UBND HUYỆN
THANH SƠN
PHÒNG GD & ĐT
ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 9 THCS
CẤP HUYỆN
NĂM HỌC 2011-2012
ĐỀ CHÍNH THỨC MÔN NGỮ VĂN
Thời gian làm bài 150 phút không kể thời gian giao đề
Đề thi gồm có 1 trang
Câu 1(4 điểm):
a) Hãy chép những dòng thơ có từ “trăng” trong bài thơ: Đồng chí của
Chính Hữu và Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận.
b) So sánh hình ảnh “trăng” trong hai bài thơ trên.
Câu 2(6 điểm):
Viết bài thuyết minh giới thiệu về Nguyễn Du và giá trị của tác phẩm
Truyện Kiều.
Câu 3.(10 điểm )
Cảm nhận về vẻ đẹp của con người trong tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa của
nhà văn
Nguyễn Thành Long
Hết
Họ và tên thí sinh Số báo danh
HƯỚNG DẪN CHẤM
THI CHỌN HỌC SINH LỚP 9 THCS CẤP HUYỆNNĂM HỌC 2011-
2012
MÔN NGỮ VĂN
Câu Đáp án Điểm
Câu 1(4đ)
a)Hãy chép những dòng thơ có từ “trăng” trong bài thơ:
Đồng chí của Chính Hữu và Đoàn thuyền đánh cá của Huy
Yêu cầu: Học sinh cần vận dụng kĩ năng làm văn thuyết minh
về một tác giả, tác phẩm văn học và những hiểu biết về
Nguyễn Du và Truyện Kiều để làm tốt bài văn.
a. Giới thiệu khái quát về Nguyễn Du và Truyện Kiều:
- Nguyễn Du được coi là một thiên tài văn học, một tác gia
văn học tài hoa và lỗi lạc nhất của văn học Việt Nam.
- Truyện Kiều là tác phẩm đồ sộ của Nguyễn Du và là đỉnh
cao chói lọi của nghệ thuật thi ca về ngôn ngữ tiếng Việt.
0,5 đ
0,5 đ
b. Thuyết minh về cuộc đời và sự nghiệp văn học của Nguyễn
Du :
- Thân thế: xuất thân trong gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm
quan và có truyền thống văn học.
- Thời đại: lịch sử đầy biến động của gia đình và xã hội.
- Con người: có năng khiếu văn học bẩm sinh, bản thân mồ
côi sớm, có những năm tháng gian truân trôi dạt. Như vậy,
năng khiếu văn học bẩm sinh, vốn sống phong phú kết hợp
trong trái tim yêu thương vĩ đại đã tạo nên thiên tài Nguyễn
Du.
- Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du với những sáng tạo lớn,
có giá trị cả về chữ Hán và chữ Nôm.
c. Giới thiệu về giá trị Truyện Kiều:
* Giá trị nội dung :
- Truyện Kiều là một bức tranh hiện thực về xã hội bất công,
tàn bạo.
- Truyện Kiều đề cao tình yêu tự do, khát vọng công lí và ca
ngợi phẩm chất cao đẹp của con người.
- Truyện Kiều tố cáo những thế lực tàn bạo chà đạp lên quyền
sống của con người.
2. Vẻ đẹp của các nhân vật:
1 đ
a. Nhân vật anh thanh niên:
-Yêu nghề, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc
-Yêu đời, giàu nghị lực, ham đọc sách, biết sắp xếp tạo
cuộc sống phong phú …
-Hiếu khách, chân thành, cởi mở, quan tâm đến mọi người,
khiêm tốn
Nhận xét chung: nhân vật anh thanh niên tiêu biểu cho con
người lao động có vẻ đẹp bình dị, thầm lặng mà cao quý;
gợi cho người đọc những suy nghĩ sâu xa …
b. Các nhân vật khác:
+ Ông hoạ sĩ già:
-Có tâm hồn nhạy cảm cái đẹp và khao khát đi tìm cái đẹp
– đối tượng của nghệ thuật
-Tâm huyết, say mê sáng tạo nghệ thuật
+ Cô kỹ sư trẻ:
- Có tâm hồn đầy nhiệt huyết, khao khát được cống hiến;
- Có nhận thức đúng đắn và sâu sắc về lẽ sống đẹp và
vững tin vào con đường mà cô đang đi tới.
+ Ông kỹ sư vườn rau Sa Pa, anh cán bộ nghiên cứu sét…
đều là những người lao động thầm lặng, hết mình
- Liên hệ mở rộng…
1. Đánh giá chung:
-Truyện đã xây dựng được tình huống hợp lý, cách kể
chuyện tự nhiên, kết hợp độc đáo giữa tự sự, trữ tình với
bình luận… Qua đó, nhà văn Nguyễn Thành Long đã
khẳng định vẻ đẹp của người lao động và ý nghĩa của
những công việc thầm lặng.
-Truyện có ý nghĩa giáo dục sâu sắc đối với người đọc.
Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang.
(Quê hương - Ngữ văn 8, Tập hai)
Và
Mặt trời xuống biển như hòn lửa.
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
(Đoàn thuyền đánh cá - Ngữ văn 9, Tập một)
Câu 2 ( 4 điểm )
Tuyệt vời
Ba bảo tôi rất tuyệt vời. Tôi tự hỏi như thế có đúng không?
Để rất tuyệt vời bạn Sa-ra bảo cần có mái tóc đẹp như bạn ấy. Tôi thì
chẳng có.
ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI LỚP 9 -VÒNG 2
Năm học :2012-2013
Môn thi :Ngữ văn
Thời gian làm bài :150 phút(Không kể thời gian giao
đề)
(Đề thi gồm 02 trang)
Để rất tuyệt vời Dát-xtin bảo cần có răng trắng khoẻ như răng bạn
ấy. Tôi thì chẳng có.
Để rất tuyệt vời bạn Dếch-xi-ca bảo mặt phải không tàn nhang. Tôi lại
bị tàn nhang đầy mặt.
Để rất tuyệt vời bạn Mác bảo phải là học sinh thông minh nhất lớp.
Tôi lại không.
Để rất tuyệt vời bạn Xti-phơn bảo phải biết pha trò kể chuyện tiếu
lâm. Tôi lại không.
Để rất tuyệt vời bạn Lau-ren bảo phải sống trong một căn nhà đẹp ở
trong một khu phố sang trọng. Tôi lại không.
Để rất tuyệt vời bạn Mát thêu bảo phải mặc quần áo và đi giầy thật
- Ca ngợi sự thanh bình và êm ả của sông nước, của biển trời đã tạo điều
kiện lí tưởng cho người dân chài có thể ra khơi đánh cá (trời trong, gió nhẹ;
sóng đã cài then ).
- Ca ngợi sự mạnh mẽ, khỏe khoắn và sự hào hứng, nhiệt tình của con
người trong lao động (dân trai tráng; hăng như con tuấn mã; phăng mái
chèo; câu hát căng buồm )
* Mỗi đoạn thơ mang một vẻ đẹp riêng:
- Về nội dung:
+ Nếu như thiên nhiên trong đoạn thơ của Tế Hanh hiện lên với vẻ đẹp
của một buổi sáng trong trẻo, mát lành thì trong đoạn thơ của Huy Cận lại là
vẻ đẹp của buổi hoàng hôn trên mặt biển với ánh mặt trời đỏ rực
+ Vẻ đẹp lao động trong đoạn thơ của Tế Hanh được tô đậm ở sức mạnh
thể chất (dân trai tráng; bơi thuyền; phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt) còn
trong đoạn thơ của Huy Cận lại được tô đậm ở sức mạnh tinh thần (câu hát
căng buồm)
- Về nghệ thuật:
+ Đoạn thơ của Tế Hanh làm người đọc ấn tượng bởi thể thơ tám chữ với
cách dùng các động từ mạnh (hăng, phăng, vượt) và cách so sánh bất ngờ
(chiếc thuyền - con tuấn mã)
+ Đoạn thơ của Huy Cận lại hấp dẫn người đọc bởi thể thơ bảy chữ với
cách miêu tả độc đáo (mặt trời xuống biển, câu hát căng buồm), cách dùng
hình ảnh ẩn dụ giàu sức gợi (sóng cài then, đêm sập cửa)
* Qua sự miêu tả, người đọc còn có thể nhận ra được cái không khí của
từng thời đại:
+ Đoạn thơ của Tế Hanh được sáng tác trong thời kì người dân Việt Nam
đang sống trong cảnh nô lệ. Do vậy, sự ra khơi ở đây tuy mạnh mẽ nhưng yên
lặng (chỉ một chiếc thuyền ra khơi ).
+ Đoạn thơ của Huy Cận được sáng tác vào thời kì cả miền Bắc bước
vào xây dựng chủ nghĩa xã hội. Do đó, không khí lao động tập thể và niềm
vui của con người sống trong xã hội mới được thể hiện khá rõ (cả đoàn
II. Về hình thức :
Học sinh biết cách làm kiểu bài nghị luận. Bài viết có bố cục chặt chẽ.
Biết vận dụng nhuần nhuyễn các thao tác lập luận phù hợp.
Biểu điểm :
- Điểm3,5- 4 :
Hiểu rõ yêu cầu của đề bài, đảm bảo các yêu cầu về kĩ năng và kiến thức,
có lập luận chặt chẽ, có sự kết hợp nhuần nhuyễn các thao tác lập luận, bài
viết có cảm xúc, diễn đạt lưu loát.
- Điểm 2,5-3:
Hiểu rõ yêu cầu của đề bài, đáp ứng hầu hết các yêu cầu về kĩ năng và
kiến thức, có lập luận tương đối chặt chẽ, có sự vận dụng thành công thao tác
lập luận, diễn đạt tương đối tốt.
Điểm 1,5-2:
Hiểu yêu cầu của đề bài, đáp ứng được cơ bản các yêu cầu về kĩ năng và
kiến thức, lập luận chưa thật chặt chẽ, có thể còn một số lỗi nhỏ về diễn đạt.
Điểm 0,5- 1:
Chưa nắm vững yêu cầu của đề bài, chưa đáp ứng được 1/2 yêu cầu về
kĩ năng và kiến thức, mắc lỗi chính tả và diễn đạt.
Điểm 0: Để giấy trắng.
Lưu ý : Vì tính đa nghĩa của câu chuyện nên thí sinh chọn phương án nào
hợp lí, thuyết phục đều có thể chấp nhận được.
Câu 3
1. Yêu cầu về kĩ năng:
- Có kĩ năng nghị luận về một vấn đề văn học, có lí lẽ thuyết phục và
thể hiện được sự cảm thụ thơ tinh tế.
- Bố cục hợp lí, rõ ràng, diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả, dùng
từ, ngữ pháp.
- Văn viết trong sáng, có cảm xúc.
2. Yêu cầu về kiến thức:
Bài viết có thể trình bày theo những cách khác nhau nhưng đại thể có
trình bày chưa có sức thuyết phục, còn một số sai sót về chính tả, diễn đạt,
trình bày.
- Điểm 3 - 4: Hiểu đề song nội dung còn sơ sài, giải quyết vấn đề còn lúng
túng, không xoáy được trọng tâm, diễn đạt lủng củng.
- Điểm 1 - 2: Không nắm vững yêu cầu của đề, bài làm sơ sài, mắc nhiều
lỗi chính tả, diễn đạt, trình bày.
- Điểm 0: Hoàn toàn lạc đề, diễn đạt kém hoặc bỏ giấy trắng.
Lưu ý : Điểm tổng của toàn bài là tổng điểm của từng câu không làm
tròn.
Bài 2: Trong bài Mùa xuân nho nhỏ, Thanh Hải viết :
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa.
Kết thúc bài Viếng lăng Bác, Viễn Phương có viết :
Mai về Miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác.
Trình bày cảm nhận của em về những câu thơ trên.
Gợi ý : Khác nhau và giống nhau
- Khác nhau :
+ Thanh Hải viết về đề tài thiên nhiên đất nước và khát vọng hoà
nhập dâng hiến cho cuộc đời.
+ Viễn Phương viết về đề tài lãnh tụ, thể hiện niềm xúc động
thiêng liêng, tấm lòng tha thiết thành kính khi tác giả từ Miền nam vừa
được giải phóng ra viếng lăng Bác.
- Giống nhau :
+ Cả hai đoạn thơ đều thể hiện ước nguyện chân thành, tha thiết
được hoà nhập, cống hiến cho cuộc đời, cho đất nước, nhân dân… Ước
nguyện khiêm nhường, bình dị muốn được góp phần dù nhỏ bé vào cuộc
đời chung.
+ Các nhà thơ đều dùng những hình ảnh đẹp của thiên nhiên là
biểu tượng thể hiện ước nguyện của mình.
Câu 3 (5 điểm)
Trong bài “Nguyễn Du, nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam”, nhà nghiên
cứu văn học Nguyễn Khánh Toàn viết:
“Một tâm hồn không bị sóng gió vùi dập, một trái tim không hồi hộp
trước những nỗi cay đắng của bức tranh thế sự, một lương tâm không phẫn
nộ trước những thói đời vô nhân bạc nghĩa, thì nghệ sĩ, dẫu có tài lỗi lạc đến
đâu cũng không tìm ra được những âm điệu, những vần thơ khiến cho người
trong cuộc nghe như khóc, như than, như uất ức, như oán hờn. Làm sao mà
rung động và gợi lên một tiếng dội trong lòng hàng triệu người? Lời văn chỉ
là lời văn, có thể rất thanh tao, hào nhoáng, nhưng không thể làm cho đất
bằng nổi sóng, nếu từ trong đáy lòng nghệ sĩ không bốc lên một nhiệt tình
sâu sắc, một ngọn lửa căm thù.”
(Trích " Tập nghị luận và phê bình văn học", NXBGD 1973-Trang 195)
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy phân tích một số đoạn trích trong tác
phẩm "Truyện Kiều" của Nguyễn Du để làm sáng tỏ ý kiến đó.
HẾT
UBND HUYỆN THỦY
NGUYÊN
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
TẠO
HƯỚNG DẪN CHẤM THI CHỌN
HSG
MÔN: NGỮ VĂN 9
A. YÊU CẦU CHUNG
- Giám khảo phải nắm được nội dung trình bày trong bài làm của học sinh để
đánh giá được một cách khái quát, tránh đếm ý cho điểm; vận dụng linh hoạt
đáp án, nên sử dụng nhiều mức điểm một cách hợp lí; khuyến khích những
bài viết có cảm xúc và sáng tạo.
- Học sinh có thể làm bài theo nhiều cách riêng nhưng đáp ứng đựoc các yêu
thích, phân tích, chứng minh.
- Viết đủ và rõ bố cục; luận điểm đúng đắn, rõ ràng, sáng tỏ.
- Diễn đạt lưu loát.
b. Về kiến thức
Bài viết có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần có
các ý cơ bản sau:
1 - Nêu nhận định chung và trích dẫn câu nói: Cuộc sống đầy những
chông gai thử thách, đừng bao giờ đầu hàng trước số phận mà hãy
tự vươn lên đối đầu với mọi chông gai và khẳng định ý nghĩa của
câu nói.
0,25
2
a/Giải thích khái niệm của đề bài (câu nói)
+ Giông tố ở đây dùng để chỉ cảnh gian nan đầy thử thách hoặc
việc xảy ra dữ dội . Đó có thể là một căn bệnh hiểm nghèo, một đổ
0,5
vỡ trong kế hoạch làm ăn, một thất bại trong học tập, một phá sản
trong kinh doanh
+ Câu nói khẳng định: cuộc đời có thể trải qua nhiều gian nan
nhưng chớ cúi đầu trước khó khăn, chớ đầu hàng thử thách, gian
nan. ( Đây là vấn đề nghị luận)
0,25
0,25
3
b/Giải thích, chứng minh vấn đề: Có thể triển khai các ý:
+ Cuộc đời của con người thường có nhiều khó khăn, thử thách,
nhiều thăng trầm trong cuộc sống, chúng ta phải biết vươn lên,
vượt qua mọi thử thách của cuộc đời, đừng vì khó khăn, trắc trở
ngay trước mắt mà vội vàng từ bỏ. Đừng bao giờ “ngại núi, e
sông” hoặc “Đời phải trải qua giông tố nhưng không được cúi
0,25
+ Câu nói gợi cho bản thân nhiều suy nghĩ: trong học tập, cuộc
sống bản thân phải luôn có ý thức phấn đấu vươn lên. Bởi cuộc đời
không phải con đường bằng phẳng mà đầy chông gai, mỗi lần vấp
ngã không được chán nản bi quan. Để có được điều này thì cần
phải làm gì?
+ Liên hệ, rút ra bài học cho bản thân.
0,25
0,25
5
- Khẳng định ý nghĩa của câu nói và lời nhắn nhủ của mình với
mọi người và nhất là với các bạn trẻ trong XH ngày nay
0,25
3
Nghị luận văn học
5,0
1. Về kĩ năng:
- Phải hiểu đúng ý kiến của Nguyễn Khánh Toàn.
- Phải làm sáng tỏ ý kiến đó bằng việc phân tích tác phẩm
"Truyện Kiều" của Nguyễn Du.
- Bài viết có bố cục chặt chẽ, câu chữ, đoạn văn rõ ràng, mạch
lạc; bài viết giàu sức gợi cảm, câu từ trau chuốt, trong sáng;
không mắc các lỗi chính tả.
- Các dẫn chứng được trích dẫn hợp lí, phù hợp với nhận định
2. Về kiến thức:
Bài viết có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần có
các ý cơ bản sau:
1
- Dẫn dắt hợp lí.
- Nêu được nhận định ở đề bài và đánh giá khái quát nhận đính đó.
Nguyễn Du phơi bày "những điều trông thấy mà đau đớn lòng" ấy
đã động vào nơi sâu thẳm của lòng người rung động trước cái khổ
đau để rồi căm thù cái bạc ác xấu xa… Có lẽ điều sai khiến nhà
thơ cầm bút là lòng yêu thương, ông muốn bày tỏ một chữ "tâm",
cái lương tâm không thể làm ngơ trước số phận con người.
- Cách nói phủ định của phủ định là nhằm khẳng định (không thế
này… không thế này… thì không thế kia; cái này chỉ là cái này…
nếu không …). Cách nói ấy làm tăng sức nặng, tạo ra được ấn
tượng mạnh mẽ, hấp dẫn của vấn đề cần trình bày với người đọc,
người nghe.
1,5
1
1
0,5
4
c) Làm sáng tỏ ý kiến: Để làm sáng tỏ ý kiến trên, thí sinh phải
phân tích "Truyện Kiều" và chỉ ra được:
- Tác phẩm "Truyện Kiều" là sự cảm thông sâu sắc của Nguyễn Du
về cuộc đời của các nhân vật, đặc biệt là nhân vật Thuý Kiều. Thí
sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau và có thể có những
2,0
1,5
ý kiến riêng, miễn sao phải phù hợp với yêu cầu của đề bài. Dù lựa
chọn cách nào thí sinh cũng cần trình bày được một số yêu cầu
sau:
+ Tiếng nói ca ngợi những giá trị, phẩm chất đẹp đẽ của con
người.
+ Tiếng nói đồng tình với những khát vọng công bằng, giải phóng
con người, tình yêu trong sang thủy chung vượt trên lễ giáo phong
kiến
pháp.
L u ý : - Đây chỉ là gợi ý đáp án. Người chấm cần vận dụng linh hoạt để phát
hiện sự mới mẻ, năng lực sáng tạo, năng khiếu văn chương của học sinh… và cho
điểm sát đối tượng, chính xác, đánh giá chất lượng thực. Học sinh có thể có cách
trình bày khác miễn là đảm bảo những ý trên. Khuyến khích những bài viết có
những cảm nhận riêng, giàu sức thuyết phục.
HẾT
UBND HUYỆN THỦY
NGUYÊN
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
TẠO
ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI
MÔN: NGỮ VĂN 9
Thời gian: 120 phút( Không kể thời gian giao đề)
Câu 1(2điểm):
Trong bài thơ “Tây Tiến” của tác giả Quang Dũng ( viết về những
người chiến sĩ của đoàn binh Tây Tiến- sáng tác năm 1948) có câu thơ;
“…Heo hút cồn mây súng ngửi trời…”
Trong bài thơ” Đồng chí” của Chính Hữu cũng có câu;
“…Đầu súng trăng treo…”
Em thử so sánh sự giống và khác nhau trong hai hình ảnh thơ ở hai câu
thơ trên. Qua sự giống và khác nhau đó, em cảm nhận được gì về hình tượng
người lính trong thơ ca Việt Nam.
Câu 2( 3 điểm):
Viết bài văn ngắn khoảng 2 trang giấy trình bày suy nghĩ của em về
câu nói của nhà văn Nguyễn Khải:
“ Ở đời này, không có con đường cùng chỉ có những ranh giới. Điều cốt
yếu là phải có sức mạnh để vượt qua những ranh giới ấy”.
Câu 3: ( 5 điểm):
hình dung: người lính Tây Tiến leo dốc dài và gian
khổ để lên được đỉnh núi rất cao.
Hình ảnh “ súng ngửi trời” là hình ảnh nhân hóa gợi cho
người đọc thấy được độ cao của núi, sự heo hút,âm u, mù
mịt của cồn mây đồng thời thấy được cái dí dỏm, hài
hước, tinh nghịch, hồn nhiên và tinh thần lạc quan vượt
qua mọi khó khăn gian khổ của người lính Tây Tiến.
Cách thể hiện ý thơ của Quang Dũng lãng mạn, hồn
nhiên, phóng khoáng mà tài hoa.
0,75
Câu thơ “ Đầu súng trăng treo” gợi một không gian yên
tĩnh vắng lặng, người lính đứng gác mà trăng treo đầu
súng. Súng và trăng gợi nhiều liên tưởng. Súng là vũ khí
chiến tranh, trăng là biểu tượng hòa bình. Người lính
chiến đấu để bảo vệ hòa bình cho đất nước. Câu thơ thể
hiện khát vọng hòa bình của tác giả, của người chiến sĩ và
của nhân dân ta.
Hình ảnh thơ thể hiện sự lên tưởng, tưởng tượng phong
phú. Cách diến đạt của chính Hữu: bình dị , mộc mạc mà
không kém phần tinh tế.
-
0,75
Qua đó thấy được nét chung về hình tượng người lính
trong thơ ca Việt nam: đó là những con người hồn nhiên,
bình dị, yêu cuộc đời, yêu đất nước, sẵn sàng chiến đấu hi
sinh vì độc lập, tự do của Tổ Quốc
0,25
2
+ Giải thích:
Con đường cùng: Là hoàn cảnh bế tắc, không có lối thoát.
vừa là phương tiện biểu hiện. Vì thế, có ý kiến cho rằng :
“Có thể nói thiên nhiên trong Truyện Kiều cũng là một nhân
vật, một nhân vật thường kín đáo, lặng lẽ nhưng không mấy
khi không có mặt và luôn luôn thấm đượm tình người”
( Hoài Thanh).
0,5
b. Giải thích
- Khi nói thiên nhiên là một nhân vật, nhà phê bình Hoài
Thanh có lẽ muốn nói đến sự có mặt xuyên suốt, chân thực,
sinh động và ấn tượng với bạn đọc như những gì Nguyễn Du
xây dựng về con người. Điều đó có nghĩa là, thiên nhiên
không chỉ là cái bình phong, là hình thức để Nguyễn Du ngụ
tình, mà thiên nhiên là đối tượng thứ nhất, có vẻ đẹp tự thân,
hiện lên chân thực, có hồn, thể hiện tình yêu cái đẹp và tạo
vật của thi hào Nguyễn Du.
- Có thể thấy hai điểm cơ bản từ ý kiến của Hoài Thanh:
Nguyễn Du đã thể hiện tình yêu thắm thiết với thiên nhiên,
tạo vật và qua thiên nhiên, thể hiện tình yêu thắm thiết với
1,0
cuộc sống, con người
c. Chứng minh
c1. Thiên nhiên- một thế giới tuyệt đẹp hiện lên trong
Truyện Kiều, được nhìn qua tâm hồn nhạy cảm, tinh tế,
thấm đượm yêu thương của Nguyễn Du
Nguyễn Du đã hoạ được bằng thơ cái thần của thiên nhiên
trong sáng tác của mình.
Đó là cảnh sắc phới phới sức xuân trong “ Cảnh ngày xuân”:
Bức hoạ của đường nét, màu sắc, vẻ non tơ, sự sinh động
giao hoà thắm thiết cùng nhau trong không gian và thời gian.
Đó là bức tranh thiên nhiên bát ngát, hoang vắng, đượm
thốt, rợn ngợp để đồng cảm cùng nàng Kiều bé nhỏ, trơ trọi,
1,25
1, 5