THỰC TRẠNG, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG HỢP TÁC PHÁT TRIỂN
TIỂU VÙNG SÔNG MÊ KÔNG
ThS. Nguyễn Thị Hoàn
Đại học Kinh tế Quốc dân
Tiểu vùng sông Mê Kông bao gồm tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) và 5
nước Asean gồm Mi‑an‑ma, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam với
tổng diện tích 2,33 triệu km
2
. Đây là khu vực có tiềm năng kinh tế rất
lớn với trữ lượng tài nguyên nước, tài nguyên sinh vật, tài nguyên
khoáng sản rất phong phú. Theo các công trình nghiên cứu, đây là “nhà”
của hơn 1.300 loài thủy sản với khoảng 240 loài cá trong đó có cá nheo
lớn có thể dài tới 3 mét và nặng 300kg (tên khoa học là Pagasianodon
gisgas) và cá heo Irrawaddy có thể dài 2,5 mét và nặng 150kg đã được
ghi vào danh sách những loại động vật có nguy cơ tuyệt chủng của Liên
minh thế giới bảo vệ thiên nhiên (UICN) năm 2003 (1). Bắt nguồn từ cao
nguyên Tây Tạng (Trung Quốc) trên độ cao 5.000m, với chiều dài khoảng
4.800km, sông Mê Kông đứng thứ 12 trong các con sông dài nhất thế
giới. Mặc dù chỉ đứng thứ 21 trong các lưu vực sông rộng nhất thế giới
nhưng sông Mê Kông được xếp hàng thứ 8 trong số các con sông nhiều
nước nhất trên thế giới, với tổng lượng dòng chảy hàng năm khoảng
475 tỷ m
3
nước. Sông Mê Kông có vai trò quan trọng đối với cuộc sống
của hơn 60 triệu người dân các nước lưu vực, nhất là các nguồn lợi về
nông lâm nghiệp, thủy sản, thủy điện và giao thông thủy.
Việt Nam là quốc gia nằm ở tận cùng lưu vực sông Mê Kông, là cửa
ngõ các tuyến giao thông quan trọng trong lưu vực. Đối với Việt Nam
lưu vực sông Mê Kông chiếm 25% diện tích lãnh thổ và 35% dân số của
đất nước nên khu vực này có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển
lịch giữa các nước GMS. Năm 2005 Hội nghị thượng đỉnh GMS lần 2
đã diễn ra tại Côn Minh (Trung Quốc) với chủ đề “Thúc đẩy quan hệ
đối tác vì sự thịnh vượng chung” để bàn về quá trình hợp tác trước đây
và tương lai của quan hệ đối tác giữa các nước, củng cố mối quan hệ
của các nước trong vùng. Các nước trong tiểu vùng đã hợp tác trên các
lĩnh vực giao thông‑vận tải, năng lượng, môi trường, du lịch, bưu chính
viễn thông, thương mại, đầu tư, phát triển nguồn nhân lực, nông
nghiệp và phát triển nông thôn. Quá trình hợp tác của các nước trong
tiểu cùng đã góp phần cải thiện đời sống cho hàng triệu người nghèo.
Bên cạnh những thành tựu quan trọng đã đạt được, tiểu vùng Mê Kông
đang đứng trước những thách thức to lớn đó là tình trạng đói nghèo,
kém phát triển, thiên tai, dịch bệnh xảy ra liên tiếp gây nhiều thiệt hại
304
Nguyễn Thị Hoàn
cho sản xuất và đời sống của nhân dân. Do đó, các nước trong tiểu vùng
Mê Kông cần phối hợp tìm kiếm các giải pháp khắc phục đói nghèo,
lạc hậu, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân. Phát triển cơ sở hạ tầng trong tiểu vùng Mê Kông là tiền đề quan
trọng để thúc đẩy thương mại đầu tư và nâng cao khả năng cạnh tranh
của từng nền kinh tế, của cả tiểu vùng mà trong đó nỗ lực của mỗi nước
là rất quan trọng. Tuy nhiên, đa số các nước trong tiểu vùng còn nghèo
nên rất cần sự tài trợ của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là Ngân hàng Phát
triển châu Á ‑ tổ chức đã khởi xướng và hỗ trợ to lớn cho chương trình
hợp tác trong tiểu vùng. Vấn đề quan trọng là xây dựng các chương
trình hành động cụ thể, huy động các nguồn lực trong tiểu vùng và sự
hỗ trợ quốc tế, đưa quan hệ đối tác đi vào chiều sâu để phát triển vì lợi
ích lâu dài của các bên.
Cũng tại hội nghị, các nhà lãnh đạo các nước trong tiểu vùng sông
Mê Kông đã ra Tuyên bố chung và ký các văn kiện hợp tác giữa các nước
trong tiểu vùng. Tuyên bố chung tái khẳng định cam kết thực hiện tầm
khổ hợp tác phát triển khu vực sông Mê Kông. Mục tiêu mà EWEC
nhắm đến khi được xây dựng là phát triển hợp tác kinh tế khu vực qua
các cơ hội đầu tư cũng như mở ra những thời cơ làm ăn mới Theo đó
thúc đẩy đầu tư, thương mại và du lịch qua biên giới giữa các nước trong
khu vực. EWEC cũng mang lại những cơ hội tăng trưởng hợp tác khu
vực, nâng cao mức sống của người dân. Đặc biệt, các nhà kiến tạo hành
lang kinh tế Đông ‑ Tây kỳ vọng qua EWEC tạo tiền đề vững chắc để
doanh nghiệp có thể tiếp cận tốt hơn các nguồn nguyên liệu, đa dạng
hóa hoạt động kinh tế và xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài và
tư nhân cũng như thực thi các chính sách kinh tế mới
Tại Việt Nam, ngành nông ‑ ngư nghiệp phát triển nhanh sẽ thúc đẩy
việc xuất khẩu các sản phẩm chế biến sẵn như một nguồn thu ngoại tệ
đáng kể. Các phương tiện vận chuyển nội địa buộc phải nhanh chóng
và có những điều kiện bảo quản lạnh tốt. Các sản phẩm khác mà Việt
Nam có thể xuất khẩu thông qua hành lang kinh tế này là: phân bón,
thực phẩm chế biến sẵn và hàng tiêu dùng.
Với việc hoàn thành cây cầu quốc tế thứ hai nối Thái Lan và Lào
(cầu Hữu nghị 2) bắc qua sông Mê Kông, giao thông đường bộ của hành
lang EWEC đã thông suốt và EWEC trở thành hành lang đi vào hoạt
động đầu tiên trong tiểu vùng.
Hành lang kinh tế dọc theo bờ biển phía Nam nối liền ba quốc gia,
Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Vùng biển phía Nam Campuchia
hiện là một trung tâm kinh tế rất phát triển thông qua cảng biển quốc tế
tại Sihanoukville. Những phát triển tại khu vực này sẽ đem lại nhiều
thuận lợi cho những dự án khác như khai thác nguồn dầu thô tại vịnh
Thái Lan, xây dựng các tuyến giao thông nối liền với vùng công nghiệp
306
Nguyễn Thị Hoàn
ở cảng biển phía Đông Thái Lan, đồng thời đẩy mạnh sự phát triển các
ngành nông ‑ ngư nghiệp phía Nam Việt Nam.
thanh niên GMS lần đầu được tổ chức. Tại diễn đàn, thế hệ trẻ các nước
trong tiểu vùng đã gửi đến các nhà lãnh đạo thông điệp đề nghị các nước
tạo điều kiện nhiều hơn nữa trong việc tìm kiếm việc làm, thu nhập cho
Thực trạng, cơ hội và thách thức đối với Việt Nam trong hợp tác phát triển
307
thanh niên, bảo vệ sự đa dạng về văn hóa trong GMS. Trong cuộc gặp
gỡ với các đại biểu tham dự Diễn đàn thanh niên GMS, lãnh đạo các
nước đều bày tỏ hy vọng lực lượng thanh niên sẽ đóng góp nhiều hơn
vào tiến trình hợp tác tiểu vùng, nhất là tham gia tích cực vào thị trường
lao động. Chính phủ Trung Quốc hứa dành cho thanh niên các nước
GMS 200 suất học bổng mỗi năm, tạo điều kiện cho thanh niên các nước
đến Trung Quốc học tập, nâng cao trình độ kiến thức.
Từ một phác thảo, GMS trở thành bức tranh nhiều sắc mầu ‑ mô
hình hợp tác kinh tế khu vực được đánh giá là hiệu quả và là diễn
đàn của tình hữu nghị, sự hợp tác mang lại lợi ích cho tất cả các bên
tham gia.
Trong thời gian qua, Chương trình Hợp tác Tiểu vùng Mê Kông mở
rộng đã giúp các nước trong tiểu vùng đạt được những thành tựu to lớn
về phát triển kinh tế, góp phần cải thiện đời sống cho hàng triệu người
nghèo. Năm 2000, Trung Quốc, Lào, Mianma và Thái Lan ký Hiệp ước
vận chuyển thương mại trên sông Mê Kông trong đó quy định làm sạch
lòng sông đến đoạn chảy qua tỉnh Luông Phabang của Lào. Năm 2002,
việc này được tiến hành bằng tài trợ ngân sách và nhân lực của Trung
Quốc: 23 thác, bãi đá ngầm, nhiều chướng ngại vật khác đã được loại
bỏ, tàu trọng tải 150 tấn có thể đi lại. Năm 2004, việc dọn lòng sông đoạn
miền nam tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) đi bắc Thái Lan cũng được hoàn
tất. Các nước liên quan xúc tiến nhiều biện pháp khác tăng cường hợp
tác trong khuôn khổ GMS. Tháng 11‑ 2007 Campuchia thông qua kế
hoạch mở thêm đường sắt nối với Thái Lan và Việt Nam để kết nối tuyến
đường sắt nối liền ASEAN với Côn Minh (Trung Quốc) dài 5.500 km.
năm 2015.
Cùng với các quốc gia thành viên, Việt Nam đã tham gia chương
trình GMS từ năm 1992. Mục tiêu cơ bản trong các chương trình hợp tác
GMS phù hợp với các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế ‑ xã hội
của Việt Nam. Việc tham gia các khuôn khổ GMS tạo cơ hội cho Việt
Nam phát huy lợi thế và tiềm năng; góp phần củng cố và tăng cường
quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước trong lưu vực Mê Kông. Bên
cạnh đó, việc tham gia GMS còn tạo thuận lợi cho Việt Nam thúc đẩy
thương mại, đầu tư, du lịch qua biên giới thông qua xây dựng các hành
lang giao thông liên kết các nước trong khu vực; đơn giản hóa thủ tục,
giảm thời gian và phí vận chuyển qua biên giới.
Việt Nam cũng là nước có vai trò quan trọng trong hợp tác GMS cả
về địa lý và tiềm năng kinh tế, là cửa ngõ ra Biển Ðông của toàn bộ tiểu
vùng Mê Kông, gần các tuyến đường biển quốc tế nối liền Ấn Ðộ Dương
và Thái Bình Dương.
Tham gia hợp tác tiểu vùng Việt Nam cũng thu được nhiều lợi ích,
nhất là lợi ích kinh tế, tạo cơ hội cho chúng ta tranh thủ được các nguồn
Thực trạng, cơ hội và thách thức đối với Việt Nam trong hợp tác phát triển
309
lực bên ngoài cho phát triển từ các nước trong khu vực và các nhà tài
trợ quốc tế.
Việt Nam là một trong những nước nhận được nhiều ODA của các
nhà tài trợ cho các dự án hợp tác tiểu vùng, trong đó chủ yếu tập trung
vào các dự án nâng cấp và mở rộng hạ tầng giao thông. Tại hội nghị GMS
lần 3, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã đạt được thỏa thuận với
Chủ tịch ADB trong việc ADB hỗ trợ thúc đẩy tiến độ xây dựng Tuyến
đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh ‑ Phnôm Pênh.
Với hành lang kinh tế Đông ‑ Tây (EWEC) Việt Nam có thể hợp tác
vận tải quá cảnh, hỗ trợ các vùng địa phương sâu trong nội địa mở
đường ra biển, làm đầu mối cung cấp hàng hóa và nguyên nhiên vật
Quốc hiện có hai cảng trên sông Mê Kông là Jinghong, tỉnh Vân Nam và
Guan Lei, một thị trấn mới, hoạt động hết công suất, có thể đón tàu ăn
hàng quanh năm.
Theo các quan chức Thái Lan, số lượng tàu, thuyền Trung Quốc qua
lại trên sông Mê Kông nhiều gấp chín lần của Thái Lan nhưng Trung
Quốc cũng “để mắt” nhiều hơn đến Irrawaddy vì trong tương lai bằng
tuyến đường thủy này họ có thể đi từ Vân Nam ra vịnh Bengal.
Thái Lan đã biến cảng Chiang Saen trên sông Mê Kông, nơi đến
những năm 80 của thế kỷ 20 vẫn chỉ là một làng nhỏ ít ai biết tới của tỉnh
Chiềng Rai thành tuyến thương mại và điểm định cư quan trọng. (Theo
thống kê, năm 2004 đã có khoảng 300 tàu, thuyền của Trung Quốc đi
qua; năm 2006 qua đây Thái Lan nhập khẩu từ Trung Quốc lượng hàng
hóa trị giá 36 triệu USD, xuất khẩu sang nước này lượng hàng trị giá 115
triệu USD). Thái Lan có kế hoạch xây thêm bến, bãi để đón tàu trọng tải
500 tấn, Trung Quốc cũng có kế hoạch vận chuyển qua đây 7.000 tấn
dầu/năm và hoàn tất dự án xây dựng Trung tâm bán hàng miễn thuế
gần Chiang Saen vào năm 2014
Hiện nay các nước đang phải đối mặt với thách thức nghiêm trọng
từ hiểm hoạ môi trường sinh thái. Việc phát triển cơ sở hạ tầng cụ thể là
xây đường xá và đập nước làm đe dọa di sản thiên nhiên giàu có của
con sông Mê Kông và sinh kế của người dân nếu như không áp dụng
các biện pháp đúng đắn. Các dự án hạ tầng lớn là một mối đe dọa đối
với đa dạng sinh học và các nguồn tài nguyên nước ngọt ở lưu vực sông
Mê Kông, là nguồn sống của các cộng đồng dân cư của khu vực này.
Hơn nữa, việc di chuyển của cả con người và tài nguyên thiên nhiên sẽ
dẫn đến nạn buôn bán động thực vật hoang dã.
Việc nạo vét sông và phá huỷ các bãi cát ngầm và mỏm đá ở các
ghềnh thác vốn là những môi sinh cuối cùng để cá nheo sinh đẻ để mang
lại lợi ích thương mại quốc tế và du lịch đường thuỷ cùng với tình trạng
đánh bắt bừa bãi đã khiến loài cá này có nguy cơ bị tuyệt chủng. Trong
Xương làm bãi có giá 80 triệu/ha/năm, năm 2008 tăng lên 100 triệu và
hiện nay là 120 triệu/ha/năm. Riêng ở xã Vĩnh Xương giá thuê đất đã là
190 triệu đồng/ha/năm mà nông dân vẫn chưa đồng ý, và tiền thuê đất
doanh nghiệp phải đặt cọc truớc 2 năm.Với giá thuê đất “trên trời” như
hiện nay thì không có loại cây trồng nào có thể cạnh tranh được, do vậy
đây là cơ hội hốt bạc đối với các ông chủ đất cặp sông Tiền. Tuy nhiên,
sau khi hết hợp đồng thuê đất, các doanh nghiệp rút đi trả lại đất nhưng
nông dân không thể nào trồng trọt được, do mảnh đất màu mỡ ngày
nào giờ chỉ còn lại lớp cát phủ dày
312
Nguyễn Thị Hoàn
Việc khai thác cát cũng chẳng tăng tốc độ dòng chảy lên được,
nhưng nếu khai thác quá lớn thì đến mùa khô nước mặn sẽ vào sâu trong
đất liền và tốc độ bồi lắng tại của sông nhanh hơn, lúc đó ta phải tốn
tiền nạo vét cửa sông, càng đào ra phía thượng nguồn bao nhiêu thì càng
gây bồi lắng lớn ở hạ lưu bấy nhiêu. Đến mùa lũ mới thấy hết sức công
phá của chính cái chảo do mình đào ra.
Việc xây dựng các đập thuỷ điện tại thượng nguồn và hạ lưu sông
Mê Kông đã gây nên những vấn đề nghiêm trọng về môi trường. Trung
Quốc một nước ở đầu nguồn kiểm soát 16% lượng nước của Mê Kông
đang xây dựng 8 nhà máy thuỷ điện công suất lớn. Bốn nước
Campuchia, Lào, Thái Lan, Việt Nam đang có 11 dự án xây đập thuỷ
điện. Trong đó có 7 đập thủy điện sẽ được xây tại Lào, hai tại vùng biên
giới Lào‑Thái Lan và hai tại Campuchia. Việt Nam đã hoàn thành đập
Sê San 3, Sê San 3a và bắt đầu xây Sê San 4 và Pleikrong. Việt Nam cũng
định xây đập trên sông Srepok, chảy từ Campuchia sang Việt Nam
Trung Quốc đang xây một hệ thống các đập mang tầm quan trọng chiến
lược về năng lượng cho họ. Đây là một phần của Dự án Truyền điện Đông
‑ Tây của Trung Quốc, theo đó tỉnh Vân Nam sẽ cung cấp điện cho Quảng
Đông. Riêng tại Vân Nam, Trung Quốc đã và đang xây tới 14 đập lớn để
Trong mùa lũ cao, mực nước ở hạ lưu sẽ thấp hơn nhưng lũ kéo dài
hơn khiến quá trình rửa phèn và bồi bổ chất phù sa diễn ra chậm chạp.
Nếu lũ ở đồng bằng sông Cửu Long thấp đi nó sẽ làm cho tình hình tự cải
thiện phèn chua yếu đi. Năm 1998 đã xảy ra tình trạng này. Nước chua
phèn lan rộng, ảnh hưởng đến vụ gieo trồng. Các nhánh sông Cửu Long
vốn tích lũy chất độc hại trong mùa khô không được nước lũ làm “vệ sinh”.
Khi có lũ siêu cao, thủy điện của họ xả nước, hạ lưu của ta sẽ hứng đủ.
Sự hiện diện của quá nhiều đập thủy điện trên sông Mê Kông sắp
tới sẽ làm cho mùa khô tại đồng bằng sông Cửu Long thêm kiệt nước.
Vào mùa khô các đập thủy điện trên sông Mê Kông sẽ tăng cường
tích nước, phía Campuchia sử dụng nước nhiều hơn, khi ấy đồng bằng
Nam Bộ của Việt Nam rất gay go. Nếu đồng bằng sông Cửu Long không
nhận đủ lưu lượng nước trên 2000 m
3
một giây trong tháng khô hạn
nhất, lúc ấy nước mặn từ biển sẽ thâm nhập rất sâu. Hai tỉnh An Giang
và Đồng Tháp đang phải chịu tình trạng xói lở nặng nhất, trong khi Tiền
Giang là nơi bị khô hạn nhất.
Không chỉ nông dân Việt Nam, nông dân các nước ở hạ nguồn như
Lào và Campuchia cũng đang chịu nhiều thiệt hại của tác động môi
trường liên quan tới dòng Mê Kông.
Website của Liên minh Save the Mekong nói dòng sông này là một
trong những vựa cá nước ngọt giàu có nhất thế giới đang nuôi sống hơn
60 triệu người.
314
Nguyễn Thị Hoàn
Liên minh này cũng phân tích về ảnh hưởng củaa các công trình
thượng nguồn: “Các công trình xây đập trên vùng thượng nguồn sông
Mê Kông (Lancang) của Trung Quốc đã gây nên những vấn đề nghiêm
trọng về môi trường cho những nước hạ lưu như Miến Điện, bắc Thái
315