MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÂN VÙNG KINH TẾ VIỆT NAM
TS. Trần Thanh Hà
Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển
Đặt vấn đề
Vùng kinh tế là lãnh thổ đặc thù của nền kinh tế quốc dân, có chuyên
môn hoá sản xuất kết hợp chặt chẽ với phát triển tổng hợp. Công tác
phân vùng kinh tế nhằm mục đích đạt hiệu quả cao trong sản xuất và
xuất khẩu, bảo đảm an ninh lương thực trong nước, tránh chồng chéo
và thiếu nguyên liệu sản xuất. Phân vùng kinh tế với mục đích phục vụ
đắc lực cho công tác kế hoạch hoá dài hạn nền kinh tế quốc dân, tạo điều
kiện thuận lợi cho phân bố lực lượng sản xuất và phân công lao động
hợp lí trên phạm vi cả nước, làm cơ sở cho việc chỉnh sửa ranh giới các
đơn vị hành chính phù hợp với nguyên tắc thống nhất quản lý kinh tế
với quản lý hành chính. Ở Việt Nam, những năm cuối thế kỷ XX, người
ta ít nói tới phân vùng kinh tế, mà nói nhiều tới tổ chức lãnh thổ kinh tế
xã hội. Tuy nhiên, các nhà địa lý Việt Nam đã nghiên cứu, tìm hiểu và
thể nghiệm phân vùng kinh tế trong các sơ đồ tổ chức lãnh thổ kinh tế
xã hội, mà đỉnh cao của nó là sơ đồ 4 vùng kinh tế lớn trong tổng sơ đồ
phát triển và phân bố lực lượng sản xuất. Các sơ đồ phân vùng còn được
đưa vào chương trình giảng dạy của một số trường đại học và chương
trình địa lý phổ thông. Trong tham luận này, tác giả xin trình bày một
số vấn đề phân vùng kinh tế Việt Nam ở khía cạnh tiếp cận khái niệm,
nội dung và thực tiễn.
1. Khái niệm và lịch sử phân vùng kinh tế Việt Nam
Phân vùng kinh tế là quá trình nghiên cứu phân chia lãnh thổ đất
nước ra thành một hệ thống các vùng kinh tế, là quá trình vạch ra hoặc
tiếp tục điều chỉnh ranh giới hợp lý của toàn bộ hệ thống vùng; định
hướng chuyên môn hoá sản xuất cho vùng và xác định cơ cấu kinh tế
vùng ứng với các kế hoạch phát triển dài hạn nền kinh tế quốc dân (15‑
80
CƠ SỞ KHOA HỌC CHO PHÁT TRIỂN VÙNG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực của đất nước. Chính vì vậy, đã
xuất hiện nhiều dự án phân vùng kinh tế. Chính phủ đã chú trọng vào
công tác phân vùng qui hoạch ‑ một trong những nhiệm vụ trọng tâm của
công cuộc thống nhất và tái thiết đất nước. Từ đó các Ban Phân vùng kinh
tế cấp tỉnh được thành lập cùng với các đoàn cán bộ của Uỷ ban Phân
vùng kinh tế Trung ương tiến hành công tác điều tra cơ bản và phân
Một số vấn đề về phân vùng kinh tế Việt Nam
81
vùng trên mọi miền đất nước. Những kết quả đạt được ban đầu có ý
nghĩa rất lớn đối với sự phát triển đất nước và còn có nhiều giá trị to
lớn cho đến hôm nay.
2. Nội dung của quy hoạch phát triển kinh tế vùng Việt Nam
Nội dung chủ yếu của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế vùng ở
Việt Nam bao gồm: (1) Xác định các nội dung nghiên cứu, phân tích,
đánh giá, dự báo; (2) Luận chứng mục tiêu, quan điểm và phương
hướng phát triển kinh tế, xã hội; (3) Xác định nhiệm vụ cụ thể để đạt các
mục tiêu của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế ‑ xã hội; (4) Lựa chọn
phương án tổng thể khai thác lãnh thổ; (5) Quy hoạch phát triển kết cấu
hạ tầng; (6) Định hướng quy hoạch sử dụng đất; (7) Xác định các dự án
ưu tiên đầu tư; (8) Luận chứng bảo vệ môi trường; (9) Đề xuất các giải
pháp về cơ chế, chính sách nhằm thực hiện mục tiêu quy hoạch và (10)
Lập bản đồ quy hoạch.
1. Xác định các nội dung nghiên cứu, phân tích, đánh giá, dự báo về các
yếu tố, điều kiện phát triển, khả năng khai thác, sử dụng hợp lý, có hiệu quả lợi
thế so sánh của vùng: Phân tích, đánh giá thực trạng khai thác lãnh thổ;
phân tích, đánh giá những lợi thế so sánh về các yếu tố và điều kiện phát
triển của lãnh thổ trong tổng thể vùng lớn hơn và cả nước, có tính tới
mối quan hệ khu vực và quốc tế. Phân tích, đánh giá thực trạng phát
triển kinh tế ‑ xã hội và thực trạng khai thác lãnh thổ vùng; đánh giá
tiềm năng đóng góp vào ngân sách của vùng.
đói nghèo, mức độ phổ cập về giáo dục, tỷ lệ tăng dân số, tỷ lệ lao động
qua đào tạo, mức giảm bệnh tật và tệ nạn xã hội.
‑ Đối với mục tiêu môi trường: giảm mức độ ô nhiễm môi trường và
bảo đảm các yêu cầu về môi trường trong sạch.
‑ Đối với mục tiêu quốc phòng, an ninh: ổn định chính trị, trật tự an toàn
xã hội, phát triển kinh tế gắn với bảo đảm an ninh, quốc phòng.
3. Xác định nhiệm vụ cụ thể để đạt các mục tiêu của quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế ‑ xã hội: Luận chứng phát triển cơ cấu kinh tế, luận
chứng các phương án phát triển; xác định hướng phát triển ngành, lĩnh
vực then chốt và sản phẩm chủ lực, trong đó xác định chức năng, nhiệm
vụ và vai trò đối với vùng của các trung tâm đô thị và tiểu vùng trọng
điểm. Lựa chọn phát triển cơ cấu kinh tế, luận chứng và lựa chọn
phương án phát triển; phương hướng phát triển và phân bố các ngành,
các sản phẩm chủ lực và lựa chọn cơ cấu đầu tư (kể cả đề xuất các
Một số vấn đề về phân vùng kinh tế Việt Nam
83
chương trình, dự án đầu tư trọng điểm trong giai đoạn 5 năm đầu và
cho thời kỳ quy hoạch). Căn cứ để phát triển nguồn nhân lực và các giải
pháp phát triển, đào tạo nguồn nhân lực.
4. Luận chứng phương án tổng hợp về tổ chức kinh tế, xã hội trên lãnh thổ
vùng (lựa chọn phương án tổng thể khai thác lãnh thổ) bao gồm:
Tổ chức lãnh thổ hệ thống đô thị, khu công nghiệp và khu kinh tế.
Định hướng tổ chức lãnh thổ khu vực nông thôn; các vùng sản xuất
nông, lâm ngư nghiệp tập trung.
Xác định phương hướng phát triển cho những lãnh thổ đang kém
phát triển và những lãnh thổ có vai trò động lực.
Xác định biện pháp giải quyết chênh lệch về trình độ phát triển và
mức sống dân cư giữa các khu vực, giữa thành thị và nông thôn, giữa
các tầng lớp dân cư.
5. Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng: Công tác quy hoạch bảo đảm
cấp vùng này có liên quan trực tiếp tới việc tổ chức chính quyền, cải tạo
nền hành chính cho phù hợp với chế độ xã hội mới. Sau khi thống nhất
đất nước, địa giới hành chính các tỉnh, huyện của miền Nam cũng được
kịp thời điều chỉnh. Đến nay trên cả nước, qui mô, ranh giới của các đơn
vị lãnh thổ cấp tỉnh (thành phố) và huyện (quận) đã ổn định tương đối
với 63 tỉnh (thành) và 696 huyện (quận) (Theo số liệu thống kê tính đến
31/12/2008). Có những vùng qui mô diện tích tăng lên nhiều lần như thủ
đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nam Định,
Do điều kiện tự nhiên, dân cư, lịch sử ‑ xã hội, đặc điểm phát triển
và phân bố sản xuất khác nhau, nên qui mô diện tích và dân số của từng
vùng cấp tỉnh có nhiều chênh lệch. Theo Nghị định 92/2006/NĐ‑CP của
Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, ban hành ngày
7 tháng 9 năm 2006, Việt Nam được phân làm 6 vùng kinh tế lớn:
1. Vùng trung du và miền núi phía Bắc, gồm 14 tỉnh: Lai Châu, Điện
Biên, Sơn La, Hoà Bình, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Thái Nguyên,
Bắc Kạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Lào Cai, Yên Bái, với tổng
diện tích tự nhiên 95.346 km², chiếm khoảng 29% diện tích cả nước. Tổng
dân số của vùng 11.207.800 người (năm 2008), chiếm 13% dân số cả
nước. Các tỉnh Đông Bắc được khai thác sớm và đặc biệt khai thác mạnh
mẽ từ thời Pháp thuộc do mục đích khai thác thuộc địa của tư bản Pháp.
Từ năm 1990 trở lại đây, nền kinh tế của vùng đạt được những kết quả
đáng kể. Năm 1997 tổng sản phẩm GDP của vùng đạt 7,1% tổng GDP
cả nước. GDP bình quân đầu người thấp bằng 21,5% mức bình quân của
Một số vấn đề về phân vùng kinh tế Việt Nam
85
cả nước. Cơ cấu kinh tế ngành có sự chuyển dịch theo hướng đẩy mạnh
phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ. Các tỉnh Tây Bắc có kinh
tế đang phát triển ở điểm xuất phát thấp, tăng trưởng GDP thấp và kéo
dài nhiều năm. Tốc độ tăng dân số cao trên 3%, GDP bình quân đầu
người bao gồm cả khu thuỷ điện Hoà Bình rất thấp. Ở vùng cao, sản
sơ chế. Về công nghiệp, đi theo hướng khai thác lợi thế của vùng, các
sản phẩm công nghiệp chủ yếu phục vụ tiêu dùng, sản xuất nông, lâm
86
Trần Thanh Hà
nghiệp và đời sống nhân dân. Ngoài ra, sản phẩm mủ cao su phục vụ
nhu cầu vùng khác và xuất khẩu. Các ngành công nghiệp như chế biến
gỗ và lâm sản chiếm 24,7% giá trị sản lượng công nghiệp; công nghiệp
thực phẩm chiếm 24,4%; sản xuất vật liệu xây dựng chiếm 13,41%; cơ
khí 4,7%. Hiện nay đã có một số dự án đầu tư nước ngoài vào các
ngành công nghiệp chế biến cà phê xuất khẩu, dệt may, chế biến gỗ,
rau quả.
5. Vùng Đông Nam Bộ, gồm 6 tỉnh, thành phố: Tp. Hồ Chí Minh, Tây
Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai và Bà Rịa ‑ Vũng Tàu. Đây là
vùng trọng điểm phát triển kinh tế của Việt Nam, dân số đông và dẫn
đầu cả nước về kim ngạch xuất khẩu, đầu tư nước ngoài, GDP, cũng như
nhiều yếu tố xã hội khác. Vốn thu hút nước ngoài của khu vực này dẫn
dầu cả nước, nổi bật ở các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và Tp. Hồ Chí
Minh. Trung tâm thương mại và kinh tế của khu vực là Tp. Hồ Chí Minh.
Trung tâm công nghiệp lớn nhất trong vùng là Đồng Nai với trung tâm
là Tp. Biên Hoà và các huyện như: Nhơn Trạch, Long Thành, Trảng Bom.
Ba huyện công nghiệp lớn này thu hút nhiều đầu tư nước ngoài vào các
khu công nghiệp tập trung và quy mô lớn. Bốn đơn vị này tạo thành
trung tâm công nghiệp không chỉ của tỉnh mà của cả khu vực Đông Nam
Bộ. Tương lai của khu vực này là các dự án lớn như: Đường cao tốc Dầu
Giây‑Long Thành‑Tp. Hồ Chí Minh, sân bay quốc tế Long Thành (Đồng
Nai), đường cao tốc Biên Hoà‑Vũng Tàu, thành phố mới Nhơn Trạch
(Đồng Nai), cầu Đồng Nai mới, các trung tâm công nghiệp mới Trảng
Bom, Long Thành, (Đồng Nai), đô thị hoá các huyện trung tâm tỉnh
Đồng Nai, Bình Dương, Vũng Tàu.
6. Vùng đồng bằng sông Cửu Long, gồm 13 tỉnh, thành phố: Long
Ninh, Bình Phước, Long An, Tiền Giang.
Hình 1: Biểu đồ hiện trạng sử dụng đất ở các vùng kinh tế năm 2008
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam, 2008
88
Trần Thanh Hà
Bảng 1: Dân số, diện tích và mật độ dân số năm 2008 phân theo vùng
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam, 2008
4. Phân vùng kinh tế ngành và chuyên môn hóa
Phân vùng kinh tế ngành nhằm mục đích xác định hợp lí phương
hướng phát triển chủ yếu của ngành trong vùng hiện tại cũng như
tương lai, kết hợp đúng đắn giữa các ngành trong kế hoạch hoá nền
kinh tế quốc dân và trong tổ chức quản lí nền kinh tế quốc dân theo
ngành và theo lãnh thổ, phân vùng kinh tế ngành còn là cơ sở cho quy
hoạch vùng kinh tế ngành. Có hai dạng phân vùng kinh tế ngành:
phân vùng công nghiệp và phân vùng nông nghiệp. Mỗi dạng lại chia
ra các phân ngành như trong công nghiệp có phân vùng khai thác
than, dầu mỏ, hơi đốt, luyện kim đen, luyện kim màu, vật liệu xây
dựng,v.v. Còn trong nông nghiệp có phân vùng trồng trọt, phân vùng
chăn nuôi. Vùng kinh tế ngành là vùng kinh tế được phát triển và
phân bố chủ yếu một ngành sản xuất, ví dụ: Vùng nông nghiệp, vùng
công nghiệp. Vùng kinh tế ngành cũng có đầy đủ hai nội dung cơ bản
của vùng kinh tế đó là sản xuất chuyên môn hoá và phát triển tổng
hợp. Năm 1976, Việt Nam đã đưa ra phương án 7 vùng nông nghiệp
và 8 vùng lâm nghiệp.
Sản xuất càng phát triển thì phân công lao động theo ngành càng tỉ
mỉ và sự phân công lao động theo vùng càng rõ rệt, các vùng chuyên
môn hóa lớn dần hình thành. Ở Việt nam hiện nay, trình độ phát triển
sức sản xuất chưa cao, nhưng sau giai đoạn phát triển lâu dài của lịch
sử, một số vùng sản xuất chuyên môn hóa lớn đặc thù cũng đã được
hình thành như:
Mặc dù mức độ chuyên môn hóa chưa cao, khối lượng sản phẩm
chưa nhiều, nhưng giữa các vùng lớn trên cả nước đã bắt đầu hình thành
những dòng chảy sản phẩm (các mối liên hệ liên vùng) khá bền vững
qua nhiều năm và nhiều giai đoạn phát triển kinh tế.
Ví dụ cụ thể như: Than Quảng Ninh cung cấp cho thành phố Hồ
Chí Minh và một số tỉnh thành phía Nam; Gạo đồng bằng sông Cửu
Long cung cấp cho thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh thành phía
Bắc; Nhiều sản phẩm cơ khí và hàng tiêu dùng của thành phố Hồ Chí
Minh, Hà Nội, Nam định, Hải Phòng cung cấp cho nhiều vùng trong
cả nước.
Nhưng quan trọng hơn là những mối liên hệ thường xuyên, liên
tục với cường độ cao và ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất và đời sống
xã hội vùng. Đó là những liên hệ nội vùng, mầm mống của những
tổng thể sản xuất lãnh thổ bắt đầu hình thành ở một số tỉnh và thành
phố có trình độ phát triển tương đối cao về sức sản xuất như Hà Nội,
Tp. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Thái Nguyên, Vĩnh Phú, Nam Định,
Đồng Nai, Quảng Nam, Đà Nẵng, Đó là những tổng thể sản xuất,
lãnh thổ giản đơn, qui mô nhỏ trong phạm vi vùng cấp tỉnh, chưa
hoàn thiện.
Trên quan điểm phát triển nền kinh tế toàn diện, sử dụng hợp lý,
bảo vệ các nguồn tài nguyên và tạo ra các nguồn lực mới cho đất nước,
90
Trần Thanh Hà
chúng ta phải nhìn nhận vùng kinh tế là một thực thể khách quan năng
động và ổn định tương đối. Hệ thống các vùng kinh tế lớn cùng với
những phân hệ của nó cũng mang tính chất như trên. Vì vậy, việc phân
vùng kinh tế và qui hoạch vùng không phải chỉ làm một lần là xong
và không nên đòi hỏi một hệ thống vùng kinh tế hoàn toàn ổn định,
bền vững qua nhiều giai đoạn phát triển của sức sản xuất.
Hình 2: Sơ đồ phân vùng
khoáng sản, sản xuất vật liệu xây
dựng, tiếp tục phát triển nhanh công
nghiệp dệt may, da giầy phục vụ xuất
khẩu, công nghiệp chế biến nông,
lâm, thủy sản
Vùng 3 10 Bình Định, Đà Nẵng, Khánh
Hòa, Ninh Thuận, Phú Yên,
Quảng Bình, Quảng Nam,
Quảng Ngãi, Quảng Trị, Thừa
Thiên-Huế
Công nghiệp chế biến nông, lâm, hải
sản, lọc và hóa dầu, cơ khí chế tạo, sản
xuất vật liệu xây dựng và dệt may, da
giầy, ngành điện tử và công nghệ
thông tin
Vùng 4 4 Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai,
Kon Tum
Thủy điện, công nghiệp chế biến
nông, lâm sản và khai thác, chế biến
khoáng sản
Vùng 5 8 Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương,
Bình Phước, Bình Thuận,
Đồng Nai, Lâm Đồng, thành
phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh
Công nghiệp khai thác và chế biến dầu
khí, điện, chế biến nông, lâm, hải sản và
đặc biệt là công nghiệp cơ khí, điện tử,
công nghiệp phần mềm, hóa chất, hóa
dược, phát triển công nghiệp dệt may,
da giầy chất lượng cao phục vụ xuất
Nam Trung bộ 5 Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh
Hoà
Tây Nguyên 5 Lâm Đồng, Đắk Nông, Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum
Đông Nam bộ 7 Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Tp. Hồ
Chí Minh, Ninh Thuận, Bình Thuận
Tây Nam bộ 13 Long An, Bến Tre, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Vĩnh Long,
Cần Thơ, Hậu Giang, Tiền Giang, Bạc Liêu, Cà Mau,
Kiên Giang, An Giang, Trà Vinh
Vùng Số tỉnh, thành Tỉnh, thành
Tây Bắc 4 Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình
Trung tâm 6 Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ,
Vĩnh Phúc
Đông Bắc 6 Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Quảng
Ninh, Bắc Giang
Đồng bằng sông
Hồng
9 Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nội,
Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình
Bắc Trung Bộ 6 Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị,
Thừa Thiên - Huế
Nam Trung bộ 7 Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh
Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận
Tây Nguyên 5 Lâm Đồng, Đắk Nông, Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum
Đông Nam bộ 6 Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước,
Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh
Tây Nam bộ 13 Long An, Bến Tre, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Vĩnh Long,
Cần Thơ, Hậu Giang, Tiền Giang, Bạc Liêu, Cà Mau,
Kiên Giang, An Giang, Trà Vinh
Một số vấn đề về phân vùng kinh tế Việt Nam
93
[3] Nguyễn Hiền (2006), Tiếp cận hệ thống trong Tổ chức lãnh thổ, Tuyển
tập các công trình khoa học, Hội nghị Khoa học Địa lý – Địa chính lần thứ 3,
Trường ĐHKH Tự nhiên. Hà Nội.
94
Trần Thanh Hà
[4] Nguyễn Hiền (2008), Yếu tố lãnh thổ trong thực tiễn phát triển, Hội nghị
Khoa học Phát triển: Lý luận và thực tiễn ở Việt Nam”, NXB Thế Giới,
Hà Nội.
[5] Chu Hậu Luân (2004), Chiến lược phát triển kinh tế vùng của Trung Quốc,
Bản dịch của Hàn Ngọc Lương, NXB Văn hiến Trung Quốc.
[6] 07/9/2006, Nghị định 92/2006/NĐ‑CP về lập, phê duyệt và quản lý quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế ‑ xã hội.
[7] Đặng Văn Phan, Vũ Như Vân (2002), Tổ chức lãnh thổ kinh tế xã hội
Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đổi mới và
phát triển, Tạp chí Khoa học xã hội Tp. HCM , số 6, tr 58.
[8] Lê Bá Thảo (1998), Lãnh thổ và các vùng địa lý, Nxb Thế giới, Hà Nội.
[9] Lê Thông (2006), Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam, Nxb Đại học Sư phạm,
Hà Nội.
[10] Tổng cục thống kê (2009), Niên giám thống kê Việt Nam năm 2008, Nxb
Thống kê, Hà Nội.
Một số vấn đề về phân vùng kinh tế Việt Nam
95