Tài liệu Tài liệu về kỹ thuật sản xuất giống ngao Bến Tre - Pdf 29

Tài liệu về kỹ thuật sản xuất giống ngao Bến Tre
(Meretrix lyrata Sowerby, 1851)
Chu Chí Thiết và Martin S Kumar Tháng 4 – 2008
Phân viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản Bắc Trung Bộ (ARSINC)
Viện Nghiên cứu và Phát triển Nam Ausstralia (SARDI) Viện Nghiên cứu và Phát triển Nam Australia (SARD)
Intergrated Biosystems Science Program Area
SARDI Livestock and Farming Systems
Aquatic Science Cetre
2 Hamra Avenue, West Beach
South Australia

Tài trợ bởi tổ chức AusAID, thuộc Chính phủ Australia - 2 -
MỤC LỤC Phần 1………………………………………………………………………………… 5
Giới thiệu……………………………………………………………………………... 5
1.1. Tính thực tế…………………………………………………………………..…... 5
1.2. Sinh học của ngao………………………………………………………………... 5
1.2.1. Hệ thống phân loại và giải phẫu học……………………………………….. 6

3.2.4.1. Lưu giữ giống gốc……………………………………………………. 21
3.2.4.2. Cấy tảo giống cấp 2…………………………………………………... 21
3.3. Nhân tảo giống giai đoạn trung gian……………………………………………... 22
3.4. Nuôi tảo sinh khối………………………………………………………………...
23
Phần 4

VẬN HÀNH TRẠI GIỐNG: NUÔI VỖ NGAO BỐ MẸ, SINH SẢN VÀ THỤ TINH
4.1. Nuôi vỗ ngao bố mẹ ……………………………………………………………... 25
4.1.1. Tổng quan …………………………………………………………………. 25
4.1.2. Phương pháp nuôi vỗ………………………………………………………. 26

- 3 -
4.1.3. Kỹ thuật sinh sản…………………………………………………………… 28
4.1.4. Sự thụ tinh………………………………………………………………….. 29
Phần 5

VẬN HÀNH TRẠI GIỐNG: PHƯƠNG PHÁP ƯƠNG NUÔI ẤU TRÙNG, THU
VÀ ƯƠNG ẤU TRÙNG SỐNG ĐÁY

5.1. Kỹ thuật ương nuôi ấu trùng……………………………………………………... 30
5.1.1. Thay nước và vệ sinh ấu trùng……………………………………………... 30
5.1.2. Thức ăn và chế độ cho ăn…………………………………………………... 31
5.1.3. Định lượng ấu trùng………………………………………………………... 32
5.1.4. Sự tăng trưởng của ấu trùng………………………………………………... 32
5.1.5. Thu ấu trùng xuống đáy và ương con giống spat………………………….. 32
5.2. Quản lý trại giống………………………………………………………………... 33
5.2.1. Hệ thống bể sản xuất……………………………………………………….. 34
5.2.2. Hệ thống xử lý nước cần thiết để bảo đảm chất lượng và tạo nguồn nước
luôn được chủ động về chất lượng và số lượng…………………………….. - 4 -
Phần 1

Giới thiệu
1.1.Tính thực tế
Ngao Bến Tre (Meretrix lyrata) là một trong những đối tượng thuỷ sản có giá trị cao
ở Việt Nam. Ở phía Nam, vùng thực tế khai thác và phân bố tự nhiên của ngao khoảng
12.000 ha kéo dài dọc theo vùng ven biển từ huyện Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh) tới
Cà Mau, tập trung nhất là vùng ven biển thuộc tỉnh Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh.
Năm 1998, các nông dân thuộc tỉnh Nam Định đã thử nghiệm chuyển ngao giống từ
Bến Tre ra nuôi ở những vùng bãi triều và thu được kết quả tốt. Thành công của việc di
chuyển này tạo nên sự mở rộng vùng nuôi đối tượng này ra miền Bắc như: Quảng Ninh, Hải
Phòng, Thái Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh. Hiện nay, ngao M. lyrata trở thành đối
tượng nuôi chính ở các tỉnh này. Nguồn ngao giống phục vụ cho nghề nuôi đang dựa vào tự
nhiên, bởi vì chưa có trại sản xuất ngao giống nào ở Việt Nam trước khi dự án này được thực
hiện. Công nghệ sản xuất ngao giống (sản xuất thương mại) chưa được chú trọngở Việt Nam.
Một mục tiêu của dự án này là phát triển công nghệ sản xuất ngao giống và chuẩn bị tài liệu
sản xuất giống theo quy mô sản xuất thương mại.
Dựa vào yêu cầu đầu ra sản phẩm của dự án, công nghệ sản xuất giống ngao được
trình bày theo các nội dung dưới đây:
• Cấu trúc và thiết kế trại giống
• Sự chọn lựa ngao bố mẹ và nuôi vỗ
• Yêu cầu và thức ăn, bao gồm cả việc sản xuất thức ăn tươi sống
• Kỹ thuật sinh sản
• Kỹ thuật ương nuôi ấu trùng và thu ấu trùng xuống đáy
• Quản lý trại giống

Lớp: Hai mảnh vỏ (Bivalvia)
Bộ: Heterodonta
Họ: Veneridae
Giống: Meretrix
Loài: Meretrix lyrata (Sowerby, 1851)

Hình 1: Ngao Bến Tre (Meretrix lyrata, Sowerby 1851)

Cấu tạo ngoài
Cấu tạo giải phẫu của ngao nói chung được Michael M. Helm nghiên cứu đầy đủ năm
2004. Ngao được cấu tạo bở hai vỏ đều nhau. Vỏ chủ yếu được tạo thành từ 3 lớp calcium
carbonate: trong cùng là lớp xà cừ, ở giữa là có hình lăng trụ, tán sắc, là thành phần chính cấu
tạo nên vỏ, ngoài cùng là lớp sừng (/iostracum layer), lớp áo màu nâu, nó thường xuyên bị
biến mất do bị bào mòn hoặc thời tiết (hình 1&2)

- 6 -Hình 2: Đặc điểm cấu tạo trong của hai vỏ ngao

Ngao không có phần đầu và đuôi rõ ràng, tuy nhiên, trong hệ thống phân loại có thể
dùng các thuật ngữ giống như các động vật khác để mô tả. Vùng đỉnh vỏ, vị trí để hai vỏ
khớp với nhau gọi là mặt lưng của động vật, phía đối diện là vùng mép bụng. Ngao có hai
ống siphon rõ ràng, chân ở phía trước, vị trí đối diện và hai ống siphon ở vùng phía sau.
Cấu tạo trong

Hình 3: Cấu tạo trong của ngao

Màng áo: phần thịt mềm của ngao được bao bọc bởi màng áo, nó được cấu tạo bao
bọc bởi hai lớp cơ mỏng, dày nhất là phần rìa (hình 3). Hai nửa của màng áo được đính vào

phát từ tâm thất vận chuyển máu tới các cơ quan trong cơ thể. Hệ thống thần kinh là một
chuỗi xoang bao mỏng, không rõ ràng dẫn máu trở về tim.
1.2.2. Sự phân bố của ngao
Ngao M. lyrata là loài động vật thâm mềm nhiệt đới, phân bố ở vùng có biên độ dao động
về độ muối (0 – 34
0
/
00
) và nhiệt độ (15 – 32
0
C) cao. Chúng phân bố tự nhiên ở vùng triều, từ
vùng cao triều tới vùng triều dưới, nơi có nền đáy là cát và cát pha bùn (20% bùn và 80% cát).
Hình 4. Ở Việt Nam, ngao thường phân bố nhiều ở vùng ven biển phía Nam, bao gồm các tỉnh:
Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau (Phụng H, N, 1999).

Hình 4: vùng nuôi ngao Bến Tre ở Thanh Hoá

- 8 -
1.2.3. Tập tính ăn của ngao
Động vật thâm mềm hai mảnh vỏ nói chung sử dụng các loài tảo kích thước hiển vi,
vi khuẩn, protozoa và các hạt hữu cơ có kích thước nhỏ hơn 150 μm. (Newkirk, 1989). Theo
Trương Quốc Phú (2000) có 44 loài tảo, chiếm 93,18% thuộc ngành Bacilariophyta và các
loài còn lại thuộc ngành Pyrophyta và Cyanophyta.
1.2.4. Sự phát triển của hệ thống tuyến sinh dục và sinh sản
Ngao Bến Tre (M. lyrata) là loài phân tính, nhưng không phân biệt được cá thể đực
cái thông qua hình dáng ngoài. Có một tỷ lệ nhỏ ngao trong quần thể phát hiện là lưỡng tính.
Tuyến sinh dục chỉ phát triển mạnh trong mùa vụ sinh sản. Xác định giới tính của ngao chỉ
có thể được phân biệt sau khi mở vỏ bằng mắt ở giai đoạn thành thục thông qua màu sắc,
ngao đực có màu sắc trắng sữa, ngao cái có màu vàng nhạt. Tuy nhiên, kiểm tra bằng kính
hiển vi mới có thể khẳng định chính xác giới tính của ngao.

- 10 -
Phần 2
LỰA CHỌN VỊ TRÍ, CẤU TRÚC VÀ THIẾT KẾ TRẠI GIỐNG

2.1. Lựa chọn vị trí
2.1.1. Chất lượng nước

tính toán cơ sở hạ tầng, thiết bị của trại giống, như: số lượng bể đẻ, bể ương, trang thiết bị,
công nghệ sản xuất tảo sinh khối, kích thước, kiểu dáng bể và các thiết bị cần thiết khác cho
việc vận hành trại sản xuất.

- 11 -
Cơ sở để tính toán công suất bể là: tỷ lệ sống của ấu trùng ngao từ giai đoạn ấu trùng
đỉnh vỏ thẳng (chữ D) đến giai đoạn xuống đáy là 5%, giai đoạn này ấu trùng bơi lội tự do
nên hình dáng bể được chú ý để thể tích sử dụng được nhiều nhất, mật độ ương từ 5 đến 15
ấu trùng/ml. Thông thường, bể ương ấu trùng nhuyễn thể nói chung ở giai đoạn bơi tự do,
hình dáng bể là hình trụ, thể tích từ 3000l đến 20.000l.
Ấu trùng ở giai đoạn sống đáy, chúng thay đổi môi trường và tập tính sống, nền đáy
là nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và tỷ lệ sống của chúng. Do đó, đối với giai đoạn này,
bể nên được thiết kế hình chữ nhật để tăng diện tích đáy, thể tích từ 3000l đến 5000l, vật liệu
có thể là xi măng hoặc composite (hình 6).

Hình 6: Hình ảnh về cơ sở hạ tầng, thiết bị của trại sản xuất giống tại Phân viện Bắc Trung Bộ: a - hệ
thống bể nuôi và ương ấu trùng, b- bể chứa, c- bể ương nuôi ấu trùng và d- ao gây màu nước làm thức
ăn cho ngao ở giai đoạn spat.
Số lượng bể nuôi vỗ ngao bố mẹ, bể đẻ và kích thước bể ương nuôi ấu trùng được
tính toán ở bảng 1- tính theo cơ sở mật độ ấu trùng 7/ml, mật độ ấu trùng xuống đáy 5/ml.
Tuy nhiên, tính toán công suất trại chỉ mới dựa vào số liệu của một mẻ sản xuất. Trại sản
xuất giống có thể được vận hành ít nhất 5 mẻ/năm, vì vậy số lượng ngao spat cần thiết cho
sản xuất sẽ được xem xét trong cả năm trên cơ sở tính toán.
Bảng 1: Tính toán công suất bể sản xuất, ương nuôi ấu trùng ngao (tính trên 1 mẻ)
Thể tích bể thu ấu
trùng xuống đáy (lít)
Thể tích bể ương ấu
trùng (lít)
Số lượng con giống
(triệu con)


- 13 -
2.2.3. Các bộ phận trong trại sản xuất
Xem xét thận trọng việc thiết kế trại sản xuất giống, bảo đảm vệ sinh, khô ráo và
thuận tiện trong sử dụng, vận hành. Toàn bộ khu vực trại phải thuận tiện trong việc vệ sinh,
tẩy trùng khô ráo, bể ương nuôi có thể được làm từ xi măng vì giá thành rẻ hơn các loại vật
liệu khác, nhưng bề mặt đáy, thành bể phải được xử lý nhẵn, thoát nước dễ dàng.
Trại sản xuất có một nơi nằm ở trung tâm, mà từ đây có thể liên quan, điều phối với
các bộ phận khác. Các bộ phận trong trại sản xuất là: phòng lưu giữ và sản xuất tảo, phòng
nuôi vỗ con bố mẹ, sinh sản, ương nuôi ấu trùng và ương nuôi con giống spat (hình 8).

Hình 8: Cấu trúc của trại sản xuất giống: 1- hệ thống bể ương nuôi ấu trùng giai đoạn bơi tự do, 2- bể
hình chữ nhật ương ấu trùng giai đoạn xuống đáy, 3- phòng lưu giữ tảo giống, 4- phòng nuôi tảo cấp
2, 5- phòng nuôi vỗ con bố mẹ, 6- kho chứa đồ, dụng cụ và 7- khu vực nuôi tảo sinh khối.

2.2.3.1. Trang thiết bị sản xuất tảo
Sản xuất tảo (thức ăn) là khâu quan trọng đầu tiên trong sản xuất giống nhuyễn thể.
Thành công trong việc sản xuất sinh khối tảo sẽ quyết định đến sự thành công của sản xuất
giống. Bắt đầu cho một mẻ sản xuất, số lượng và chất lượng tảo phải được chuẩn bị sẵn sàng,
đáp ứng được yêu cầu. Để thuận tiện hơn trong vận hành trại giống, vị trí nuôi cấy tảo nên
sắp xếp ở trung tâm của trại. Nhu cầu về không gian, trang thiết bị tuỳ thuộc vào công suất
của trại giống và công nghệ sản xuất được sử dụng.
Đối với trại giống nhuyễn thể, nơi sản xuất tảo được thiết lập ở cả trong nhà (sử dụng
ánh sáng nhân tạo) và ngoài trời (sử dụng ánh sáng tự nhiên). Yêu cầu một phòng nhỏ, ánh
sáng nhân tạo, ổn định nhiệt độ (22-24
0
C), cung cấp CO
2
để lưu giữ tảo giống và san cấy tảo
cấp 2.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status