghệ may
Thiết bị, công nghệ may đợc đánh giá là hiện đại nhất trong ngành công
nghiệp Dệt May.

phân xởng.
- Khâu cắt: Cắt trên giác đồ mẫu giấy, có nhiều ghim kẹm,
có giấy lót dới bàn vỉ đảm bảo chính xác, đánh số bằng giấy theo
từng cây vải hoặc giác mẫu bằng hệ thống máy vi tính.
- Khâu may: Công nhân tay nghề cao, các đờng mí đều sử
dụng cữ, gá. Các dây chuyền may bố trí vừa và nhỏ khoảng 25 -
26 máy may, sử dụng 34 - 38 lao động, có khả năng cơ động
nhanh mỗi khi có thay đổi mã hàng chỉ cần tối đa 2 ngày là có
thể ổn định sản xuất. Nhân viên kiểm tra đợc bố trí vào các dây
chuyền may chấn chỉnh sai hỏng ngay từ đầu, tránh đợc sai hỏng
hàng loạt.
- Khâu hoàn tất: Rất đợc coi trọng vì đây là khâu tốn thêm
chất lợng sản phẩm, phần lớn dùng hệ thống là hơi, đóng túi
nilon cho vào thùng caton.
16
Công nghệ mới ứng dụng tin học đã đợc một số công ty đa vào áp
dụng trong một số khâu của quá trình sản xuất nh phần thiết kế đợc
làm trên máy vi tính và đợc nháy mẫu ra nhiều cỡ khác nhau.
Phần II
Một số giải pháp chủ yếu phát triển ngành công
nghiệp Dệt May Việt Nam đến năm 2010 để đáp ứng
yêu cầu hội nhập wto
A/ Quan điểm và mục tiêu tổng quát phát triển
ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam đến năm 2010
Ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam là một trong những ngành
công nghiệp trọng tâm của quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá
đất nớc. Quyết Định số 55/2001/QĐ-TTg của Thủ tớng Chính phủ
về chiến lợc phát triển và một số cơ chế, chính sách hỗ trợ việc
thực hiện chiến lợc phát triển ngành công nghiệp Dệt May đến
năm 2010, với những quan điểm và mục tiêu nh sau:

xuất xứ nội địa trên sản phẩm Dệt May vừa là yêu cầu bắt buộc của
thị trờng nhập khẩu, vừa là môi trờng của chiến lợc phát triển ngành
Dệt May nhằm nâng cao phần lợi nhuận cho ngành và cho đất nớc.
- Phát triển nhanh bằng việc đầu t các công nghệ mới nhất,
với thiết bị hiện đại nhằm tạo ra một bớc nhảy vọt về sản lợng và
chất lợng. Mặt khác, cần coi trọng và tận dụng các loại thiết bị đã
qua sử dụng với công nghệ tiên tiến từ các nớc công nghiệp hoá, thế
hệ từ những năm 90 trở lại đây.
- Đầu t phát triển ngành Dệt May theo hớng chuyên môn
hoá cao theo loại công nghệ. Có nh vậy mới tạo đợc bớc nhảy vọt về
chất lợng sản phẩm. Mỗi doanh nghiệp cần thiết phải chuyên sâu và
làm chủ đợc một vài loại công nghệ để tạo ra những mặt hàng mới
18

Trích đoạn Giải pháp về điều hành và quản lý nguồn nhân lực Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành Chính sách hỗ trợ cây bông vả
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status