BẢN SẮC VĂN HOÁ VÀ SỰ TƯƠNG TÁC KHÔNG GIAN LÃNH THỔ GIỮA CÁC DÂN TỘC VÙNG TRUNG DU VÀ MIỀN NÚI BẮC BỘ VIỆT NAM - Pdf 30

BẢN SẮC VĂN HOÁ VÀ SỰ TƯƠNG TÁC KHÔNG GIAN
LÃNH THỔ GIỮA CÁC DÂN TỘC VÙNG TRUNG DU
VÀ MIỀN NÚI BẮC BỘ VIỆT NAM
TS. Dương Quỳnh Phương, Thân Thị Huyền
Trường ĐHSP, Đại học Thái Nguyên
Đặt vấn đề
Với hơn 30 dân tộc cư trú đan xen, trung du miền núi Bắc Bộ là một
vùng văn hoá ‑ tộc người vừa đa dạng vừa thống nhất theo không gian
và thời gian. Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hoá riêng của mình, đồng
thời tiếp biến bản sắc văn hoá của các dân tộc anh em cùng cư trú trong
một địa bàn lãnh thổ. Trong quá trình tương tác đó đã hình thành các
không gian lãnh thổ đặc thù theo đai cao, đó là các vùng rẻo cao, rẻo giữa,
rẻo thấp; tương ứng là các đặc trưng văn hoá núi cao (Hmông, Dao), văn
hoá thung lũng (Tày, Thái), văn hoá trung du và vùng gò đồi (người Kinh).
Bản sắc văn hoá và sự tương tác không gian lãnh thổ giữa các dân
tộc ở vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ
Trung du và miền núi Bắc Bộ bao gồm 15 tỉnh phân theo đơn vị hành
chính là: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình (thuộc vùng Tây Bắc) và
các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên
Quang, Quảng Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ, Lào Cao, Yên Bái (thuộc vùng
Đông Bắc). Đây là một vùng địa lí dân tộc học độc đáo, với hơn 30 dân
tộc cư trú xen kẽ lâu đời; một số dân tộc có dân số đông ở vùng Đông
Bắc (Tày, Nùng ) và ở Tây Bắc (Thái, Mường ). Năm 2007, số dân của
vùng đạt 12.194.000 người chiếm 14,3% dân số cả nước. Vùng trung du và
vùng gò đồi là nơi cư trú chủ yếu của người Kinh. Đó là khung cảnh làng
quê quen thuộc với hình tượng cổng làng, nổi bật là không gian chợ làng
với các con đường làng lát gạch nghiêng trên nền cánh đồng lúa chín
thẳng cánh cò bay, cảnh làng quê thanh bình. Dân tộc Kinh có nhiều kinh
nghiệm thâm canh lúa nước, có các nghề thủ công đạt trình độ tinh xảo,
CƠ SỞ KHOA HỌC CHO PHÁT TRIỂN VÙNG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
397

rẻo cao là những nơi cao nhất, thường có độ cao tuyệt đối trên 600m.
Đứng ở vị trí tương đối, đây là nơi sâu nhất, xa nhất và kinh tế khó khăn
nhất. Phương thức sử dụng đất tập trung vào cây lương thực nương rẫy
và chăn nuôi đại gia súc. Khoảng 70% sản lượng lương thực có hạt là
ngô và lúa nương; mỗi hộ thường nuôi ít nhất 1 con trâu, 1 con bò hoặc
1 con ngựa. Đó là địa bàn cư trú chủ yếu của dân tộc Hmông, Dao. Vùng
398
Dương Quỳnh Phương, Thân Thị Huyền
rẻo giữa là vùng có tính chất chuyển tiếp và pha trộn của vùng rẻo cao
và vùng rẻo thấp. Đồng bào vừa trồng ruộng nước, vừa canh tác trên
những sườn dốc có khi tới 45
o
và đa dạng hoá phương thức sử dụng đất
bằng cách trồng lúa nước ở những nơi đất thấp ven sông suối, thung
lũng và trồng cây lương thực trên nương rẫy. Vùng rẻo thấp là những nơi
gần đường giao thông, địa hình thấp có độ cao trung bình dưới 300m,
gần sông suối. Địa bàn này chủ yếu là nơi dân tộc Kinh cư trú. Họ có
điều kiện sống thuận lợi hơn nên nền nông nghiệp đã định canh từ lâu
đời. Phương thức canh tác tập trung vào lúa nước. Như vậy, để thích
ứng với điều kiện địa hình, đất đai, khí hậu, thổ nhưỡng của khu vực
miền núi, đồng bào các dân tộc đã có những phương thức canh tác khác
nhau, nền kinh tế dựa vào trồng trọt là chủ yếu.
Xét sự tương tác theo đai ngang (tức là sự tương tác giữa các nhóm dân tộc
sinh sống trong cùng một độ cao nhất định), đối với đồng bào dân tộc Hmông,
tập quán sinh sống trên các vùng núi cao, cuộc sống dựa chủ yếu vào sản
xuất nông nghiệp, trong đó canh tác trên đất dốc là phương thức sản xuất
chính. Do vậy, việc triển khai thành công mô hình canh tác trên đất nương
rẫy theo hướng bền vững kết hợp nông, lâm nghiệp và chăn nuôi đại gia
súc đã thực sự góp phần cải thiện đời sống đồng bào, ngăn chặn tình
trạng du canh du cư đốt rừng làm nương rẫy; đặc biệt là hướng dẫn đồng

chuẩn mực xã hội, đạo đức với những hương ước khá chặt chẽ. Đây là địa
bàn chịu ảnh hưởng của quá trình tiếp biến văn hoá “nhạy cảm” nhất.
Có thể nói, giá trị nhất trong sự tương tác giữa hai dân tộc Hmông –
Dao là hoạt động sản xuất theo phương thức canh tác nương rẫy và chăn
nuôi đại gia súc, biết kết hợp mô hình trồng ngô trên hốc đá với mô hình
canh tác trên đất dốc, sử dụng tài nguyên rừng. Còn đối với hai dân tộc
Tày, Nùng, cư trú ở vùng thung lũng thì đó là kĩ thuật, làm ruộng nước,
làm nương bãi để trồng lúa, ngô, khoai lang, khoai sọ, sắn, đậu, lạc, chè,
vừng, ngô trồng xen với đỗ Đặc biệt trong việc sắp xếp lịch thời vụ,
lựa chọn giống cây, cơ cấu xen canh. Và đối với đồng bào Kinh cốt lõi
nhất vẫn là nghề thâm canh lúa nước đã trở thành nền văn minh với tên
gọi “văn minh lúa nước”. Lễ hội của người Kinh là môi trường cộng cảm,
văn hoá cộng mệnh về mặt tâm linh. Tính cộng đồng trong sự tương tác
giữa các nhóm dân tộc rất chặt chẽ.
Xét sự tương tác theo không gian đông – tây, tây bắc ‑ đông nam, Tây Bắc
‑ vùng văn hoá ba con sông ‑ vùng văn hóa hoa ban là địa bàn cư trú của các
dân tộc Thái, Hmông, La Ha, Xinh Mun, Khơ Mú cùng với một bộ
phận người Kinh vốn là hậu duệ nghĩa binh Hoàng Công Chất đã sống
lâu đời nơi đây và một bộ phận người Hoa vốn là dòng dõi của tàn quân
Lưu Vĩnh Phúc. Ngược dòng lịch sử, chỉ cần chạm đến đầu Công
Nguyên là đã bắt gặp cái cơ tầng văn hoá của miền đất này. Thuở ấy, cư
dân Tây Bắc là bộ phận của nền văn minh đồng thau Đông Sơn với trống
đồng và công cụ bằng đồng, những thứ mà ngày nay trở thành vật
thiêng, chỉ dùng trong các nghi lễ thờ cúng tổ tiên. Những nét đặc trưng
400
Dương Quỳnh Phương, Thân Thị Huyền
như trống đồng, thuyền độc mộc, nhạc cụ tre nứa, tục xăm mình đều
như phảng phất những gì đã từng được sách chữ Hán cũng như các
truyền thuyết nói về xứ sở Vua Hùng. Điều này được thể hiện khá rõ
trong các cư dân Kháng, La Ha, Mảng Người Thái ở mức độ phát triển

Về văn hoá ẩm thực, tuỳ theo địa phương, tuỳ theo từng dân tộc mà
cách thức chế biến và khẩu vị có sắc thái riêng. Trong chế biến món ăn
có sự tiếp thu kỹ thuật của người Hoa, người Việt.
Bản sắc văn hóa và sự tương tác không gian lãnh thổ giữa các dân tộc vùng
401
Sự tương tác giữa các nhóm dân tộc theo không gian đai cao, đai ngang và
không gian đông ‑ tây trong trồng trọt, chăn nuôi, quản lý rừng và tài
nguyên cộng đồng, dinh dưỡng và sức khoẻ con người, tổ chức cộng đồng
và truyền thụ kinh nghiệm cho con cháu đã tạo nên hệ thống kinh nghiệm,
thông tin, kĩ thuật, công cụ, nguyên liệu, nguồn sinh học, tín ngưỡng vững
chắc cho các dân tộc trong lề lối ứng xử với môi trường tự nhiên và sinh hoạt hàng
ngày. Tài nguyên môi trường là điều kiện cốt lõi đảm bảo sự phát triển bền
vững của các quốc gia – dân tộc, là cơ sở vật chất khách quan tác động tới
các dân tộc sinh tụ và phát triển trong môi trường đó. Mỗi dân tộc tuỳ theo
trình độ phát triển, tập quán sản xuất và văn hoá mà tác động khác nhau
tới môi trường và cũng sử dụng tài nguyên theo cách riêng của mình.
Theo thời gian, kiến thức đó được biến cải ngày càng hoàn thiện hơn, thích
ứng với môi trường và xã hội. Rõ ràng, kiến thức bản địa có giá trị cao
trong lĩnh vực xây dựng các mô hình nông thôn bền vững. Cần phải phối
hợp những ưu điểm của kiến thức bản địa với mặt mạnh của khoa học
kĩ thuật hiện đại để đạt được hiệu quả cao, bền vững và phù hợp về văn
hoá của cộng đồng các dân tộc thiểu số rất đa dạng và phức tạp ở khu
vực miền núi. Trong quá trình hội nhập hiện nay, sự mở rộng giao lưu
văn hoá giữa các tộc người để tăng cường sự hiểu biết, nâng cao ý thức
tự giác bảo tồn, phát huy vốn di sản văn hoá của các dân tộc. Lãnh thổ
như một điều kiện vật chất cơ bản để hình thành các cộng đồng dân tộc.
Để giao dịch được, con người phải sống gần nhau, thậm chí các nhóm
người khác nhau về ngôn ngữ, về xuất xứ nếu sinh sống cùng nhau trong
một vùng lãnh thổ, họ sẽ tạo thành một cộng đồng dân tộc thống nhất.
Trong thời đại của sự giao thoa giữa các nền văn hoá, quá trình tương

toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng đang diễn ra một cách tất yếu và mau
lẹ không thể nào cưỡng lại được. Một dân tộc nếu đánh mất bản sắc văn
hóa của mình cũng có nghĩa là đánh mất tất cả.
Văn hóa của các dân tộc bao giờ cũng có cách tiếp biến riêng của nó, vừa
nghiêm ngặt vừa cởi mở, vừa tự nhiên lại vừa mang tính áp đặt, nếu ai
cố tình không hiểu điều đó có nghĩa là người đó đứng ngoài sân chơi
chung của các thực thể văn hóa. Trong thời đại hiện nay, công nghệ
thông tin nói riêng và khoa học kỹ thuật nói chung dường như đã nối
dài cánh tay cho con người xích lại gần nhau hơn. Thế nhưng, mọi mô
thức văn hóa du nhập từ bên ngoài vào (ngoại lai) không phải tất cả đều
được thừa nhận và phát huy hiệu quả ngay như là những yếu tố đã được
tích tụ hàng ngàn năm (nội sinh). Như vậy, chúng ta có thể thấy sự tiếp biến
văn hóa bao giờ cũng đi theo đường vòng và diễn ra hết sức chậm chạp.
Kết luận
Nếu ví vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ như một “ngôi nhà
chung” với “mái nhà” là đỉnh Phan Si Păng cao 3.143m, thì trong “ngôi
nhà” ấy có một nền văn hoá dân gian đa dạng, đặc sắc. Tầng 1 của ngôi
nhà (vùng thấp) là địa bàn cư trú chính của dân tộc Kinh. Tầng 2
Bản sắc văn hóa và sự tương tác không gian lãnh thổ giữa các dân tộc vùng
403
(vùng thung lũng) là nơi cộng cư chính của các dân tộc Thái, Lào, Lự,
Kháng với g ương mặt tiêu biểu là dân tộc Thái. Trong khi đó tầng 3
của ngôi nhà (vùng cao) là nơi cư trú lâu đời của các dân tộc Hmông,
Dao, La Hủ, Hà Nhì, Si La, với gương mặt văn hoá đại diện là dân tộc
Hmông. Thật không hề đơn giản chút nào khi nói về văn hoá của cả một
vùng rộng lớn, với mấy chục tộc người vừa đa dạng vừa thống nhất.
Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
theo định hướng xã hội chủ nghĩa với những đặc trưng cơ bản: dân tộc,
hiện đại, nhân văn là nhiệm vụ rất quan trọng trong công cuộc đổi mới.
Một trong những nội dung trọng tâm của nền văn hoá ấy là xây dựng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status