LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế của Việt Nam ngày càng phát triển, kéo theo những chính
sách của nhà nước về Kinh tế-Chính trị-Văn hóa-Xã hội cũng phaỉ thay đổi
theo để phù hợp với sự thay đổi này. Điều này cũng đồng nghĩa với việc nhà
nước cần thay đổi pháp luật cho phù hợp với thực tế cuộc sống, giúp cho pháp
luật có thể được thực thi một cách có hiệu quả cao trong cuộc sống đúng với ý
nghĩa cho sự ra đời của nó.
Kinh tế phát triển, quan hệ kinh doanh thương mại cũng phát triển theo.
Các quan hệ kinh doanh thương mại giữa các chủ thể kinh doanh được ghi
nhận thông qua hợp đồng kinh doanh thương mại. Chính vì vậy, nên khi nền
kinh tế có sự thay đổi thì pháp luật về hợp đồng kinh doanh thương mại cũng
thay đổi để đáp ứng được nhu cầu của các chủ thể kinh doanh lúc bấy giờ.
Đặc biệt, khi Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế
giới (WTO) thì nó đã đánh dấu một bước phát triển về kinh tế của Việt Nam.
Khi Việt Nam là thành viên của WTO thì các hoạt động kinh doanh thương
mại rất phát triển, rất đa dạng và phức tạp. Khi đó hợp đồng mua bán hàng
hoá quốc tế ngày càng nhiều, các vấn đề phát sinh từ quan hệ hợp đồng này
rất phức tạp. Sự thay đổi này chính là sự gia nhập thị trường quốc tế của các
cá nhân và doanh nghịêp Việt Nam, cũng như sự gia nhập thị trường trong
nước của các cá nhân và doanh nghiệp nước ngoài. Vì vậy pháp luật Việt
Nam cần phải thay đổi cho phù hợp, đây cũng chính là nghĩa vụ của một nước
thành viên khi tham gia tổ chức thương mại quốc tế. Chính vì thế nên tôi chọn
đề tài: "Những thay đôỉ cơ bản của pháp luật hợp đồng mua bán hàng
hoá trong kinh doanh thương mại khi Việt Nam trở thành thành viên của
WTO".
1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HOÁ
I.Sự ra đời của pháp luật hợp đồng
Trong cuộc sống, để tồn tại được thì con người phải đáp ứng đủ những
nhu cầu thiết yếu nhất. Những nhu cầu này có thể được đáp ứng do chính bản
Về bản chất pháp lý của hợp đồng thì đều là sự thoả thuận giữa các chủ
thêt tham gia quan hệ hợp đồng với mục đích làm phát sinh một hậu quả pháp
lý. Hậu quả pháp lý này có giá trị bắt buộc các bên phải thực hiện đúng theo
hợp đồng.
Theo quy định tại Đ388_BLDS2005 Việt Nam thì : “ Hợp đồng dân sự
là sự thoả thuận của các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và
nghĩa vụ dân sự”.
2. Nội dung của hợp đồng
2.1. Hợp đồng mua bán hàng hoá nói chung
a. Đặc điểm chung của hợp đồng mua bán hàng hoá
Hợp đồng mua bán hàng hoá nói chung là một hợp đồng dân sự. Chính
vì vậy nó có đặc điểm của một hợp đồng dân sự, đó là sự thoả thuận giữa các
bên trong quan hệ hợp đồng, thể hiện nguyên tắc tự do ý chí của các chủ thể
trong quan hệ hợp đồng. Theo đó các bên tự nguyện thoả thuận với nhau để
xác định nội dung của hợp đồng. Mục đích của sự thoả thuận này là phát sinh
một hậu quả pháp lý có giá trị ràng buộc các bên khi tham gia quan hệ này.
b.Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá
Pháp luật quy định chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá là tất cả
pháp nhân, cá nhân đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
Đối với cá nhân phải là người có năng lực hành vi dân sự.Những người
có năng lực hành vi dân sự bao gồm:
-Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (
Trừ trường hợp người đó bị mất năng lực hành vi dân sự hay hạn chế năng lực
3
hành vi dân sự ) thì có quyền tham gia các quan hệ hợp đồng mà pháp luật
cho phép.
-Người từ đủ 6 tuôỉ đến dưới 18 tuổi là người chưa thành niên và là chủ
thể của quan hệ pháp luật hợp đồng khi được pháp luật cho phép: Đó là những
hợp đồng mà phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý ( người từ đủ 6
tuổi đến dưới 15 tuổi) và những người từ đủ tuổi 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có
nhân và pháp nhân( các loại hình doanh nghiệp).
b. Đối tượng
Do tính chất đặc biệt của loại hợp đồng này nên đối tượng của hợp đồng
cũng khác với hợp đồng mua bán hàng hoá thông thường. Với hợp đồng mua
bán hàng hoá thông thường thì đối tượng của nó có thể là các loại hàng hoá
thông thường hay hàng hoá đặc biệt nhưng số lượng của nó là ít. Nhưng riêng
với hàng hoá trong lĩnh vực kinh doanh thương mại thì hàng hoá phải là
những loại có số lượng lớn và phải là những loại hàng hoá được phép kinh
doanh, đối với những hàng hoá hạn chế kinh doanh hay kinh doanh có điều
kiện thì phải tuân thủ những quy định của pháp luật về những hàng hoá đó.
Trong mỗi thời kì khác nhau thì các loại hàng hoá trong kinh doanh
thương mại lại khác nhau. Hiện nay theo quy định tại Điều 3 khoản 2 Luật
thương Mại 2005 thì hàng hoá đó là: “ Tất cả các loại động sản, kể cả động
sản hình thành trong tương lai; những vật gắn liền với đất đai”.
c. Khách thể
Nếu khách thể của hợp đồng mua bán hàng hoá thông thường là hàng
hoá và lợi ích thu được từ việc mua bán hàng hoá đó thì khách thể của hợp
đồng mua bán hàng hoá trong kinh doanh thương mại chỉ là lợi nhuận.
5
CHƯƠNG II: NHỮNG THAY ĐỔI CƠ BẢN CỦA
PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ
TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI QUA TỪNG
THỜI KÌ
I. Giai đoạn trước năm 1986
Cho đến nửa đầu thế kỉ XX, pháp luật về hợp đồng của Việt Nam nhìn
chung vẫn được quy định trong một thể thống nhất.
Trong giai đoạn cơ chế tập trung quan liêu bao cấp này thì khái niệm
hợp đồng mua bán hàng hoá trong kinh doanh thương mại còn rất mơ hồ. Hợp
đồng mua bán hàng hoá trong kinh doanh thương mại trong thời kì này không
khác với hợp đồng mua bán hàng hoá thông thường cho mấy. Và pháp luật
khía cạnh chủ thể và mục đích kí kết hợp đồng. Các chủ thể này kí kết hợp
đồng với nhau trên cơ sở sự chỉ đạo của cơ quan quản lý nhà nước. Quan hệ
hợp đồng kinh tế thời kì này không phản ánh đúng bản chất của quan hệ hàng
hoá, tiền tệ. Hợp đồng kinh tế cũng mất đi giá trị đích thực của mình với tư
cách là hình thức pháp lý chủ yếu của quan hệ kinh tế.
II.Giai đoạn sau năm 1986
Bước sang cơ chế thị trường, trong điều kiện đổi mới, khi quyền tự do
kinh doanh được xem như một quyên tắc hiến định thì nguyên tắc tự do, tự
nguyện, bình đẳng, tính độc lập và tự chịu trách nhiệm về tài sản được coi là
nguyên tắc cơ bản trong quan hệ hợp đồng. Cũng chính nguyên tắc đó, cùng
nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng, tính độc lập và tự chịu trách nhiệm về
tài sản được coi là nguyên tắc cơ bản trong quan hệ hợp đồng. Cũng chính
nguyên tắc đó cùng nguyên tắc tự định đoạt của việc giải quyết tranh chấp đã
chi phối toàn bộ quan hệ trao đổi của nền kinh tế thị trường. Điều đó dường
như đã làm mờ nhạt ranh giới đã được xác định giữa hợp đồng kinh tế và hợp
đồng dân sự trong cơ chế kế hoạch hoá. Để thích ứng với cơ chế kinh tế mới,
7
hợp đồng kinh tế đã buộc phải xác định lại tiêu chí nhận dạng của nó bao
gồm: Chủ thể, mục đích và hình thức hoạt động.
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989 ngay tại Đ1 đã định nghĩa về
hợp đồng kinh tế với bản chất hoàn toàn mới so với trước đây : “ Hợp đồng
kinh tế là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu, giao dịch giữa các bên kí kết
về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu,
ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh
doanh có sự quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng
cà thực hiện kế hoạch của mình “.
Như vậy, pháp luật hợp đồng kinh tế trong giai đoạn mới đã phản ánh
một cách nhìn nhận hoàn toàn khác về hợp đồng kinh tế, theo đó thừa nhận
nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng , thừa nhận địa bình đẳng của các bên
tham gia hợp đồng kinh tế và quan trọng hơn đó là gỡ bỏ những ràng buộc về
trong cơ chế kinh tế mới như thế nào khi mà điều kiện kinh tế xã hội khách
quan, nơi mà nó được sinh ra để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình là cơ chế
kinh tế kế hoạch hoá tập trung không còn nữa?.
Khi sự tồn tại song song và đồng thời của hai hợp đồng kinh tế và hợp
đồng dân sự còn đang gây nhiều tranh cãi thì năm 1997, Luật Thương Mại ra
đời ( Quốc Hội thông qua ngày 10/5/1997), trong đó điều chỉnh các hành vi
thương mại của thương nhân và quy định một số hợp đồng đặc thù trong lĩnh
vực thương mại. Có thể nói đây là một văn bản chứa đựng nhiều tư tưởng tiến
bộ và phối hợp với quan hệ trao đổi hàng hoá, dịch vụ trong nền kinh tế thị
trường. Tuy nhiên trong bối cảnh luật pháp Việt Nam mà cụ thể là pháp luật
về hợp đồng Việt Nam thì sự ra đời của Luật Thương Mại lại góp phần làm
rắc rối thêm những khó khăn trong việc áp dụng và thực thi pháp luật hợp
đồng. Được xây dựng không dựa trên quan điểm nhất quán nào về mối quan
hệ với Luật Dân Sự cũng như không nhằm làm thay thế Pháp lệnh hợp đồng
kinh tế hay dung hoà những mâu thuẫn nội tại trong pháp luật về hợp đồng
9
của Việt Nam, vô tình Luật Thương Mại lại càng làm nổi bật hơn những
vướng mắc về mặt lý luận và thực tiễn trong hệ thống các quy định về hợp
đồng của chúng ta.
Luật Thương Mại điều chỉnh hành vi thương mại của các thương nhân,
đồng thời quy định một số loại hợp đồng cụ thể trong lĩnh vực thương mại với
các yêu cầu về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, phương thức giải quyết
tranh chấp, thời hiệu giải quyết tranh chấp khá khác biệt. Luật này một phần
lặp lại các nguyên tắc của Luật Dân Sự về hợp đồng, mặt khác lại không quy
định mộ cách toàn diện và đầy đủ các vấn đề pháp lý có liên quan đến hợp
đồng trong khi cũng không dẫn chiếu đến các văn bản điều chỉnh khác. Vì
vậy, một số quan hệ hợp đồng thương mại đồng thời cũng rơi vào tầm điều
chỉnh của hợp đồng kinh tế, một số khác lại rơi vào phạm vi điều chỉnh của
Luật Dân Sự, dẫn đến sự khác nhau trong cơ chế điều chỉnh và áp dụng luật
đối với các quan hệ mang bản chất giống nhau.
2. Đối tượng
Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá là hàng hoá
Theo Điều 5 khoản 3_ Luật Thương Mại 1997 quy định hàng hoá chỉ
bao gồm máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng,
các động sản khác được lưu thông trên thị trường, nhà ở dùng để kinh doanh
dưới hình thức cho thuê, bán. Theo đó, nhiều loại tài sản khác không được coi
là hàng hoá như quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, cổ phiếu, trái phiếu,
và các chứng từ có giá, bí quyết và các loại tài sản vô hình khác. Việc giải
quyết tranh chấp có liên quan đến các loại tài sản này sẽ không được coi là
tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá trong kinh doanh thương mại theo
pháp luật Việt Nam. Như vậy, quy định về hàng hoá của Luật Thương Mại
1997 là đối tượng hẹp so với thông lệ quốc tế, điều này đã gây ra những khó
khăn nhất định khi chúng ta gia nhập WTO.
11
Theo Điều 3 khoản 2_ Luật Thương Mại 2005 đã mở rộng quy định về
hàng hoá. Theo đó, hàng hoá bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản
hình thành trong tương lai; và các vật gắn liền với đất đai. Tuy nhiên, khái
niệm về hàng hoá vẫn còn hạn chế, chúng ta dễ dàng nhận thấy trong quy
định này : Hàng hoá chỉ bao gồm các loại tài sản hữu hình. Như vậy các loại
tài sản vô hình khác như quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ…..chưa
được thừa nhận là hàng hoá. Trong khi đó các văn bản khác như Bộ Luật Dân
Sự 2005, Luật Đất Đai 2003 quy định người có quyền sử dụng đất có quyền
chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp…..thậm chí thừa nhận trên thực tế sàn
giao dịch về quyền sử dụng đất.
3. Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hoá
Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hoá là cách thức thể hiện ý chí
thoả thuận giữa các bên tham gia quan hệ hợp đồng. Nó có thể thực hiện bằng
lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Đối với các loại
hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn
bản thì phải tuân theo các quy định đó. Hình thức văn bản bao gồm cả điện