Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong cơ cấu nền kinh tế nói chung đặc biệt là cơ cấu kinh tế nông
nghiệp hiện đang có những bước chuyển biến rõ rệt để tăng hiệu quả kinh
tế. Trong những năm gần đây, nuôi trồng thuỷ sản đã phát triển mạnh
trong phạm vi cả nước. Diện tích nuôi trồng nuôi trồng thuỷ sản tăng
bình quân 4 %/năm. Hàng năm ngành thuỷ sản mang lại hàng chục triệu
USD đóng góp vào GDP của tỉnh, đồng thời tạo công ăn việc làm cho
những người dân. Được sự quan tâm của Nhà nước và lãnh đạo tỉnh,
người dân nuôi trồng thuỷ sản Thái Bình nhận được nhiều chính sách ưu
tiên trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, chính sách cho vay vốn…Do
đó, nghề nuôi trồng đã phát triển về diện tích, năng suất và hiệu quả nuôi
trồng. Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản trung bình hàng năm đạt 7 – 8 triệu
USD. Tuy nhiên khi mà ngành thuỷ sản đang có những định hướng mở
rộng quy mô khai thác đánh bắt và chế biến thì ở tỉnh Thái Bình ngư dân
lại chú trọng đến việc nhân giống, nuôi trồng những loại thuỷ sản có giá
trị kinh tế cao mang lại những lợi ích rõ rệt. Khi lượng khai thác ngày
càng cạn kiệt, nguồn tài nguyên biển đang cạn dần thì những ngư dân
Thái Bình đã và đang chuyển sang một mô hình nuôi trồng thuỷ sản mới
và đã đạt được những kết quả khả quan. Với những mặt hiệu quả như vậy
nhưng ngư dân ở đây lại chủ yếu dựa vào kinh nghiệm là chính nên chất
lượng và sản lượng chưa cao, trong khi đó khoa học kỹ thuật lại chưa đến
được với ngư dân Thái Bình. Để nhìn lại đánh giá và tìm kiếm những vấn
đề mà ngư dân bấy lâu vẫn chưa được giải đáp em đã lựa chọn đề tài:
“THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ NUÔI
TRỒNG THUỶ SẢN Ở TỈNH THÁI BÌNH”.
Nguyễn Thị Trang Lớp: KTPT 47B
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
chăn nuôi và khai thác các nguồn lợi từ thuỷ sản. Con người ngày càng biết
lợi dụng khả năng tiềm tàng về sinh vật sống trong môi trường nước để tiến
hành khai thác, nuôi trồng, chế biến chúng phục vụ cho nhu cầu đời sống
của mình. Do đối tượng lao động là các sinh vật thuỷ sinh nên các hoạt động
sản xuất của ngành thuỷ sản gắn liền với đất và nước. Thuỷ sản là ngành bao
gồm những ngành sản xuất chuyên môn nhỏ hẹp như: nuôi trồng, khai thác
và chế biến. Sản phẩm thuỷ sản là các loại tôm, cá, cua, ba ba, ngao, sò…ở
nước ngọt, mặn, lợ thu được do nuôi trồng hoặc khai thác tự nhiên.
Nuôi trồng thủy sản là một trong những chuyên ngành nhỏ hẹp, thu
hút nhiều lao động. Nuôi thủy sản chia làm 3 loại hình:
- Nuôi thuỷ sản nước ngọt:
Là hoạt động kinh tế khai thác con giống trong vùng nước ngọt tự nhiên, sản
xuất giống nhân tạo và ương nuôi các loài thuỷ sản (mà nơi sinh trưởng cuối
cùng của chúng là trong nước ngọt) để chúng đạt tới kích cỡ thương phẩm.
Ở đây, nước ngọt được hiểu là môi trường nước có độ mặn thấp hơn 0,5‰.
Một số loại hình nuôi thuỷ sản nước ngọt:
a. Nuôi thuỷ sản ao hồ nhỏ: Các loài cá trắm, chép, trôi, mè, mè Vinh, trê lai,
rô phi, tra, ba sa, v.v… là những đối tượng nuôi ổn định trong nghề nuôi
thuỷ sản ao hồ nhỏ. Nguồn giống sinh sản nhân tạo hoàn toàn chủ động,
năng suất bình quân đạt hơn 3 tấn/ha. Riêng cá tra nuôi trong ao (hầm) với
những ứng dụng kỹ thuật tiên tiến, có thể cho năng suất tới 300 tấn/ha mỗi
năm. Gần đây, một số loài mới nhập nuôi hoặc mới tạo ra như cá trôi Ấn Độ
(rohu), mrigala, cá chép lai ba máu, ... đang được phát triển nhanh.
Nguyễn Thị Trang Lớp: KTPT 47B
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
b. Nuôi cá mặt nước lớn (nuôi trong hồ tự nhiên, hồ chứa): Hình thức nuôi
lồng, bè trong sông, suối, hồ chứa rất phát triển với các đối tượng có giá trị
kinh tế cao như cá tra, basa, rô phi, trắm cỏ, chép lai, trôi Ấn Độ, v.v…
b. Trồng rong câu, rong sụn: Những tỉnh trồng rong câu chủ yếu ở Việt Nam
là Hải Phòng, Thừa Thiên Huế và Bến Tre. Rong sụn là loài mới được nhập
và trồng có kết quả, đang được nhân rộng ở nhiều địa phương ở miền Trung
và Nam Bộ. Nhìn chung, với những nỗ lực trong việc mở rộng diện tích nuôi
trồng thuỷ sản; ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất giống; chú trọng
những đối tượng nuôi thế mạnh của từng vùng; áp dụng phương thức nuôi
tiên tiến, đem lại hiệu quả cao, nhất là áp dụng công nghệ nuôi công nghiệp
chu trình khép kín, ít thay nước đối với đối tượng tôm sú; phát triển các khu
nuôi trồng thuỷ sản công nghệ cao, v.v… hoạt động nuôi, trồng các loài
động, thực vật thuỷ sinh đã thu được kết quả vượt bậc, tỷ lệ sản lượng thuỷ
sản nuôi trồng trong tổng sản lượng thuỷ sản đã tăng từ 29,16% năm 2001
đến 35,08% năm 2003.
Như vậy để phát triển ngành thuỷ sản thì không thể chỉ quan tâm đến
khai thác truyền thống mà hiện nay và sau này cần tập trung các nguồn lực
vào phát triển hai tiểu ngành nuôi trồng và chế biến thuỷ sản. Đặc biệt ưu
tiên phát triển nuôi trồng thuỷ sản vì phát triển tiểu ngành này có ý nghĩa
chiến lược trong quá trình phát triển ngành thuỷ sản nói chung.
2. Đặc điểm của ngành thuỷ sản
2.1. Đối tượng sản xuất là các sinh vật trong nước
Các loài động thực vật sống trong môi trường nước mặt là đối tượng
sản xuất của ngành thuỷ sản. Môi trường nước mặt cho sản xuất thuỷ sản
gồm có biển các mặt nước trong nội địa. Những sinh vật sống trong môi
trường nước, với tính cách là đối tượng lao động của ngành thuỷ sản, có một
số đặc điểm đáng lưu ý sau:
Nguyễn Thị Trang Lớp: KTPT 47B
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
- Về trữ lượng, khó xác định một cách chính xác trữ lượng thuỷ sản có
trong một ao hồ hay ngư trường. Đặc biệt ở các vùng mặt nước rộng lớn, các
thông thuỷ, du lịch sinh thái sông nước…Thông thường, thuỷ vực được sử
dụng theo hướng đa mục tiêu nhằm nâng cao hiệu quả sủ dụng chúng. Để sử
dụng có hiệu quả và bảo vệ thuỷ vực trong ngành thuỷ sản cần chú ý đến
những vấn đề sau:
- Thực hiện quy hoạch các loại hình thuỷ vực và xác định hướng sử
dụng thuỷ vực cho ngành thuỷ sản. Trong quy hoạch cần chú ý những thuỷ
vực có mục đích chính vào nuôi trồng thuỷ sản cần kết hợp với các hướng
kinh doanh khác.
- Chú trọng việc bảo vệ môi trường nước, kể cả nước biển. Thực hiện
những biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn mọi nguyên nhân gây ô nhiễm môi
trường nước. Mặt khác, phải thường xuyên cải tạo thuỷ vực, tăng nguồn
dinh dưỡng cho các loại thuỷ sinh vật nhằm nâng cao năng suất sinh học của
thuỷ vực.
- Sử dụng thuỷ vực một cách tiết kiệm, đặc biệt cần hạn chế chuyển
đổi mục đích sử dụng thuỷ vực là các ao, hồ, các thùng đấu…sang đất xây
dựng cơ bản hay mục đích khác.
2.3. Ngành thuỷ sản là ngành sản xuất vật chất có tính hỗn hợp, tính liên
ngành cao
Với tính cách là một ngành sản xuất vật chất, ngành thuỷ sản bao gồm
nhiều hoạt động sản xuất cụ thể có tính chất tương đối khác nhau nhưng có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau như: khai thác, nuôi trồng, chế biến và dịch
vụ thuỷ sản. Khi trình độ lực lượng sản xuất thấp kém, các hoạt động sản
xuất cụ thể nói trên chưa có sự tách biệt rõ rang, thậm chí còn lồng vào
nhau. Trong điều kiện như vậy, khối lượng sản phẩm sản xuất ra còn ít với
chất lượng thấp và chủ yếu đáp ứng như cầu thị trường nhỏ hẹp. Ngày nay,
dưới tác động mạnh mẽ của sự phát triển lực lượng sản xuất và phân công
Nguyễn Thị Trang Lớp: KTPT 47B
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
ngành này như: cho vay trong chương trình khai thác xa bờ, tín dụng đầu tư
xây dựng các cơ sở hậu cần dịch vụ nghề cá theo quy hoạch…
Sản xuất nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản phụ thuộc nhiều vào điều kiện
tự nhiên nhất là điều kiện thuỷ văn, bão lũ. Đối với nước ta có bờ biển dài,
diễn biến bão lũ phức tạp đã gây thiệt hại nặng cho nghề nuôi trồng thuỷ sản
của cả một vùng hay một địa phương. Trong nhiều trường hợp, thiên tai có
thể gây thiệt hại cả đến tính mạng của các ngư dân, nhất là ngư dân đánh bắt
ngoài khơi. Để hạn chế những hậu quả này, cần chứ ý những vân đề chủ yếu
là:
- Cần đầu tư các phương tiện thực hiện dự báo khí tượng thuỷ văn
phát hiện và cảnh báo sớm các thiên tai. Xây dựng các vùng tránh bão cho
tàu thuyền đánh cá,..
- Ban hành và thực thi những chính sách ưu đãi cho các vùng, hoạt
động kinh doanh nuôi trồng, khai thác thuỷ sản, khắc phục rủi ro hay thiên
tai nhằm nhanh chóng ổn định đời sống phát triển sản xuất.
- Từng bước nghiên cứu xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm
đối với hoạt động sản xuất kinh doanh trong ngành thuỷ sản.
3. Vai trò của ngành thuỷ sản trong nền kinh tế quốc dân
3.1. Ngành thuỷ sản cung cấp những sản phẩm thực phẩm quý cho tiêu
dùng của dân cư, cung cấp nguyên liệu cho phát triển một số ngành khác
Các kết quả nghiên cứu của các chuyên gia về dinh dưỡng đã khẳng
định hầu hết các loại thuỷ sản đều là loại thực phẩm giàu đạm, dễ tiêu hoá,
phù hợp với sinh lý dinh dưỡng ở mọi lứa tuổi. Càng ngày thuỷ sản càng
được tin tưởng như một loại thực phẩm ít gây bệnh tật và ít chịu ảnh hưởng
của ô nhiễm hơn. Xét về thành phần dinh dưỡng cho thấy: so với các loại
thịt, các loại thực phẩm là thuỷ sản có chứa ít chất mỡ hơn, nhiều chất
khoáng hơn nhưng chất đạm cũng khá cao. Ví dụ trong thịt bò, tỷ lệ tính
Nguyễn Thị Trang Lớp: KTPT 47B
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
từng ngành, từng khu vực vào tốc độ tăng trưởng chung. Phương pháp này
cho phép đồng thời xét đến sự tác động theo cả hai chỉ tiêu tốc độ tăng
trưởng và tỷ trọng của từng ngành, khu vực trong tốc độ tăng trưởng chung.
Do vậy, chỉ tiêu đóng góp vào sự tăng trưởng của từng ngành, từng khu vực
cho thấy rõ hơn, lượng hoá được vai trò của từng ngành, từng khu vực trong
nền kinh tế.
3.3. Tham gia vào xuất khẩu, thu ngoại tệ cho đất nước
Đối với những nước có tiềm năng về thuỷ vực và nguồn lợi thuỷ sản,
phát triển ngành thuỷ sản tạo ra nguồn hàng xuất khẩu có giá trị, thuỷ sản,
đến nay đã có những bước tiến quan trọng trong việc đổi mới công nghệ,
nâng cao sức cạnh tranh. Đã có 100 doanh nghiệp được EU công nhận đủ
điều kiện an toàn vệ sinh, hơn 120 doanh nghiệp được cấp phép vào thị
trường Mỹ. Các doanh nghiệp cũng từng bước nâng cao năng lực xúc tiến
thương mại để đi vào các thị trường mới. Đối với toàn ngành thuỷ sản đã có
những tiến bộ đáng kể về gắn kết giữa yêu cầu của thị trường ngoài nước (về
số lượng, chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm) với thực tiễn sản xuất kinh
doanh chế biến, nuôi trồng, khai thác với phát triển cơ sở hậu cần dịch vụ;
gắn kết giữa khâu chế biến xuất khẩu với yêu cầu vệ sinh trong nuôi trồng,
bảo quản và khai thác sản phẩm, gắn kết giữa khâu chế biến xuất khẩu với
chế biến phục vụ nhu cầu thị trường nội địa. Hiện nay sản phẩm thuỷ sản
Việt Nam đã xuất khẩu tới 75 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, nhưng
quy mô thị trường còn nhỏ bé, kể cả thị trường Mỹ, Nhật Bản, EU…vì vậy
phải tiếp tục mở rộng thị trường này. Muốn vậy, cần đảm bảo ổn định và chủ
động về sản lượng, an toàn về vệ sinh và chất lượng sản phẩm xuất khẩu. Do
đó, việc gắn kết phát triển nguyên liệu với chế biến xuất khẩu một cách chặt
chẽ và toàn diện là đòi hỏi bắt buộc của phát triển bền vững ngành thuỷ sản
trong những năm tới.
Nguyễn Thị Trang Lớp: KTPT 47B
Nguyễn Thị Trang Lớp: KTPT 47B
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
mưa bão đến với những cơn bão mạnh và liên tiếp đã gây thiệt hại nặng nề
cho người dân.
4.1.2. Môi trường nước
Nước là một trong số những nhân tố quan trọng đối với ngành thuỷ
sản. Diện tích mặt nước không những quyết định sự tồn tại của các loại thuỷ
sản mà còn quyết định cả quy mô phát triển của ngành. Quốc gia, vùng nào
có diện tích mặt nước càng lớn thì càng có khả năng mở rộng phát triển
ngành thuỷ sản. Tuỳ thuộc vào từng loại thuỷ sản mà điều chỉnh diện tích
nước cho hợp lý. Do khí hậu ngày càng diễn biến thất thường, nguồn nước
mặn đang xâm nhập vào vùng nội đồng làm cho môi trường nước thay đổi
ảnh hưởng đến môi trường sinh sống của các loại thuỷ sản. Tận dụng được
điều này để phát triển những loài sống ở vùng nước lợ. Mặt khác do sự ô
nhiễm môi trường do con người như thuốc trừ sâu, phân bón, rác thái,… đã
làm thay đổi và ảnh hưởng tiêu cực đến việc nuôi trồng.
4.2. Nhân tố kinh tế - xã hội
4.2.1. Lao động
Nguồn lực lao động là yếu tố hàng đầu trong mọi hoạt động sản xuất
thuỷ sản. Lao động thuỷ sản gắn liền với lao động nông thôn. Do đặc điểm
tính chất kinh tế - xã hội của các tổ chức sản xuất thuỷ sản, chủ yếu là kinh
tế hộ, tư nhân, tập thể nên lực lượng lao động bao gồm cả những người
ngoài độ tuổi lao động mà có khả năng tham gia sản xuất. Lao động thuỷ sản
chuyên nghiệp là những người có thu nhập chủ yếu từ các hoạt động khai
thác, nuôi trồng, chế biến và dịch vụ hậu cần thuỷ sản. Họ có những kiến
thức kỹ năng nghề nghiệp. Ngoài ra, còn một số lượng đông đảo lao động
thuỷ sản bán chuyên nghiệp, họ tham gia sản xuất thuỷ sản vào thời kỳ nông
nhàn hoặc kết hợp làm thủy sản vào trong quá trình sản xuất nông - lâm
thị trường tiêu thụ còn có vai trò quan trọng để kiểm nghiệm và chứng minh
tính đúng đắn của các chủ trương, chính sách và biện pháp phát triển của cơ
Nguyễn Thị Trang Lớp: KTPT 47B
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
quan Nhà nước. Thị trường tiêu thụ ngày càng mở rộng sẽ làm cho việc nuôi
trồng ngày càng phát triển, nhu cầu thị trường ngày càng cao đòi hỏi chất
lượng nuôi trồng đáp ứng được, sản phẩm đa dạng.
Thị trường thuỷ sản phát triển tập trung quy mô lớn ở những nơi, vùng
có điều kiện về sản xuất hàng hoá, lưu thông hàng hoá. Đó là những vùng
chuyên canh nuôi trồng, khai thác, chế biến thuỷ sản, những đô thị lớn.
4.3.4. Khoa học công nghệ
- Công nghệ giống: công nghệ giống có ảnh hưởng trực tiếp quyết
định tới năng suất và chất lượng sản phẩm thuỷ sản nuôi trồng. Nếu công
nghệ giống thuỷ sản của ngành tốt thì sẽ tạo ra những sản phẩm có khối
lượng, chất lượng cao và ngược lại nếu giống thuỷ sản không tốt, bị thoái
hoá, bệnh tật thì sẽ gây khó khăn cho sản xuất và kinh doanh thuỷ sản.
- Công nghệ sau thu hoạch: đó là công nghệ bảo quản, chế biến và vận
chuyển sản phẩm. Nếu trình độ và quy mô của công nghệ sau thu hoạch lớn,
hiện đại thì sẽ nâng cao được tỷ suất hàng hoá cũng như giá trị kinh tế của
thuỷ sản làm cho sản phẩm thuỷ sản ngày càng đa dạng, đáp ứng nhu cầu
ngày càng cao của thị trường.
- Kỹ thuật nuôi: kỹ thuật nuôi có ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất của
nuôi trồng thuỷ sản, người nuôi trồng phải nắm bắt được kỹ thuật nuôi thì
mới đảm bảo được cho con giống sinh trưởng và phát triển tốt.
4.3.5. Hình thức tổ chức nuôi trồng
Các hình thức nuôi cũng ảnh hưởng không nhỏ đến ngành thuỷ sản.
Nó quyết định năng suất, sản lượng nuôi trồng. Có các loại sau:
- Nuôi quảng canh hay còn gọi là nuôi truyền thống là hình thức nuôi
xuất mà cụ thể là ngành chuyên môn hoá hẹp.
5. Các chỉ tiêu phản ảnh hiệu quả nuôi trồng thuỷ sản
Nguyễn Thị Trang Lớp: KTPT 47B
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Nuôi trồng thuỷ sản diễn ra chủ yếu ở các hộ, trang trại. Vì vậy, hệ
thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả nuôi trồng thuỷ sản phải phản ánh mức độ
hiệu quả kinh tế cá biệt. Có thể sử dụng hệ thống chỉ tiêu sau:
Ký hiệu
- Lợi nhuận sau thuế: Pr
- Thuế: T
- Tổng chi phí: TC
- Số công lao động : L
- Khấu hao tài sản cố định: A
- Tổng giá trị sản xuất: GO
- Chi phí trung gian: IC
- Giá trị gia tăng: VA
- Diện tích nuôi trồng: S
- Sản lượng: Q
- Giá bán: P
Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế:
- Lợi nhuận trên tổng chi phí sản xuất: Pr/TC
- Lợi nhuận trên tổng số công lao động: Pr/L
- Lợi nhuận trên diện tích nuôi trồng: Pr/S
- Giá trị gia tăng trên tổng chi phí sản xuất: VA/TC
- Giá trị gia tăng trên tổng số công lao động: VA/L
- Giá trị sản xuất trên tổng chi phí sản xuất: GO/TC
- Giá trị sản xuất trên tổng số công lao động: GO/L
- Giá trị sản xuất trên diện tích nuôi trồng: GO/S
1.2. Đất đai
Nguyễn Thị Trang Lớp: KTPT 47B
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Đất đai Thái Bình phì nhiêu màu mỡ, tươi tốt do được bồi tụ bởi hệ
thống sông Hồng và sông Thái Bình. Hệ thống công trình thuỷ lợi tưới tiêu
thuận lợi góp phần làm nên cánh đồng 14 – 15 tấn/ha.
Tổng diện tích tự nhiên là 153596 ha. Tiềm năng về thuỷ sản là một
trong những thế mạnh của tỉnh Thái Bình. Thái Bình có 3 thuỷ vực khác
nhau. Trong đó vùng nước mặn chiếm 17 km
2
chủ yếu danh cho hoạt động
khai thác các loại hải sản như cá Trích, cá Đé, tôm He… vùng nước lợ có
khoảng 20705 ha hiện đang được khai thác để nuôi trồng thuỷ sản như tôm,
cua, ngao, vọp, rau câu…Bên cạnh đó, các cồn cát ven biển như cồn Vành,
cồn Thủ, cồn Đen và vùng đất ngập mặn thích hợp trồng tập trung cây sú
vẹt, bần. Hịên tại có gần 5000 ha rừng vừa giữ đất, chắn sóng, vừa tạo môi
trường sinh thái và cảnh quan thiên nhiên du lịch ven biển. Vùng nước ngọt
với tổng diện tích có khả năng nuôi trồng thuỷ sản là 9256 ha và các triền cỏ
ven đê, ven sông và hệ thống kênh mương ao hồ rộng khắp là điều kiện để
phát triển chăn nuôi.
1.3. Khí hậu
Thái Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa: mùa nóng, mùa mưa
nhiều từ tháng 5 đến tháng 10, khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm
sau. Nhiệt độ trung bình trong năm là 23 – 24
0
C . Lượng mưa trung bình
1400 mm – 1800 mm. Độ ẩm trung bình vào khoảng 85 – 90 %.
1.4. Hải văn
tế, cá sống ven bờ có 115 loại chiếm khoảng 37,6%, nhóm cá nổi có 17 loại
và nhóm cá đáy có 98 loại. Trữ lượng cá vào khoảng 67 ngàn tấn và khả
năng khai thác ngoản 40 ngàn tấn. Trong đó trữ lượng cá nổi khoảng 28
ngàn tấn và khả năng khai thác là 15 ngàn tấn, trữ lượng cá đáy khoảng 30
ngàn tấn và khả năng khai thác khoảng 16 ngàn tấn.
Nguyễn Thị Trang Lớp: KTPT 47B
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Về tôm, biển Thái Bình có 15 loại thuộc 7 giống và 5 họ. Nhiều loài
có giá trị kinh tế cao và có sản lượng cao như loài tôm he, tôm rảo, tôm bộp,
tôm vàng… Sản lượng nuôi trồng tôm là 2627 tấn trong đó tôm sú 1890 tấn.
Về mực, vùng biển Thái Bình có nhiều loại sản lượng cao như: mực
ống, mực nang, mực cơm. Cho đến nay, số lượng giống loài, họ mực chưa
được điều tra đánh giá nhưng xét điều kiện tự nhiên khu vực và số liệu thống
kê kết quả sản xuất hàng năm cho thấy trữ lượng mực vùng biển Thái Bình
hàng năm 2200 – 2500 tấn và khả năng khai thác từ 1500 – 2000 tấn. Trong
đó mực ống có trữ lượng lớn nhất với khả năng khai thác từ 250 – 300 tấn.
- Nguồn lợi vùng nước mặn, lợ:
Hải sản ưu thế trong vùng nước mặn, lợ ở Thái Bình là các loại tôm
có giá trị kinh tế cao như: tôm he chiếm 25 – 30%, tôm rảo, tôm vàng… Sản
lượng tôm tự nhiên được khai thác hàng năm đạt 20 tấn. Đặc biệt là con tôm
sú với diện tích nuôi trồng lớn cho giá trị kinh tế cao với sản lượng 1463 tấn
( năm 2008). Bên cạnh tôm, các bãi ngao tự nhiên và các bãi ngao nhân tạo
ở Tiền Hải và Thái Thuỵ được nhân dân khai thác và nuôi trồng mỗi năm
khai thác hàng trăm tấn. Rong câu chỉ vàng mọc tự nhiên ở các vùng nước lợ
và ven của sông Thái Thụy, Tiền Hải cũng được khai thác từ 2 – 3 tấn rong
câu khô/năm.
- Rừng ngập mặn:
Trong khoảng thời gian 1976 – 1990 rừng ngập mặn khu vực bị tàn
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thái Bình)
Người dân Thái Bình vốn có truyền thống hiếu học, chăm chỉ cần cù
lao động khả năng nắm bắt nhanh với khoa học kỹ thuật và nền kinh tế thị
trường. Những người dân ven biển Thái Bình có truyền thống và kinh
nghiệm nuôi trồng thuỷ sản nhất là nuôi tôm, ngao. Do đó việc chuyển giao
khoa học kỹ thuật tiên tiến gặp nhiều thuận lợi. Dân số Thái Bình phân bố
chủ yếu ở nông thôn với công việc chủ yếu là nông nghiệp là chính. Tuy
nhiên những năm gần đây xu hướng dân số thành thị tăng lên đáng kể.
Bảng 2: Lao động sử dụng cho ngành thuỷ sản
chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2007 Năm 2008
Tổng số lao động Người 76346 76823
Lao động đánh bắt Người 11596 11596
Lao động nuôi trồng Người 64750 65227
( Nguồn Sở NN & PTNT tỉnh Thái Bình)
Lao động nuôi trồng năm 2008 tăng 477 người và tăng 7,74 % so với
năm 2007. Mặc dù, số lao động tăng nhưng vẫn thấp là do: nuôi trồng thuỷ
sản vẫn còn đang phát triển, vốn bỏ ra ban đầu lớn nên người dân chưa tham
gia nhiều. Tỉnh đang có chủ trương, khuyến khích việc nuôi trồng bằng cách
đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ về giống…Ở một số nơi người dân đang kết hợp
trồng lúa với nuôi cá.
3.2. Cơ sở hạ tầng
3.2.1. Thuỷ lợi
Hầu hết các công trình thuỷ lợi phục vụ nông nghiệp đã được xây
dựng. Hệ thống kênh mương đã và đang được bê tông hoá.
Nhờ có nguồn vốn cuả Nhà nước và hàng chục tỷ đồng vốn góp của nhân
dân mà hàng chục chiếc cống và hành chục km đê bao đã được xây dựng.
Đến nay toàn tỉnh đã có 50 km đê ngăn mặn.
Nguyễn Thị Trang Lớp: KTPT 47B
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Bên cạnh nguồn vốn tự huy động trong nhân dân đầu tư phát triển hệ
thống kết cấu hạ tầng phục vụ cho nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, lợ ở Thái
Bình. Trong thời gian qua nhờ nguồn vốn của Nhà nước đầu tư theo các
chương trình mục tiêu và các dự án phát triển kinh tế - xã hội để xây dựng
cơ sở hạ tầng cho nuôi trồng thuỷ sản vùng nước mặn, lợ khoảng 37 tỷ
đồng. Tập trung nhất là vốn hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng từ các chương
trình 327,773 và chương trình 224 đối với nuôi trồng thuỷ sản mặt nước
mặn, lợ..
Bảng 3: Vốn đầu tư cho ngành thuỷ sản năm 2009
STT NỘI DUNG Vốn ngân sách
(triệu đồng)
A Vốn Trung Ương hỗ trợ 55200
1 Xây dựng hạ tầng nuôi trồng thuỷ
sản
18200
2 Chương trình giống thuỷ sản 2000
3 Vốn khu neo đậu tránh bão cho tàu 35000
B Vốn ngân sách tỉnh 6900
1 Vốn quy hoạch và chuẩn bị đầu tư 1900
2 Vốn đối ứng khu neo đậu tránh bão
cho tàu
6000
Tổng 62100
(Nguồn: Sở NN & PTNT tỉnh Thái Bình)
Trong năm 2009 nguồn vốn do Trung Ương hỗ trợ đầu cho ngành
thuỷ sản là rất lớn, tổng số vốn đầu tư là 62100 triệu đồng trong đó vốn TƯ
là 55200 triệu đồng, chiếm 88,9 % tổng số vốn đầu tư. Vốn TƯ đầu tư chủ