Một số vấn đề về xuất khẩu gạo của Việt Nam - Pdf 10

Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân
MỞ ĐẦU
Trong xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá, mỗi nước đều chọn cho mình
một hướng đi thích hợp để cùng tiến tới một mục tiêu kinh tế là: ổn định và
phát triển lâu dài nền kinh tế. Một hướng đi mà nhiều nước lựa chọn là “Công
nghiệp hoá hướng về xuất khẩu”. Xét về điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay
còn kém so với các nước trong khu vực, do đó để tránh nguy cơ tụt hậu thì Việt
Nam cần phải hoàn thành công cuộc CNH-HĐH đất nước. Việt Nam là một
nước nông nghiệp, có tới hơn 80% dân số làm việc trong ngành này, do đó hoạt
động xuất khẩu của Việt Nam ngoài dầu mỏ và than thì chủ yếu là hàng nông
sản trong đó mặt hàng gạo chiếm tỷ trọng lớn nhất của Việt Nam. Và năm 1997
Việt Nam đã đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo. Vì vậy, việc nghiên
cứu, tìm hiểu hoạt động xuất khẩu gạo Việt Nam để từ đó đề ra những giải
pháp thích hợp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gạo ở Việt Nam trong thời
gian tới là hết sức cần thiết.
Xuất phát từ thực tiễn đó tôi chọn đề tài Khoá Luận Tốt Nghiệp của mình là:
“Một số vấn đề về xuất khẩu gạo của Việt Nam”.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung khoá luận gồm 3 chương:
Chương 1: Lợi thế và điều kiện phát triển sản xuất và xuất khẩu gạo ở Việt
Nam.
Chương 2: Thực trạng của xuất khẩu gạo của Việt Nam trong những năm
gần đây.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu gạo
của Việt Nam.
Do trình độ và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên Khoá luận tốt nghiệp
này không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự quan tâm và góp ý
của các thầy giáo, cô giáo cùng các bạn.
Sinh viên: Phạm Thị Thanh Vân
1 1
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân
Chương 1

lợi nước ta với 10% ngân sách nhà nước đầu tư hằng năm đã đạt được những
thành quả đáng mừng. Với trị giá tài sản khoảng 25.800 tỷ đồng cơ sở vật chất
kỹ thuật của hệ thống thuỷ lợi đã tạo ra tổng năng lực tưới cho 3 triệu hecta
canh tác và năng lực tiêu cho 1,4 triệu hecta. Hơn nữa Việt Nam còn sở hữu
một hệ thống sông, hồ, kênh rạch phong phú phù hợp với cây lúa nước, thuận
lợi cho thu hoạch, vận chuyển và thực hiện xuất khẩu gạo.
Sự ưu việt của tài nguyên nước có ý nghĩa quyết định cho việc thâm canh,
tăng vụ thắng lợi và giảm giá thành sản phẩm nông sản. Lợi thế của tài nguyên
nước còn có ý nghĩa đặc biệt cho tài nguyên đất phát huy được đầy đủ trong
quá trình sản xuất nông nghiệp và trồng lúa.
Thực tế gạo là một sản phẩm mà không phải nước nàơ cũng có thể sản xuất
và cung cấp ra thị trường thế giới. Ngoài lợi thế về đất đai và nguồn nước
ra,Việt Nam còn có khí hậu nhiệt đới gió mùa rất phù hợp cho hai vựa lúa của
Việt Nam là ĐBSH và ĐBSCL có điều kiện lý tưởng trồng cây lúa nước, cùng
với sự kết hợp chặt chẽ các yếu tố khí hậu như: nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa
cũng như nắng gió. Điều kiện khí hậu ưu đãi hiếm có này còn là lợi thế tuyệt
vời cho phép ở ĐBSCL và ĐBSH sản xuất lúa quanh năm (3 vụ) trên diện rộng
và thích nghi với nhiều giống lúa cao sản, lúa đặc chủng có năng suất cao. Lợi
thế này tạo cho Việt Nam những bước đột phá trong sản xuất và xuất khẩu gạo.
1.2. Về lao động.
Trong điều kiện kinh tế Việt Nam, nông nghiệp và nông thôn là khu vực tạo
việc làm chủ yếu.Với dân số 78 triệu người, trong đó 75% dân số sống ở nông
thôn và 50% dân số ở trong độ tuổi lao động, Việt Nam có nguồn lao động dồi
3 3
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân
dào, giá nhân công rẻ . Đây là một lợi thế đối với việc sản xuất và xuất khẩu
gạo ở nước ta. Lực lượng lao động ở nông thôn tuy có kinh nghiệm về nghề
trồng lúa của ông cha truyền lại nhưng lao động có trình độ ở khu vực này nhìn
chung còn bất cập, về cơ bản vẫn chỉ là lao động phổ thông. Hiểu biết của
nông dân về khoa học kỹ thuật (nhất là công nghệ sinh học) còn kém, về thị

tương đương so với nước khác.
1.4. Về thể chế, chính sách.
Xuất khẩu của Việt Nam nói chung và xuất khẩu gạo nói riêng phát triển
một cách mạnh mẽ đó là nhờ nền chính trị ổn định và chính sách kinh tế hợp lí.
Chính sách mở cửa nền kinh tế đã mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế giữa Việt
Nam và thế giới, với mọi quốc gia và tổ chức kinh tế quốc tế. Điều đó tạo cơ
hội cho hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam có thêm những bạn hàng mới.
Nhà nước luôn có những chính sách khuyến nông, chính sách hỗ trợ phát triển
sản xuất lương thực và xuất khẩu như thưởng kim ngạch xuất khẩu, hỗ trợ lãi
suất vay ngân hàng, thưởng thành tích xuất khẩu, hỗ trợ xúc tiến thương mại
nhằm nâng cao hơn nữa giá trị kim ngạch xuất khẩu, khối lượng gạo xuất khẩu
ra thị trường quốc tế, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và thế
giới.
Năm 2001-2002, thực hiện chính sách thưởng kim ngạch xuất khẩu, hỗ trợ
lãi suất vay ngân hàng đã góp phần làm tăng số lượng gạo xuất khẩu, giúp
nông dân tiêu thụ được sản phẩm, giá gạo đã tăng khiến cho người dân yên tâm
hơn trong sản xuất. Bên cạnh đó nhờ các cơ chế, chính sách khuyến khích xuất
khẩu, các Doanh nghiệp xuất khẩu đã giảm bớt khó khăn về tài chính. Trong
năm 2001, Quỹ Hỗ trợ Xuất khẩu đã thưởng kim ngạch xuất khẩu cho mặt
hàng gạo là 26,39 tỷ đồng, tính riêng 5 tháng đầu năm 2002 cơ chế hỗ trợ lãi
suất vay ngân hàng mua tạm trữ mặt hàng gạo là 43,7 tỷ đồng.
5 5
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân
Ngoài ra Nhà Nước còn khuyến khích các Doanh nghiệp hình thành các tổ
chức hiệp hội, hợp tác để thống nhất về quy cách, ký kết hợp đồng dài hạn, bảo
đảm thanh toán để giảm bớt rủi ro, tránh hiện tượng ép cấp, ép giá trong buôn
bán.
Tăng cường các hoạt động hỗ trợ xuất khẩu gạo như: cung cấp miễn phí các
thông tin về thị trường và các văn bản có liên quan đến xuất khẩu cho các
Doanh nghiệp.

lớn. Năm 1998 nước này đã nhập 2,5 triệu tấn sau khi bị lũ lụt nặng nề. Iran là
nước 2 năm liên tiếp bị hạn hán đã phải nhập khẩu gạo với khối lượng khá lớn-
1 triệu tấn.
Trong năm 2000, sản lượng tăng mạnh sau cải cách thị trường nội địa đã làm
cho Việt Nam trở thành một trong số các nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới.
Sang năm 2001, theo số liệu thống kê nhu cầu nhập khẩu gạo thế giới chỉ đạt
23,3 triệu tấn, thấp hơn chút ít so với năm 2000. Nhập khẩu tăng mạnh ở Trung
Đông, Châu Phi và vài nước Châu Á do thời tiết xấu, điều này giúp cho giá
gạo xuất khẩu ở các nước Châu Á được lợi. Những nước nhập khẩu lớn năm
2002 là Iran, Ni-giê- ria, Ả-Rập-XêUt, Irắc, Philippin, Nhật Bản. Bảy nước
này nhập khẩu tới 6,42 triệu tấn, chiếm 27,5% lượng gạo giao dịch thế giới.
Điều khá ngạc nhiên là giá gạo tăng trong khi nguồn cung lại khá dồi dào. Các
nhà kinh doanh giải thích rằng giá gạo được nâng đỡ bởi các thương nhân đang
tranh giành mua gạo để thanh toán các hợp đồng đã ký trước đó. Năm 2001
Việt Nam trúng thầu hai đợt gạo xuất sang Philippin với tổng sản lượng 400
nghìn tấn, ngoài ra Việt Nam còn tiếp tục thanh toán các hợp đồng xuất gạo
sang Châu Phi, Inđônêsia, CuBa. Các hợp đồng này đã nâng mức xuất khẩu
7 7
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân
của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm lên 1,792 triệu tấn, trị giá 280,2 triệu
USD, giá bình quân bằng 81% so với cùng kỳ năm trước.
Có thể nói 2002 là năm nhu cầu gạo của nhiều khu vực nhập khẩu chính.
Theo FAO, năm nay Trung Quốc tăng gấp 6 lần lượng gạo nhập khẩu so với
năm 2001 do sản xuất nội địa giảm và theo yêu cầu của Tổ Chức Thương Mại
Thế Giới (WTO), khi gia nhập tổ chức này Trung Quốc buộc phải mở rộng cửa
nhập khẩu gạo từ năm 2002 và tăng dần hạn ngạch qua mỗi năm để đến năm
2004 mở cửa cho 4 triệu tấn gạo nhập vào đây với thuế suất rất thấp chỉ 1%.
Cũng theo cam kết với WTO, Đài Loan sẽ tăng nhập khẩu gạo 31 lần so với
năm 2001. Cả khu vực Châu Á tăng lượng nhập 1,2 triệu tấn so với năm trước.
Các nước tăng nhập mạnh là: Inđônêsia 600 nghìn tấn, Iran 100 nghìn tấn,

Năm 1986, diện tích gieo trồng lúa chỉ có 5688,6 nghìn ha, năng suất bình
quân 28,1 tạ/ha/vụ và sản lượng là 16,9 triệu tấn thì đến năm 2002 con số
tương ứng là: 7463 nghìn ha, 45,1ta/ha và 35,9 triệu tấn. Xu hướng này còn
tiếp tục tăng trong những năm tới vì tiềm năng tăng năng suất vẫn còn. Tốc độ
tăng sản lượng lương thực luôn luôn cao hơn tốc độ tăng dân số, nên lương
thực bình quân đầu người của Việt Nam tăng dần. Nếu như năm 1990 lương
thực bình quân đầu người mỗi năm là 324,4 kg thì đến năm 1995 là 372 kg và
năm 2002 là 435 kg. Đây là xu hướng ít thấy trong lịch sử sản xúât lúa gạo của
các nước Châu Á, và lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử nước ta. Theo Tổ
chức nông lương Liên hợp quốc (FAO), trong 17 năm qua (1986-2002) sản
lượng lúa gạo thế giới tăng thêm khoảng 70 triệu tấn, thì Việt Nam đã đóng
góp 10 triệu tấn. Chính sự tăng nhanh và ổn định của sản lượng lúa gạo Việt
Nam đã góp phần tích cực giảm sự căng thẳng về thiếu lương thực trên thế
giới. Đối với nước ta xu hướng này đã khắc phục một cách cơ bản tình trạng
thiếu đói giáp hạt kéo dài nhiều thập kỷ trước đổi mới, tạo đà cho việc ổn định
an ninh lương thực quốc gia, đẩy mạnh được hoạt động xuất khẩu gạo với vị trí
nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới (chỉ sau Thái Lan) và dẫn đầu thế
giới về tăng sản lượng lương thực. Điều này được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1: Sản lượng gạo của một số nước xuất khẩu chính trên thế giới.
10 10
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân
( Đơn vị tính: triệu tấn)
Năm 1999-2000 2000-2001 2001-2002
Việt
Nam
20,93 20,53 21,00
Thái
Lan
16,50 16,83 16,83
Ấn Độ 89,48 86,30 88,00

trước(%),
1989 1,420 __ 290,0 __
1996 3,003 +51,05 868,4 +63,82
1999 4,550 +19,74 1.012,0 - 1,84
2000 3,500 - 23,08 668,0 - 33,99
2001 3,729 +6,54 624,4 - 6,48
2002 3,24 - 13,11 725,5 +16,12
( Nguồn: Tổng cục thống kê - Bộ Thương mại)
Năm 1989, Việt Nam chính thức tham gia vào thị trường lúa gạo thế giới
với số lượng khá lớn là 1,4 triệu tấn, thu về 290 triệu USD, giá bình quân 204
USD/tấn. Tuy sản lượng gạo xuất khẩu chưa nhiều, giá còn thấp, chất lượng
chưa phù hợp với thị hiếu thế giới, nhưng đối với nước ta kết quả đó đánh dấu
sự sang trang của sản xuất lúa gạo từ tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hoá,
gắn với xuất khẩu. Các số liệu ở bảng 2 đã cho thấy rằng xuất khẩu gạo tăng
tương đối qua các năm, với 1,6 triệu tấn gạo xuất khẩu trong năm 1990 đã đưa
Việt Nam giành vị trí nứơc xuất khẩu gạo lớn thứ 3 trên thế giới.
Năm 1996, Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu gạo với mức lớn hơn. Lần đầu
tiên kể từ năm 1989 khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam vượt mức 3 triệu
tấn/năm, tăng 51% và đưa kim ngạch xuất khẩu đạt 868 triệu USD, tăng 63%
so với năm 1995. Đặc biệt đến năm 1997 đã đánh dấu bước ngoặt lớn đối với
nền kinh tế và ngoại thương nước ta, Việt Nam xuất hiện trên thị trường gạo
12 12
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân
với vị trí là nước xuất khẩu gạo thứ 2 (sau Thái Lan), với lượng gạo xuất khẩu
là 3,6 triệu tấn, đạt kim ngạch xuất khẩu gạo 900triệu USD; lý do là trong năm
1997 Việt Nam ký kết được nhiều Hiệp định thương mại, điển hình là hiệp
định với Iran về xuất khẩu gạo.
Bước vào năm 1998, có thể nói cơ hội đang mở ra cho Việt Nam khi hiện
tượng El nino gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến mùa màng của một số nước
Châu Á mà đặc biệt là Inđônêsia và Philippin đã gây ra cơn sốt gạo ở Châu Á.

một nguyên nhân nữa làm giảm giá gạo trên thế giới đó chính là ngành gạo của
các nước nhập khẩu gạo lớn như: Inđônêsia, Philippin, Trung Quốc… đang
dần dần phục hồi sau 2 năm mất mùa vì biến động thời tiết, các nước này đều
tuyên bố có khả năng tự cung cấp tự cấp gạo.
Năm 2001 xuất khẩu gạo đạt trên 3,7 triệu tấn, trợ giá hơn 600 triệu USD,
măc dù tăng khoảng 7% về lượng song cũng là thành công vì đã hoàn thành
được những nhiệm vụ cơ bản: xuất khẩu vượt chỉ tiêu 3,5 triệu tấn do chính
phủ đề ra, tiêu thụ hết thóc hàng hoá, chặn đà giảm sút giảm sút của giá thóc,
gạo trong nước. Tuy vậy xét về kim ngạch thì vẫn giảm 6%. Nguyên nhân là
trong những tháng đầu năm 2001 giá gạo vẫn giảm mạnh do ảnh hưởng từ năm
2000, các Doanh nghiệp của Việt Nam vẫn ký hợp đồng bán gạo với giá thấp,
nhưng bắt đầu từ tháng 6-2001 giá gạo tăng cao dần thì ta lại không có gạo để
xuất vì phải xuất gạo theo hợp đồng đã ký. Đó chính là lý do làm cho lượng
gạo xuất khẩu tăng mà gía trị xuất khẩu gạo lại giảm trong năm 2001.
Sản xuất nông nghiệp trong năm 2002 gặp nhiều khó khăn to lớn, có mặt
gay gắt hơn 2001 đó là thiên tai diễn ra trên diện rộng, kéo dài từ đầu năm dến
cuối năm: hạn hán gay gắt ở Đông Nam Bộ,Tây Nguyên và Miền Trung, lũ
lớn kéo dài và ngập sâu ở vùng ĐBSCL, mưa lớn, lốc xoáy và lũ quét xảy ra
gây thiệt hại nặng nề về tài sản, mùa màng và sinh mạng ở nhiều vùng và địa
phương.Tuy vậy sản xuất nông nghiệp vẫn đạt mức tăng trưởng khá, năng xuất
lúa cả năm đạt 45,1 tạ/hecta, sản lượng đạt 35,9 triệu tấn. Nhờ đó mà khối
14 14
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân
lượng gạo xuất khẩu đạt 3,24 triệu tấn (giảm 13%) và đạt kim ngạch trên 700
triệu USD (tăng 16%) so với năm 2001. Đó là vì chất lượng gạo xuất khẩu của
Việt Nam trong năm 2002 đã được nâng cao rõ rệt, do đó giá thành cũng cao
hơn những năm trước.
Trong những năm qua, kim ngạch xuất khẩu gạo đã đóng một vai trò quan
trọng trong sản lượng tích luỹ vốn cho quá trình phát triển đất nước. Từ năm
1989 dến năm 2002, Việt Nam đã xuất khẩu trên 87 triệu tấn gạo đạt kim

đáp ứng được những yêu cầu khắt khe của quốc tế về chất lượng, vì vậy giá
gạo Việt Nam thấp làm cho kim ngạch xuất khẩu gạo giảm. Những năm gần
đây kim ngạch xuất khẩu của cả nước đang tăng dần, để nâng cao tỷ trọng kim
ngạch xuất khẩu gạo thì một trong những điều kiện cần là Việt Nam phải chú
trọng đến chất lượng gạo xuất khẩu, do đó dù gạo xuất khẩu của Việt Nam
khối lượng có giảm nhưng giá trị xuất lại cao.
2.2. Thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam.
Việt Nam chỉ thực sự là nước xuất khẩu gạo lớn từ năm 1989. Từ đó việc
xâm nhập và mở rộng thị trường của Việt Nam trong những năm đầu đã gặp
không ít khó khăn vì thường đụng đến những khu vực là thị trường quen thuộc
của các nước xuất khẩu truyền thống đặc biệt là Thái Lan. Những năm qua Việt
Nam đã tích cực mở rộng các mối quan hệ, tham gia vào các tổ chức kinh tế
quốc tế. Trên thị trường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam đã có những thay
đổi rõ rệt theo hướng đa dạng hơn.
Bảng 4: Quy mô và thị phần xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn
1991- 2002.

m
Lượng gạo xuất
khẩu của Việt Nam
( triệu tấn)
Lượng gạo mậu
dịch Thế Giới
( triệu tấn)
Thị phần
của
Việt Nam
(%)
1991 1,033 12,700 8,1
1995 1,988 21,000 9,4

95
19
98
19
99
20
00
20
01
20
02
Châu Á 45,
0
51
,0
52
,2
78
,0
76
,0
55
,0
70
,0
17 17
Khoá luận tốt nghiệp Phạm Thị Thanh Vân
Châu Phi 39,
0
32

0
4,
0
10
,0
15
,0
Tổng cộng 100 10
0
10
0
10
0
10
0
10
0
10
0
( Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam số 95, 97-2001, số 75-2002).
Từ khi bắt đầu xuất khẩu gạo đến nay thì thị trường chủ yếu của Việt Nam
vẫn là thị trường Châu Á (chiếm khoảng 50% tổng giá trị kim ngạch). Thị
trường này luôn được Việt Nam theo dõi chặt chẽ, vì hầu hết các nước Châu Á
thường có tập quán lâu đời tiêu dùng lúa gạo, đều coi lúa gạo là lương thực chủ
yếu của mình. Từ đó Việt Nam chuẩn bị nguồn cung, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu
nhập bổ sung đột xuất của khu vực này nhất là thị trường Inđônêsia, Philippin,
Iran, Irăc, Trung Quốc…
Hiện nay các thị trường khác của Việt Nam cũng đang có sự thay đổi theo
chiều hướng tích cực, nhất là thị trường tiềm năng lớn như Châu Phi thì lượng
gạo Việt Nam xuất khẩu vào tương đối ổn định qua các năm. Vì vậy đối với thị

thành công, nhiều đoàn công tác cấp Chính Phủ, cấp Bộ đã được cử đi các thị
trường Đông Nam Á, Châu Phi, Trung Đông, Châu Mỹ… Kết quả là nhiều
thoả thuận Chính phủ về xuất khẩu gạo đã được ký, các hiệp định thương mại
được ký với một số nước nhập khẩu gạo lớn ở Châu Phi. Đây cũng chính là cơ
sở pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho các Doanh nghiệp xuất khẩu của ta
thâm nhập vào các thị trường tiềm năng này, qua đó đẩy mạnh việc xuất khẩu
trực tiếp tới các nhà nhập khẩu của họ. Việc xuất khẩu gạo vào các thị trường
truyền thống như Nga và một số nước Đông Âu được phục hồi và có mức tăng
19 19

Trích đoạn Củng cố thị trường hiện có và mở thêm thị trường mới: Nâng cao chất lượng gạo xuất khẩu. Nâng cao giá gạo xuất khẩu.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status