Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đề tài : Một số giải pháp nhằm thực hiện kế hoạch ngân sách trên
địa bàn huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định giai đoạn 2011 – 2015.
Sinh viên : Trần Thị Vóc
Lớp : Kế hoạch 48B
Khoa : Kế hoạch và Phát triển
Mã SV : CQ483391
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NSNN : Ngân sách Nhà nước
NSTW : Ngân sách Trung ương
NSĐP : Ngân sách Địa phương
XNQD : Xí nghiệp Quốc doanh
XDCB : Xây dựng cơ bản
TDTT : Thể dục thể thao
AN – QP : An ninh quốc phòng
GD – ĐT : Giáo dục đào tạo
VH – TT : Văn hóa thông tin
PT – TH : Phát thanh truyền hình
TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
KHHGĐ : Kế hoạch hòa gia đình
ANTT : An ninh trật tự
CNH – HĐH : Công nghiệp hóa hiện đại hóa
TNDN : Thu nhập doanh nghiệp
GTGT : Giá trị gia tăng.
SV : TrÇn ThÞ Vãc Líp : KÕ Ho¹ch 48B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
DANH M C S B NG BI UỤ Ơ ĐỒ Ả Ể
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đề tài : “ Một số giải pháp nhằm thực hiện kế hoạch ngân
sách trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định giai đoạn 2011 – 2015” là sự
Trong phần này nêu rõ và phân tích tình hình thực hiện kế hoạch ngân sách
trên địa bàn huyện giai đoạn 2005 – 2009, sau đó đưa ra những mặt tích cực, hạn chế
trong công tác thực hiện kế hoạch.
Chương III: Một số giải pháp nhằm thực hiện kế hoạch ngân sách trên địa
bàn huyện Nghĩa Hưng giai đoạn 2011 – 2015.
SV : TrÇn ThÞ Vãc Líp : KÕ Ho¹ch 48B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chương này nêu lên những định hướng trong kế hoạch ngân sách sắp tới,
đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu đề ra trong kế hoạch đó. Đặc
biệt đưa ra các kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện tốt hơn
công tác chấp hành kế hoạch
Do thời gian nghiên cứu và trình độ có hạn nên đề tài chắc chắn sẽ không
tránh khỏi thiếu sót, em xin chân thành cảm ơn sự đóng góp ý kiến của thầy và các
bạn để đề tài được hoàn chỉnh hơn.
Trong quá trình thực hiện đề tài em xin chân thành cảm ơn PGS – TS Nguyễn
Tiến Dũng và các cán bộ, nhân viên trong phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Nghĩa
Hưng đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo để em có thể hoàn thành đề tài một cách tốt
nhất.
SV : TrÇn ThÞ Vãc Líp : KÕ Ho¹ch 48B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
VÀ KẾ HOẠCH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC.
I. HỆ THỐNG TÀI CHÍNH QUỐC GIA VÀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1. Hệ thống tài chính quốc gia
1.1. Khái niệm
Trong nền kinh tế thị trường, chính sách tài chính và tiền tệ là những công cụ
chủ yếu của Chính phủ tác động tới hoạt động kinh tế. Những chính sách này được
coi là công cụ điều tiết vĩ mô nhằm hướng tới các mục tiêu như tăng trưởng , ổn định,
công bằng xã hội và nâng cao hiệu quả kinh tế.
sản xuất kinh doanh thông qua việc thu hút và sử dụng vốn của các doanh nghiệp
ngày càng được mở rộng. Trong hệ thống tài chính quốc gia, tài chính doanh nghiệp
được coi như tế bào mang tính chất tích cực; có khả năng tái tạo ra các nguồn tài
chính góp phần tạo sức mạnh cho toàn bộ hệ thống. Do vậy nó có tác động rất lớn
đến sự phát triển hay suy thoái của nền sản xuất.
- Tài chính trung gian: Là các tổ chức tài chính đóng vai trò cầu nối, thực hiện
trung chuyển các nguồn tài chính, tụ điểm vốn trong hệ thống tài chính. Thông qua
việc thu hút và sử dụng các nguồn tài chính, các tổ chức tài chính trung gian chuyển
đổi nguồn vốn vào các kênh, đáp ứng các nhu cầu khác nhau của nến kinh tế mà bản
thân thị trường tài chính không giải quyết được hoặc giải quyết không hiệu quả. Có
nhiều loại tổ chức tài chính trung gian như: các ngân hàng thương mại, thị trường
chứng khoán, công ty bảo hiểm, công ty xổ số…Các tổ chức tài chính trung gian này
trong điều kiện hiện nay với nền kinh tế mở sẽ ngày càng phát triển.
- Tài chính quốc tế: Là các quan hệ tài chính được tạo lập và hình thành trong
các trao đổi, giao dịch quốc tế. Đặc biệt khi nền kinh tế đất nước ngày càng phát
triển, hội nhập quốc tế và khu vực đang là xu thế thì các quan hệ tài chính giữa tài
chính quốc gia và quốc tế lại ngày càng mở rộng.
- Tài chính hộ gia đình ( tài chính dân cư) và các tổ chức xã hội. Đây là một
tụ điểm vốn quan trọng trong hệ thống tài chính. Hoạt động tài chính của các nước có
nền kinh tế phát triển và hoạt động tài chính của nước ta những năm gần đây đã chỉ
ra rằng: nếu có biện pháp thích hợp, chúng ta có thể huy động được một khối lượng
vốn đáng kể từ các hộ gia đình để phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế, đồng thời
còn góp phần to lớn vào việc thực hiện các chính sách về định hướng tích lũy và tiêu
dùng của Nhà nước. Tuy nhiên cũng cần nhận thấy rằng: tính chất phân tán và đa
dạng là đặc điểm nổi bật của tài chính hộ gia đình.
Mỗi bộ phận của hệ thống tài chính hoạt động thông qua các công cụ của mình
nhằm khai thác, động viên và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính của đất
nước , phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.
2. Ngân sách nhà nước
SV : TrÇn ThÞ Vãc Líp : KÕ Ho¹ch 48B
2.2. Cơ cấu ngân sách
SV : TrÇn ThÞ Vãc Líp : KÕ Ho¹ch 48B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2.2.1. Thu ngân sách nhà nước
Thu ngân sách nhà nước là hoạt động của nhà nước nhằm tập trung mọi bộ
phận của cải xã hội dưới hình thức giá trị theo những hình thức và biện pháp phù hợp
để lập quỹ ngân sách nhà nước.
Thu ngân sách nhà nước là hoạt động của nhà nước và gắn liền với vai trò của
nhà nước trong xã hội, nhà nước với tư cách là chủ thể quyền lực của xã hội quyết
định nội dung và hình thức của các khoản thu nhằm tập trung của cải của xã hội
thành lập nên ngân sách nhà nước.
Hoạt động thu ngân sách nhà nước là hoạt động tất yếu của mọi quốc gia trên
thế giới, xuất phát từ vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế. Do vậy, hoạt động thu
ngân sách nhà nước là quan trọng và cần thiết. Đối tượng của hoạt động thu ngân
sách nhà nước là của cải biểu hiện dưới hình thức giá trị.
Tuy thu ngân sách nhà nước có những biểu hiện khác nhau nhưng theo luật
ngân sách nhà nước thì về nguyên tắc tất cả các khoản thu của ngân sách nhà nước
được hạch toán bằng Việt Nam đồng.
Nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước là thuế và lệ phí hàng năm chiếm
khoảng 80% tổng các khoản thu của ngân sách nhà nước, góp phần lớn vào thực hiện
kế hoạch ngân sách của nhà nước của mỗi quốc gia. Nguồn thu từ phí , lệ phí và thuế
phản ánh rõ nét tình trạng phát triển kinh tế, qua các khoản thu này mà nhà nước có
những định hướng đúng đắn để điều chỉnh các hoạt động của nền kinh tế trung ương,
địa phương ở tầm vĩ mô để định hướng nền kinh tế.
Tùy thuộc vào các tiêu chuẩn, mục đích phân loại khác nhau mà các khoản thu
ngân sách nhà nước được phân thành nhóm khác nhau. Việc phân loại các khoản thu
ngân sách nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng trong quản lý phân tích, đánh giá,
hoạch định và thực hiện chính sách tài chính quốc gia, chính sách phát triển kinh tế
xã hội. Để đảm bảo các khoản thu được phản ánh vào ngân sách nhà nước, phản ánh
đúng thực trạng kinh tế, tài chính…Người ta đưa ra các tiêu chuẩn để phân loại các
chất tích lũy và chi có tính chất tiêu dùng.
Chi có tính chất tích lũy có 3 khoản chi chính là:
- Chi đầu tư cơ bản (đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế -
xã hội
- Chi cấp vốn cho doanh nghiệp nhà nước
- Chi dự trữ nhà nước
Các khoản chi có tính chất tiêu dùng:
- Chi quản lý nhà nước
- Chi cho các hoạt động sự nghiệp
- Chi bảo vệ quốc phòng – an ninh
SV : TrÇn ThÞ Vãc Líp : KÕ Ho¹ch 48B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Chi khác
Trong đó chi quản lý nhà nước thường chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng số
chi ngân sách nhà nước. Nó bao gồm chi quản lý hoạt động chính của các cơ quan
nhà nước các cấp.
Tuy nhiên chi cho các hoạt động sự nghiệp bao gồm: chi cho các hoạt động sự
nghiệp y tế, giáo dục, nghiên cứu khoa học, đào tạo, thể dục thể thao, trợ cấp chính
sách xã hội, bảo hiểm xã hội…lại là nhóm chi có tỷ trọng khá lớn trong tổng số chi
ngân sách nhà nước có tính chất tiêu dùng.
Chi cho bảo vệ quốc phòng an ninh: Là khoản chi hết sức cần thiết của quốc gia,
nhằm đảm bảo cho sự nghiệp quốc phòng an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
Chi khác: Là khoản chi mang tính chất đảm bảo cho sự phát triển ổn đình bền
vững cho nền kinh tế, đây cũng là khoản chi mang tính chất bất thường như các
khoản chi trợ giá nhằm trợ giúp cho các đối tượng, vùng gặp các điều kiện khó khăn,
chi trả nợ nước ngoài, chi trả lãi suất tín phiếu, thương phiếu.
Ngoài ra chi ngân sách địa phương (cụ thể là đối với huyện) còn có nhiệm vụ
chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính của tỉnh và chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới.
Tóm lại, cơ cấu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu và chi ngân sách
phản ánh sự chênh lệch giữa nguồn thu và chi của ngân sách nhà nước. Có thể xảy ra
tạo điều kiện phát huy lợi thế nhiều mặt của từng vùng, từng địa phương trong cả
nước. Nó cũng cho phép quản lý và kế hoạch hóa ngân sách nhà nước được tốt hơn,
điều chỉnh mối quan hệ giữa các cấp chính quyền, các cấp ngân sách tốt hơn.
Tổ chức và hoạt động của nhà nước ta dựa trên nguyên tắc tập trung, dân chủ.
Do vậy, đòi hỏi việc phân cấp quản lý ngân sách cũng không nằm ngoài yêu cầu đó.
Việc phân cấp quản lý ngân sách phải đảm bảo quyền lực nhà nước tập trung ở trung
ương nghĩa là phải giữ vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương nhưng đồng thời
cũng tạo quyền chủ động cho các địa phương, đảm bảo tính độc lập tương đối giữa
các cấp ngân sách, tính độc lập ở đây chỉ là tương đối bởi vì các cấp ngân sách nhà
nước đều hoạt động vì mục tiêu chung của nhà nước, tạo cơ sở vật chất cho nhà nước
thực hiện các chức năng của mình. Ngoài ra, việc phân cấp ngân sách phải được thực
hiện đồng bộ với phân cấp kinh tế và tổ chức bộ máy hành chính, đồng thời phải dựa
trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của chính quyền địa phương. Đặc biệt, phải quán triệt
tính công bằng khi thực hiện phân cấp ngân sách.
Đối với nước ta ngân sách nhà nước được chia thành 4 cấp gồm:
- Ngân sách Trung ương
- Ngân sách cấp tỉnh ( các Thành phố trực thuộc Trung ương)
- Ngân sách cấp huyện ( quận, huyện, thị xã trực thuộc tỉnh)
- Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn
Nhiệm vụ, quyền hạn của ngân sách các cấp được quy định cụ thể, rõ ràng
trong Luật ngân sách nhà nước. Mỗi cấp ngân sách đều có các khoản thu được hưởng
trọn vẹn 100% và các khoản thu được phân chia theo tỷ lệ % nhất định.
SV : TrÇn ThÞ Vãc Líp : KÕ Ho¹ch 48B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Riêng ngân sách các địa phương (tỉnh, huyện , xã) còn được khoản thu trợ cấp
trực tiếp từ ngân sách cấp trên. Với các khoản chi tiêu, mỗi cấp ngân sách đều có các
khoản chi thường xuyên và chi đầu tư tùy thuộc vào phạm vi thực hiện chức năng,
nhiệm vụ của mỗi cấp chính quyền nhà nước theo luật định.
4. Phân cấp ngân sách cấp huyện
Sau đây là phân cấp cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách cấp huyện
- Thu từ huy động đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy
định tại khoản 3 điều 8 Luật ngân sách nhà nước
- Thu các khoản tiền phạt, tịch thu theo quy định của pháp luật
- Thu kết dư ngân sách huyện
- Các khoản thu khác theo quy định
- Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên
- Thu chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách huyện năm trước sang ngân
sách huyện năm sau
- Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài trực tiếp
cho huyện
b) Các khoản thu được phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách cấp tỉnh
và ngân sách cấp huyện theo quy định đối với ngân sách cấp huyện nói chung, ngoài
ra huyện còn được phân chia thêm một phần theo tỷ lệ phần trăm đối với nguồn thu
lệ phí trước bạ, không kể lệ phí trước bạ nhà đất phát sinh trên địa bàn và được thành
lập quỹ đầu tư theo quy định của Chính phủ.
4.2. Nhiệm vụ chi của ngân sách cấp huyện gồm
a) Chi thường xuyên về:
- Các hoạt động sự nghiệp giáo dục – đào tạo, y tế thực hiện theo phân cấp
của tỉnh
- Các hoạt động sự nghiệp văn hóa thông tin, thể dục – thể thao, xã hội theo
phân cấp
- Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do cơ quan cấp huyện quản lý : nông lâm ngư
nghiệp, thủy lợi, giao thông, sự nghiệp thị chính, các sự nghiệp kinh tế khác.
- Các nhiệm vụ về quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội.
- Hoạt động của cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng Cộng Sản Việt Nam ở huyện.
- Hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội ở huyện: ủy ban mặt trận Tổ
quốc, hội cựu chiến binh…
- Tài trợ cho các tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp.
- Chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật.
b) Chi đầu tư phát triển về đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh
tình trạng bội chi ngân sách với mức bội chi xấp xỉ bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế,
khoảng dưới 6%/năm. Đặc biệt, tính cân đối của kế hoạch ngân sách còn được thể
hiện qua cân đối trong từng khoảng thu, từng khoảng chi. Đó chính là sự hợp lý, cân
đối trong tỷ trọng giữa các khoản thu, khoản chi.
1.2.2. Tính phân bổ
Kế hoạch ngân sách nhà nước còn có tính phân bổ vì ngân sách chính là sự
cam kết của Chính phủ với địa phương về sự bảo đảm một phần nguồn lực tài chính
cho các ngành và các địa phương. Tính phân bổ của kế hoạch ngân sách thể hiện ở
SV : TrÇn ThÞ Vãc Líp : KÕ Ho¹ch 48B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
việc tổ chức, sắp xếp, phân phối một cách có tính toán, cân nhắc theo những tỷ lệ hợp
lý nhằm nâng cao tính hiệu quả kinh tế xã hội các nguồn tài lực đảm bảo cho nền
kinh tế phát triển vững chắc và ổn định theo các tỷ lệ cân đối đã định của chiến lược
và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. Tính cho tới hiện nay , cơ sở phân bổ ngân sách
được căn cứ vào quy mô đầu vào của các địa phương, ngành, lĩnh vực nhưng thực tế
lại không đem lại hiệu quả cao. Do đó cần đổi mới phương thức phân bổ theo đầu ra
của nền kinh tế, gắn liền với các hoạt động kinh tế xã hội nhằm nâng cao hiệu quả
của việc thực hiện kế hoạch ngân sách.
1.2.3. Tính luật
Kế hoạch ngân sách có tính luật bởi ngân sách nhà nước là một bộ luật được thể
chế hóa, do đó kế hoạch ngân sách phải được Quốc hội phê duyệt ( thường là trong thời
hạn một năm). Các hoạt động thu , chi của ngân sách nhà nước đều được tiến hành trên
cơ sở những luật lệ nhất định. Đó là các luật thuế, pháp lệnh thuế, chế độ thu, chế độ chi
tiêu, tiêu chuẩn định mức chi tiêu…do nhà nước ban hành. Việc dựa trên cơ sở pháp luật
để tổ chức các hoạt động thu, chi ngân sách là một yêu cầu có tính khách quan, nó bắt
nguồn từ phạm vi hoạt động của ngân sách nhà nước được tiến hành trên mọi lĩnh vực
và có tác động tới mọi chủ thể kinh tế xã hội. Tất nhiên, do đó mà việc đổi mới hệ thống
ngân sách nhà nước cũng là một vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp. Kế hoạch ngân
sách có thể lập trong 1 năm, 3 năm, 5 năm.
1.3. Nhiệm vụ của kế hoạch ngân sách
hoạch phát triển kinh tế xã hôi.
Kế hoạch ngân sách nhà nước là một trong những kế hoạch thuộc nhóm kế
hoạch mang tính biện pháp và cân đối vĩ mô của hệ thống kế hoạch hóa nền kinh tế
quốc dân. Nó đảm bảo việc thực hiện các chức năng , nhiệm vụ của nhà nước trong
đó có chức năng thực hiện các cân đối tài chính quốc gia.
Kế hoạch ngân sách nhà nước cũng góp phần vào việc hoàn thiện các chính
sách tài khóa vĩ mô.
Kế hoạch ngân sách nhà nước là kế hoạch tài chính cơ bản để hình thành, phân
phối, sử dụng có kế hoạch quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, để mở rộng sản xuất và
thỏa mãn các nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Nó là một công cụ tài chính để nhà
nước phân phối thu nhập quốc dân, thực hiện chương trình phát triển kinh tế xã hội,
sử dụng hợp lý các tài nguyên trong các ngành sản xuất xã hội.
3. Mối quan hệ giữa kế hoạch ngân sách cấp xã, ngân sách cấp huyện, ngân
sách cấp tỉnh
Theo Luật NSNN, nước ta có 4 cấp chính quyền từ trung ương đến cơ sơ do vậy
cũng có 4 cấp ngân sách để phục vụ cho chức năng, nhiệm vụ của chính quyền mỗi
cấp trong điều hành nền kinh tế, xã hội, xây dựng an ninh quốc phòng...Ngoài cấp
NSTW, ở địa phương có ngân sách cấp tỉnh (thành phố); huyện (quận, thị xã); xã
(phường, thị trấn) được gọi chung là NSĐP. Để giúp cho trung ương trong việc quản
lý ngân sách, các cấp chính quyền địa phương được chính phủ uỷ quyền thực hiện và
SV : TrÇn ThÞ Vãc Líp : KÕ Ho¹ch 48B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
quản lý một số nhiệm vụ nhất định trong hoạt động của hệ thống NSNN. Còn việc
quyết định tổng dự toán NSNN và NSĐP, cân đối và quyết toán ngân sách trên địa
bàn vẫn do trung ương quyết định.
NSTW đảm nhận những nhiệm vụ chi chính và quan trọng mang tính chiến lược
trên phạm vi toàn quốc; thực hiện điều chỉnh cơ cấu kinh tế, đảm bảo sự phát triển
cân đối, hợp lý giữa các vùng, các ngành, các địa phương theo tốc độ và bước đi
thích hợp. NSĐP tập trung chăm lo cơ sơ hạ tầng, phúc lợi xã hội, quản lý nhà nước
đối với các lĩnh vực được phân ngân sách địa phương thay vì chỉ giao một số nhiệm
KH
Năm…
Bình quân
thời kỳ kế
hoạch
TT 1 2 3 4
I
THU NỘI ĐỊA
1 Thu từ XNQD Trung ương
2 Thu từ XNQD địa phương
3 Thu khu vực ngoài QD
4 Lệ phí trước bạ
5 Thuế sử dụng đất nông nghiệp
6 Thuế nhà đất
7 Thuế chuyển quyền sử dụng đất
8 Thu tiền sử dụng đất
9 Tiền thuê đất
10 Thu phí và lệ phí
11 Thu tại xã
12 Thu khác ngân sách
II
THU BỔ SUNG TỪ NS TỈNH
1 Thu cân đối NS
2 Thu bổ sung theo mục tiêu
III
THU KẾT DƯ NGÂN SÁCH NĂM
TRƯỚC
IV
SỐ BỔ SUNG CÂN ĐỐI (IV=II – III)
V
bổng… và các hoạt động kinh tế xã hội khác.
Đặc biệt là các khoản thu để lại chi quản lý qua ngân sách được thu từ 3 quỹ: quỹ
quốc phòng, quỹ an ninh, quỹ bão lũ và các khoản đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng.
2. Kế hoạch chi ngân sách huyện
Kế hoạch chi ngân sách huyện được đưa ra nhằm đảm bảo sử dụng hợp lý
nguồn kinh phí của nhà nước, phục vụ cho các nhiệm vụ kinh tế xã hội đặt ra trong
một thời kỳ trên địa bàn huyện. Kế hoạch chi ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện
trong một thời kỳ chính là việc xác định quy mô, tốc độ tăng, cơ cấu từng loại khoản
mục chi ngân sách của huyện và các giải pháp nhằm thực hiện chi có hiệu quả, tiết
kiệm ngân sách. Có thể biểu hiện kế hoạch chi ngân sách trong một số năm trên địa
bàn huyện qua bảng sau:
Bảng 1.2 : Nội dung kế hoạch chi ngân sách huyện
Nội dung
TH năm
trước
(năm…)
KH
năm…
Bình quân
thời kỳ
kế hoạch
TT 1 2 3 4
I Chi đầu tư phát triển
1 Trả nợ XDCB
SV : TrÇn ThÞ Vãc Líp : KÕ Ho¹ch 48B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2 Chi đầu tư XDCB
II Chi thường xuyên
1 Chi sự nghiệp kinh tế
2 Chi sự nghiệp khoa học
SV : TrÇn ThÞ Vãc Líp : KÕ Ho¹ch 48B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trong quá trình hoạt động, là một khoản mục chi chiếm tỷ trọng rất lớn trong chi ngân
sách. Được sự phân cấp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nội dung chi thường
xuyên trong kế hoạch ngân sách huyện đã được cụ thể hóa trong bảng trên. Trong đó
chi cho sự nghiệp Giáo dục – Đào tạo thường chiếm tỷ trọng cao nhất trong chi
thường xuyên.
2.3.Chi dự phòng ngân sách
Đây là khoản chi nhằm đối phó trong trường hợp có những khoản chi bất thường
không kiểm soát được. Trong quá trình lập kế hoạch chi ngân sách thì việc chủ động đưa
ra một khoản dự phòng sẽ hạn chế được tình trạng thâm hụt ngân sách.
2.4. Chi bổ sung ngân sách xã
Đây là khoản chi nhằm bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu để đáp ứng
nhu cầu ngày càng tăng mà ngân sách xã không thể đáp ứng chi đầy đủ.
3. Dự kiến khả năng cân đối thu chi ngân sách
Trong nội dung kế hoạch ngân sách huyện không thể không dự tính khả năng
cân đối thu chi ngân sách trên địa bàn huyện. Bởi cân đối thu chi ngân sách có một
vai trò hết sức quan trọng và là yêu cầu khách quan trong việc phân bố và điều hành
thu chi ngân sách. Cân đối ngân sách nhà nước là một nội dung quan trọng và xuyên
suốt trong quá trình lập, chấp hành, quyết toán ngân sách nhà nước, trong đó cân đối
ngân sách trong quá trình lập ngân sách càng giữ vai trò quan trọng vì là điểm khởi
đầu cho một chu trình ngân sách.
Cân đối ngân sách trên địa bàn huyện chính là sự cân đối giữa các khoản thu,
chi ngân sách trên địa bàn huyện, cân đối trong từng khoản mục thu hay chi trong
tổng thu, chi ngân sách trên địa bàn huyện. Ngân sách trên địa bàn huyện thường bị
bội chi nhưng được sự hỗ trợ cân đối ngân sách từ nguồn thu bổ sung của ngân sách
tỉnh. Tuy nhiên, cũng không thể ỷ lại vào nguồn bù đắp bội chi này mà cần phải có
những giải pháp , chính sách để tự cải thiện cân đối ngân sách bằng chính nguồn lực
ngân sách huyện, trong đó chủ yếu là điều chỉnh lại kế hoạch các khoản chi sau đó
mới đến các giải pháp phát triển , tăng thu ngân sách nhằm bù đắp khoản thiếu hụt.
phần hóa) , công ty khai thác các công trình thủy lợi, trại giống lúa Nghĩa Sơn, nông
trường quốc doanh Rạng Đông. Kinh tế Nhà nước trên địa bàn huyện còn nhỏ bé, giá trị
sản xuất chiếm tỷ trọng nhỏ trong nền kinh tế. Huyện có 32 hợp tác xã nông nghiệp,
trong đó có 16 hợp tác xã nông nghiệp toàn xã, 16 HTX có quy mô thôn, xóm. Toàn
huyện có 58.489 hộ, trong đó có 18.290 hộ sản xuất kinh doanh cá thể, chiếm 31,27%
tổng số hộ. Trong đó hộ sản xuất kinh doanh thương mại có 4.346 hộ chiếm 23,76%...Số
doanh nghiệp tư nhân tăng nhanh nhất là từ khi có luật doanh nghiệp. Hình thức hoạt
động thay đổi từ tổ hợp lên công ty TNHH. Đến nay toàn huyện có 18 công ty TNHH.
Tổng số vốn điều lệ : 8100 triệu đồng. Khu vực kinh tế tư nhân đã tạo được nhiều việc
làm, thu hút được nhiều lao động; khuyến khích được vốn đầu tư, vốn kinh doanh, đóng
SV : TrÇn ThÞ Vãc Líp : KÕ Ho¹ch 48B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
góp ngày càng lớn trong nguồn thu ngân sách. Tuy nhiên, sản xuất phân tán,quy mô nhỏ
bé, chất lượng hiệu quả chưa cao.
Tổng thu ngân sách trên địa bàn huyện đến năm 2009 đạt 166.844 triệu đồng.
Tổng chi ngân sách huyện 179.606 triệu đồng.
Để khai thác tiềm năng ven biển của huyện,các cấp lãnh đạo đã tập trung chỉ
đạo phát triển ngư nghiệp nói riêng và khai thác tiềm năng kinh tế biển nói chung,coi
đây là lĩnh vực sản xuất mũi nhọn hết sức quan trọng để đẩy nhanh quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn của huyện.
Các hoạt động thương mại, dịch vụ ngày càng được mở rộng và tăng cường,
đáp ứng tương đối kịp thời yêu cầu phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân. Tổng số
cơ sở kinh doanh thương mại, nhà hàng trên địa bàn huyện là 1665 cơ sở trong đó có
4 cơ sở nhà nước, 1661 hộ cá thể. Hoạt động dịch vụ bao gồm: dịch vụ trong lĩnh vực
nông nghiệp, dịch vụ vận tải, dich vụ thủy hải sản…ngày càng đáp ứng đầy đủ kịp
thời hơn yêu cầu phục vụ sản xuất, xây dựng kết cấu hạ tầng ở địa phương, phục vụ
lưu thông hàng hóa nông sản, thực phẩm thủy hải sản, đời sống dân sinh và góp phần
quan trọng trong phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Các công trình điện, đường, trường, trạm, nước sách luôn được các cấp ủy
Đảng, chính quyền và nhân dân quan tâm phát triển. Với phương châm: “ Nhà nước
Về giáo dục: số giáo viên được tăng dần , nguyên nhân chính do nhu cầu phát
triển của ngành, 1 phần là do nguồn đào tào tăng, chính sách nhà nước ưu tiên cho
sinh viên sư phạm. Mức lương, mức phụ cấp ưu đãi cho ngành giáo dục được quan
tăm, đời sống giáo viên được cải thiện.. Cơ cấu giáo viên trường học dần ổn đình đi
vào cân đối các bộ môn.
Chính sách dân số gia đình và sức khỏe đạt kết quả tốt. Đến năm năm 2008 tỷ
lệ phát triển dân số dưới 1% .Quy mô dân số của huyện khoảng 216,6 nghìn người, tỷ
lệ đô thị hóa đạt 7,5%
Bằng mọi nguồn vốn và nhiều hình thức đầu tư đã tạo thêm nhiều việc làm
mới, hàng năm tạo thêm việc làm mới cho khoảng 4% lao động tăng thêm. Mở mang
các cơ sở dạy nghề công lập và dân lập
II. THỰC TRẠNG THU CHI NGÂN SÁCH
1. Về thu ngân sách
1.1. Quy mô, tốc độ tăng của thu ngân sách nhà nước trên địa bàn
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện ngày càng tăng. Không
những kế hoạch giao thu ngân sách đặt ra ngày càng cao, năm sau cao hơn năm trước
mà tình hình thực thu ngân sách trên địa bàn cũng rất cao, dự kiến tốc độ tăng bình
quân thực thu thời kỳ 2005 – 2009 đạt khoảng 11,1%/ năm. Trong khi đó tốc độ tăng
bình quân giá trị sản xuất công nghiệp là 11,5%/ năm dẫn đến tỷ trọng thu ngân sách
nhà nước trong giá trị sản xuất công nghiệp cũng là tương đối; dao động trong
SV : TrÇn ThÞ Vãc Líp : KÕ Ho¹ch 48B
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
khoảng từ 2,3% đến 4,8%. Năm 2007 tỷ trọng này đạt cao nhất là 4,83% và thấp
nhất vào năm 2006 (chỉ chiếm 2,35%).
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện qua các năm đều vượt kế hoạch
đề ra. Đạt được điều này là do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng hầu hết là do các
khoản mục trong thu ngân sách đều tăng và hoàn thành, thậm chí vượt kế hoạch. Cụ
thể tình hình thu ngân sách trên địa bàn huyện như sau:
Bảng 2.1: Tình hình thực hiện thu ngân sách trên
Đơn vị : Triệu đồng