Bản sắc văn hóa và bảo tồn bản sắc văn hóa việt nam - Pdf 23

Bản sắc văn hóa và bảo tồn bản sắc văn hóa Việt Nam
Nếu như người Đức chính xác, kỉ luật, người Hoa thực dụng không
khéo, người Nhật đoàn kết trung thành, người Tây Ban Nha cuồng
nhiệt nghệ sĩ thì người Việt Nam là gì nhỉ? Người Việt Nam cần cù chịu
thương chịu khó hay một người Việt khôn lanh, trễ hẹn, vô tổ chức?
Tìm hiểu bản sắc văn hóa người Việt Nam đang ngày càng nhận được
nhiều sự chú ý hơn. Cụ thể là hàng loạt các công trình, luận án lớn nhỏ
lội ngược dòng tìm về bến nước cây đa, là bộ môn cơ sở văn hóa, chuyên
ngành văn hóa học, Việt Nam học được đưa vào chương trình giảng
dạy chính thống trên các giảng đường đại học, cao đẳng. Câu hỏi được
đặt ra là Việt Nam có bản sắc văn hóa hay không?
Văn hóa là cái gì còn lại khi tất cả những cái khác bị quên đi, là cái vẫn
thiếu khi người ta đã học tất cả - Edouard Herriot.
Nếu như văn minh là tìm cách hòa mình vào dòng chảy không ngừng của
nhịp độ phát triển đi lên với thế giới thì tìm về văn hóa lại là cú lội ngược
dòng vào trong tâm khảm để tìm lại những giá trị bền vững, truyền thống,
tinh hoa được kết tụ ngàn năm trong mỗi con người, mỗi dân tộc, mỗi quốc
gia. Không có một đất nước nào chỉ công nghiệp hóa, lãng quên vào việc giữ
gìn văn hóa mà có thể tồn tại cân đối và lâu dài. Và có lẽ, trên thế giới này,
chẳng một dân tộc nào chịu phải trả một cái giá quá đắt khi đánh rơi đi cái
tôi riêng, khuôn mặt riêng, cá tính riêng của họ. “Cái tôi văn hóa”, hay người
ta vẫn gọi là bản sắc văn hóa ấy , tiêu tốn không biết bao nhiêu giấy mực mà
vẫn còn là một dấu hỏi lớn.
“Bản” là cái cá thể, là cái riêng biệt, “sắc” là sắc thái, tính chất. Nếu hiểu
theo nghĩa triết tự nôm na, “bản sắc văn hóa” có thể hiểu là những đặc điểm
đặc sắc, tiêu biểu, mang tính bán thể của một của nền văn hóa nào đó.
Nhưng dường như một định nghĩa quá nôm na nhưng vậy không đủ để thỏa
mãn cho trí tuệ của con người. Cái khó hiểu trong định nghĩa “bản sắc văn
hóa” không nằm ở hai chữ “bản sắc” và nằm trong phạm trù “văn hóa”.

Về văn hóa, có định nghĩa tiếp cận từ góc độ lịch sử qua việc nhấn

tiếp nêu lên. Nếu như văn hóa chỉ là hệ thống giá trị vật chất, tih thần, được
con người tích lũy trong quá trình lao động thì khái niệm văn hóa vẫn chưa
được phân tách rõ ràng giữa tiêu cực hay chỉ đơn thuần tích cực, văn hóa hay
còn có cả phi văn hóa.
Nếu như văn hóa là kết quả của một quá trình chọn lọc lâu dài của tự
nhiên và xã hội thì bản sắc văn hóa hơn tất cả là tinh hoa kết đọng cuối cùng
của quá trình chuyển mình không ngừng ấy. Nó là văn hóa được tinh chế lần
hai, do một cá nhân, một dân tộc chọn để làm bộ mặt,để tổn tại thông qua
lăng kính thẩm mĩ của riêng mình.
Trong cái mơ hồ về khái niệm, tôi bắt gặp niềm trăn trở của nhà giáo
Chu Văn Sơn:
“Tìm kiếm bản sắc dân tộc cũng giống như đi tìm hồn quê. Đó là cuộc
kiếm tìm nhiều khi thật vô vọng. Ít ai không cảm nhận được nó, thấy nó là
một hiện hữu, một hiện thực. Nhưng tới gần thì nó cứ như bóng trong
gương, trăng đáy nước, ảo ảnh trên sa mạc. Người tìm kiếm luôn phải đối
diện với những câu hỏi nát óc: bản sắc là đơn thể hay tổng thể? thuộc nội
dung hay hình thức? là thuộc tính hay phẩm chất? gồm cả tiêu cực hay chỉ
thuần tích cực? là di sản hay luôn là tài sản? bất biến hay hằng biến? đóng
hay mở? chỉ là kết tinh hay luôn là quá trình? là bệ phóng hay rào cản? chỉ
khư khư giữ lấy hay cần cả cải cách làm mới? v.v Dường như đó là vấn đề
luôn làm vô vọng mọi nỗ lực nắm bắt thì phải. Nó chỉ cho người ta đến gần,
chỉ tiệm cận chứ khó mà tiếp cận, khó mà chiếm lĩnh [ ]Tôi quan tâm nhiều
hơn đến câu hỏi về bản chất. Để trả lời câu hỏi bản sắc là gì, trước đây,
người ta thường nghiêng về tìm kiếm các đơn thể. Đến nay, việc chỉ ra một
số cái này hay cái kia, rồi bảo rằng đó là bản sắc của dân tộc không còn là
cách nhận diện tin cậy nữa rồi. Giữa cái và kiểu, xem ra bản sắc thật,
nghiêng về kiểu nhiều hơn. Người Việt mình tài hoa. Đúng rồi. Nhưng bảo
đó là bản sắc thì không đúng. Nói thế khác nào bảo người các dân tộc khác
không tài hoa, khác nào xem tài hoa là độc quyền của người Việt. May
chăng, có thể thấy dấu ấn nằm ở kiểu. Tài hoa kiểu này ra người Trung

vào đơn thể)chứ không mượn chức năng hay cách thức tồn tại của bản sắc
văn hóa để định nghĩa cho một phạm trù. Có những “tấm gương” văn hóa
trở nên nổi bật, không phải vì họ sáng tạo một nền văn hóa độc nhất mà họ
đã sáng suốt và thành công lựa chọn cho mình một “kiểu” riêng để phát
triển. Nổi bật nhất là Nhật Bản. Rõ ràng họ chịu ảnh hưởng Trung Quốc,
nhưng lại tạo ra một hướng phát triển khắc hẳn. Thành tựu văn hoá của họ
đã hoá thân vào mọi lĩnh vực và vươn xa ra toàn cầu. Lâu nay, mọi sản phẩm
công nghiệp hiện đại của Nhật, ngoài chất lượng và bảo hành tuyệt hảo còn
có kiểu cách không lẫn vào đâu được: đẹp mà lại còn có dáng vẻ rất Nhật.
Văn hoá các nước Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Nga đều chịu ảnh hưởng của
văn hoá Hy Lạp - La Mã cổ đại, được nhuộm thêm màu Cơ đốc giáo. Thế rồi
mỗi nước tách ra một kiểu riêng, không hẳn biệt lập nhưng rất khó lẫn: Pháp
điệu đàng, mơ mộng đến mức dài dòng văn tự; Đức suy tư dằn vặt kiểu triết
học; Tây Ban Nha nồng nhiệt và khốc liệt; Nga có vẻ nặng nề, hơi thô nhưng
tình cảm đằm thắm, buồn da diết
Giống như văn hóa “Không văn hóa nào có thể tồn tại nếu nó tìm cách
trở nên độc tôn” thì bản sắc văn hóa cũng cần có sự giao lưu bồi tụ không
ngừng. Cái “bồi tụ” đáng nói về bản sắc là sự tích lũy kinh nghiệm văn hóa
của nước bạn để làm giàu vốn hiểu biết, vốn văn hóa của nước mình, cũng
như góp phần cho công cuộc văn minh hóa đất nước. Tôi từng biết 2 chuyện
nhỏ, chẳng vui gì, về bản sắc. Chuyện 1: để giao lưu văn hoá, hai nước
Bulgarie và Senegal cử đoàn văn công sang thăm nhau. Đoàn Senegal đi
trước, múa kiểu châu Phi rất bốc, được nhiệt liệt hoan nghênh. Chỉ có điều
sau đó, bộ trưởng văn hoá nước Bul gửi thư cho đồng cấp nước Senegal đề
nghị các nữ vũ công của nước này phải đeo nịt ngực cho hợp thuần phong
nước Bulgarie. Vị bộ trưởng văn hoá Senegal trả lời đồng ý với điều kiện:
sau đó, các nữ vũ công đoàn Bulgarie khi sang Senegal diễn cũng phải để
ngực trần cho hợp thuần phong nước Se. Tất nhiên, bộ trưởng nước Bul sợ
quá, phải rút lại lời đề nghị. Chuyện 2: tại một hội nghị về vấn đề Hội nhập
văn hoá toàn cầu có một ông hiệu trưởng trường nghệ thuật cấp tỉnh của

“thật là mỉa mai khi đi giữa London mà muốn chứng tỏ mình là người Việt
Nam”. Cái mỉa mai kia phải chăng là nhận dạng văn hóa? Hay người ta hay
nói với nhau rằng cứ nhìn cách xếp hàng là biết đó là người Việt Nam hay
không. Người ta dùng “văn hóa xếp hàng”, “văn hóa chửi thề”, “văn hóa đái
bậy” để nhận diện người Việt từ xưa đến nay, phải chăng những “văn hóa”
ấy là “bản sắc”? Thế quả thật người kia đúng khi thấy mỉa mai khi nhận
mình là người Việt giữa lòng thủ đô London phồn thịnh và văn minh nhường
ấy. Hai ý kiến trên lại thật sai lầm khi chỉ hiểu đến sự nhận dạng, phân biệt
mà quên đi yếu tố “cốt lõi”, yếu tố “văn hóa” để làm tiên đề cho sự nhận
dạng đó. Những đặc trưng cốt lỗi của một nền văn hóa được cho là dấu hiệu
phân biệt không giống như vết sẹo, nốt ruồi, màu mắt, kiểu tóc để phân biệt
con người với con người. Riêng trong khái niệm văn hóa đã có tính “giá trị”.
Nghĩa là những đặc trưng ấy phải hàm chứa một ý nghĩa nào đó. Bản sắc
văn hóa phải có chiều sâu. Nếu như đi giữa London, bạn muốn chứng minh
mình là người Việt Nam da vàng mũi tẹt thì đúng là mỉa mai, nhưng nếu như
cũng là giữa lòng thủ đô London bạn có thể mặc áo dài, nói một câu “xin
chào” bằng tiếng Việt, đó mới là bản sắc. Thật sai lầm khi lấy những yếu tố
phi văn hóa để phân biệt các nền văn hóa. Người ta hay nhìn vào những cái
xấu mà quên đi bên cạnh đó còn nhiều hơn nữa những mặt tốt đẹp của con
người. Ví dụ như khi ăn cơm chung một mâm, bạn có thể chỉ nhìn thấy
những sự chung đụng ở bát canh bát mắm là mất vệ sinh, nhưng lại không
thấy được sự hòa hợp âm dương trong từng món ăn, hay tính cộng đồng
quanh mâm cơm nhỏ bé ấy. Định nghĩa trên nói về sự phân biệt, nói đến tính
lịch sử nhưng lại chưa đề cập thật đầy đủ về tính giá trị của văn hóa và bản
sắc văn hóa. “Đặc trưng riêng” phải là đặc trưng có giá trị nhân văn bền
vững thì định nghĩa mới thực sự đầy đủ và bản sắc văn hóa mới mang đúng
ý nghĩa của nó.
Nói tóm lại, bản sắc văn hóa là một thể thống nhất các giá trị sống và cách
lựa chọn các giá trị sống dựa trên “tính cách, tâm lí của một dân tộc” (giáo
sư Hà Văn Tấn) hay cộng đồng người. Bản sắc văn hóa không chỉ giúp định

trình độ. Thêm vào đó văn hóa Việt Nam không có tính ổn định bền vững
mà liên tục biến đổi. Trước những thay đổi của lịch sử, nền văn hóa Việt
Nam liên tục quay cuồng trong cơn biến đổi, không giữ vững bản sắc, trong
khi rất nhiều cái mới du nhập thì cũng là sự mai một không hề ít của yếu tố
truyền thống. Ví dụ khi cơn gió phương Tây tràn qua. Hãy cùng nhau xem
lại thời khắc mà văn minh phương Tây “đi tới chỗ sâu nhất trong hồn ta”
làm thay đổi nhiều điều mà nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã tổng kết
trong sách “Thi nhân Việt Nam”:“Chúng ta ở nhà tây, đội mũ tây, đi giày
tây, mặc áo tây. Chúng ta dùng đèn điện, đồng hồ, ô tô, xe lửa, xe đạp… còn
gì nữa! Nói làm sao cho xiết những điều thay đổi về vật chất phương Tây đã
đưa tới giữa chúng ta! Cho đến những nơi hang cùng ngõ hẻm, cuộc sống
cũng không còn giữ nguyên hình ngày trước. Nào dầu tây, diêm tây, nào vải
tây, chỉ tây, kim tây, đinh tây” (Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội,
1988, tr.10). Nhà phê bình đã không ngần ngại đánh giá rằng: “Những đồ
dùng kiểu mới ấy chính đã dẫn đường cho tư tưởng mới. Trong công cuộc
duy tân, ảnh hưởng của nó ít ra cũng ngang với ảnh hưởng những sách nghị
luận của hiền triết Âu Mỹ, cùng những sách cổ động của Khang, Lương”.
Yếu tố ngoại lai làm thay đổi văn hóa Việt nhiều đến mức nhà thơ Nguyễn
Bính đã từng thốt lên rằng:
Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa
Như hôm em đi lễ chùa
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh
Trước sự “hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” cũng là câu hỏi lớn khi
tìm hiểu về bản sắc văn hóa Việt Nam, càng quan trọng hơn khi ngày càng
nhiều yếu tố phi văn hóa diễn ra. Có lẽ dải đất hình chữ S chỉ có những tầng
lớp văn hóa vay mượn trọn vẹn mà không có bản sắc riêng, lập trường riêng
của mình?
Trước hết phải khẳng định dân tộc Việt Nam có bản sắc văn hóa. Bằng
chứng là trải qua hàng nghìn năm lịch sử, trước bao nhiêu âm mưu đồng hóa
người Việt, đưa người Việt trở về thời kì đồ đá…đều không thành. Bước cản

những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
được vun đắp nên qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Đó là
lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức
cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái,
khoan dung, trọng tình nghĩa, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao
động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống… Bản sắc văn hóa
dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc
đáo.”
Có rất nhiều quan điểm khác nhau, nhiều tác phẩm khác nhau nói về
nguồn gốc của bản sắc văn hóa Việt Nam. Tôi xin dẫn ra ý tưởng của TS
Trương Gia Bình, vừa là nhà khoa học vừa là nhà doanh nghiệp lớn. Ông
cho rằng: Bản sắc Văn hóa Việt Nam được quy định bởi môi trường sống
với các đặc điểm sau: Khu vực nhiệt đới nhiều sông nước,l à điểm giao của
nhiều nền văn minh., là một trong các trung tâm sớm của loài người. Bản sắc
không ngẫu nhiên mà hình thành, nó là kết quả tất yếu của mối quan hệ giữa
con người và môi trường, trước hết là môi trường tự nhiên- môi trường sơ
khai nhất.Xuất phát từ các đặc điểm địa lý và lịch sử trên, văn hóa Việt Nam
gắn liền với các đặc thù của mình. Xétvề vị trí địa lí, Việt Nam nằm ở góc
tận cùng phía Đông Nam mêm thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp điển
hình. Loại hình văn hóa gốc nông nghiệp biểu hiện ở văn hóa Việt Nam có
những đặc điểm điển hình như sau: Trong cách ứng xử với môi trường tự
nhiên, nghề trồng trọt lúa nước buộc người dân phải sống định cư để canh
tác, do đó có ý thức tôn trọng và ước vọng sống hòa bình với thiên nhiên. Do
như cầu sinh tồn phụ thuộc vào tưới tiêu nên về mặt nhận thức hình thành lối
tư duy tổng hợp, được đúng kết trong kho tàng ca dao tục ngữ vô cùng
phong phú đa dạng. Về mặt tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa
soosnng theo nguên tóc trong tình, dẫm tới các biểu hiện trọng đức, trọng
văn,, trọng phụ nữ. Người Việt Nam có lối sống linh hoạt, luôn biến động
sao cho phù hợp với hoàn cảnh sống. Do sống định cư lâu dài, gắn bó với
nhau nên ý thức coi trọng cộng đồng luôn được dề cao. Tuy nhiên mặt trái

Tóm lại, bản sắc Việt Nam được xây dựng trên sự truyền thống và sáng
tạo. Theo dòng chảy lịch sử, với một bản lĩnh văn hóa vững vàng và tài hoa
sáng tạo linh hoạt, bản sắc văn hóa dân tộc ngày càng thêm sâu sắc, giàu có,
không hề có những dấu hiệu lai căng. Bản sắc văn hóa theo một cách thật tự
nhiên, đã đi sâu vào nhận thức của con người, tạo nên bước đệm văn hóa,
làm định hướng cho tư tưởng, tiếp nhận của con người. Những biểu hiện của
bản sắc văn hóa Việt Nam có thể kể đến là:
a) Ngôn ngữ
Ngôn ngữ vừa là sản phẩn vừa là nhân tố câu thành nên văn hóa. Khi tiếp
xúc với một nền văn hóa, cái đầu tiên bạn bắt gặp trước hết đó hẳn là lời ăn
tiếng nói, chữ viết. Mỗi dân tộc có một dấu ấn ngôn ngữ khác nhau. Khi
người Trung Quốc xâm lược nước ta, bắt nước ta học tiếng Hán để nhằm
đồng hóa đồng bào ta cũng là lúc ra đời chữ Nôm- loại chữ riêng của người
Việt Nam thể hiện lập trường và ý chí cũng như trí tuệ của ông cha ta. Ngay
từ xa xưa, vai trò tiên quyết của ngôn ngữ đã được khẳng định. Đến khi chữ
La tinh du nhập, trên cơ sở bộ chữ La tinh , người Việt cũng sáng tạo nên
ngôn ngữ riêng của dân tộc. Đó là tiếng Việt mà ngày nay được sử dụng
làm ngôn ngữ toàn dân. Trên địa bàn Việt Nam có 54 dân tộc an hem cùng
sinh sống, mỗi dẫn tộc lại có một tiếng nói riêng, mang đậm bản sắc văn
hóa riêng. Tuy nhiên người Việt trên cơ sở dân số đã chọn tiếng Việt- tiếng
nói và chữ Viết của người Kinh (người Việt) là tiếng nói chung. Thông qua
ngôn ngữ (lời nói, chữ viết), nhiều nét bản sắc văn hóa với các giá trị đặc
trưng của văn hóa tộc người được bộc lộ, được bảo tồn và phát huy trong
các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên - xã hội và giữa con người với
nhau.
b). Tập quán - Tín ngưỡng - Nghi lễ
- Mỗi dân tộc, mỗi tộc người thường có các hệ thống tập quán, tín ngưỡng,
nghi lễ của riêng mình. Mức độ và trình độ nhận thức để cấu thành nên
thành tố văn hóa này gắn bó chặt chẽ với truyền thống văn hóa của chính
dân tộc đó. Thường nhận thấy một số loại sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng -

- Trò chơi dân gian trong đời sống, trong các hoạt động lễ tiết, lễ hội của
các dân tộc cũng thể hiện những bản sắc văn hóa riêng theo quan niệm và
sáng tạo của người dân, đáp ứng nhu cầu giải trí, giáo dục thể chất và
truyền dạy các tri thức về tự nhiên, xã hội hay gửi gắm những khuyên răn
về nhân cách, đạo đức của thế hệ trước với thế hệ sau.
- Trong số các trò chơi dân gian, bao giờ cũng có những trò chơi nhất định
được coi như “sáng tạo riêng” của một cộng đồng nhất định, được sản sinh
ra sao cho phù hợp với điều kiện sống và nhu cầu của chính cộng đồng đó.
g). Nhà cửa - kiến trúc
- Ngôi nhà chính là nơi/ tấm gương phản ánh truyền thống văn hóa của một
tộc người, một dân tộc. Sự hiện diện của cách kiến trúc và hình thức kiến
trúc từ một ngôi nhà cụ thể không chỉ nơi nghỉ ngơi, sinh hoạt, tránh mưa
nắng, mà còn thể hiện những tín ngưỡng, tập tục, những nhận thức về cách
ứng xử với môi trường tự nhiên và quan niệm về tín ngưỡng, tôn giáo. Đối
với các tộc người, dân tộc miền núi, bản sắc văn hóa từ sự hiện diện của
loại hình văn hóa vật thể này còn thể hiện rõ cả ở những khu nhà mồ, nhà
kho, nhà bếp…
h) Sinh hoạt văn hóa nghệ thuật trình diễn
- Mỗi dân tộc đều sáng tạo cho mình những thể loại dân ca với các làn điệu
độc đáo, tạo nên bản sắc riêng, phản ánh tâm tư, tình cảm và đời sống sinh
hoạt văn hóa cộng đồng. Các hình thức nghệ thuật cổ truyền, thể hiện các
thủ pháp nghệ thuật đa dạng, phong phú, in đậm lối tư duy, khiếu thẩm mỹ
của từng dân tộc. Các hệ thống nhạc cụ được người dân sáng tạo từ nguyên
vật liệu của vùng đất mình cư trú, góp phần tạo ra diện mạo của nghệ thuật
âm thanh và nghệ thuật trình diễn mang bản sắc độc đáo, đại diện cho bản
làng, vùng, miền, tạo ra những truyền thống âm nhạc dân tộc quý báu.
Những đề mục nêu trên tôi cho rằng đó là bản sắc văn hóa, nhưng là
cái vỏ vật chất, cái vỏ biểu hiện của bản sắc văn hóa. Bản sắc văn hóa còn
nằm sâu hơn thế. Nó nằm ở cách người Việt Nam hình thành và sáng tạo nên
lớp “vỏ bản sắc” kia. Hay nói cách khác, bản chất của bản sắc văn hóa nằm

hóa” xếp hàng, “vãn hóa” WC, “vãn hóa” giao thông, “văn hóa” chửi bậy,
văn hóa “hôi của”…để mà nói “thế là người Việt Nam”. Chẳng biết có một
quốc gia nào không khi mà một xe ô tô gặp tai nạn người dân hàng trăm
người không ai cứu giúp, hè nhau vào hôi bia, mỗi người một ít, mệnh ai lấy
vơ để người lái xe đứng van xin bất lực? Thậm chí những chuyện không hay
mắt như vậy xảy ra thường xuyên tới nỗi chúng ta thấy bình thường, bình
thường trước những cái bất thường thì thật đáng báo động. Đó là kết quả của
kiểu sống tùy tiện của người Việt được hình thành từ lâu, lại thêm yếu tố
cộng đồng tác động khiến các yếu tố tiêu cực càng diễn ra công khai hơn.
Thứ hai là yếu tố ngoại lai- những yếu tố bên ngoài tác động vào văn hóa
việt. Trong một bài phỏng vấn, giáo sư Phan Ngọc có đưa ra những dẫn
chứng rất sinh động: “Chúng ta có thể giỏi nhiều ngoại ngữ, điều đó rất quan
trọng. Tuy nhiên tiếng Việt đủ phong phú và đã đủ sức giảng dạy tại bậc Đại
học và sau Đại học. Không có lý gì một số bọn trẻ thích nói lẫn lộn tiếng
Việt và tiếng Anh trong đời sống cộng đồng. Ngôn ngữ tuổi teen có cái thú
vị riêng khi nhắn tin, nhưng tuyệt đối không thể lạm dụng trên ngôn ngữ
viết. Chẳng hạn Nhân dịp Năm mới mà viết là x dịp 5 mới thì thật không thể
chấp nhận được. Còn trong đời sống nhiều bạn trẻ đã làm hỏng ngôn ngữ ,
kiểu như Yết Kiêu vừa thôi (!), Tiền ăn bữa này Căm Pu Chia nhé(!)
Trong kiến trúc không nên đánh mất những Làng tôi xanh bóng tre để thay
vào đó những kiểu nhà có chóp , có mái lửng (chỉ nhô lên ở mặt tiền), chỉ
quét vôi phía trước và bất chấp mọi quy hoạch (cả ở đô thị và Thủ đô cũng
vậy). Việc thế hệ trẻ quay lưng lại với dân ca và nhạc cách mạng để chạy
theo lối âm nhạc "thời thượng" với lời ca vô nghĩa làm thế hệ lớn tuổi không
sao hiểu nổi”. Bên cạnh đó còn vô vàn các biểu hiện sính ngoại khác (fan
cuồng thần tượng, cuồng trai đẹp, cuồng văn hóa bạn…). Đó là vấn đề phần
nhiều ở giới trẻ. Nguyên nhân là do những thứ đó quá hấp dẫn hay ta không
có nền tảng văn hóa truyền thống để giữ vững cái “tôi” riêng, lòng tự trọng,
tự tôn riêng? Nếu như các biểu hiện thiếu tích cực của người việt có thể sửa
thì đến yếu tố thứ 3, khi yếu tố truyền thống mất đi, lấy gì để bù đắp lại?

Chúng ta thờ ơ với chính văn hóa của mình quá. Chúng ta chạy theo
những thứ quá xa để rồi đánh mất những thứ thật gần. Với những người có
tuổi,bản sắc ở dạng bảo tồn. Còn ở những người trẻ, văn hóa vẫn nằm ở
khám phá, cái quan trọng là cách ta lựa chọn nó, giống như lựa chọn nó cho
đúng với thuần phong mĩ tục. Cũng không thể trách hoàn toàn giới trẻ khi
những giá trị tryền thống mất dần đi. Những thời đại khác nhau, những thị
hiếu khác nhau. Không thể bắt một 18 tuổi phải thích ca trù, hát văn giai
điệu kém hấp dẫn, ca từ cổ xưa xa cách quá trong khi có bao nhiêu dòng
nhạc hiện đại đến bên tai chỉ sau một lần ấn chuột. Hơn nữa việc giáo dục
tuyên truyền về văn hóa truyền thống chưa thực sự phát huy đúng mức. Văn
hóa là gần nhưng khi không được tiếp cận đúng hướng thì trở nên mơ hồ,
khó hiểu. Ví dụ như khi tìm hiểu về chầu văn, ta có thể tìm tài liệu về nguồn
gốc, thậm chí thị phạm buổi chầu nhưng những nghi lễ, ca từ trong đó thực
sự là khó hiểu. Nghĩa là việc đưa giới trẻ tới văn hóa bây giờ chỉ giống như
cưỡi ngựa xem hoa, chỉ thấy được cái bên ngoài chứ không hiểu bản chất
những thứ mình được bảo tồn, như thể xem cho có. Bản sắc văn hóa không
có sức hấp dẫn nữa cũng bởi một phần nó được bảo tồn không đúng cách.
Nhiều nét văn hóa xuất hiện xù xì, thô lệch, tưởng là bảo tồn văn hóa nhưng
được bảo tồn hết sức phi văn hóa.Thật là cười ra nước mắt khi chứng kiến
những lễ hội truyền thống thiêng liêng là vậy mà bây giờ xô bô bao nhiêu tệ
nạn. Đi xem múa rối chục lần vẫn là tích rồng phun nước phun lửa diễn cho
trẻ con xem, qua bao nhiêu năm không có gì đặc sắc. Hay là nghe hát quan
họ trong đám cưới khách sạn cũng vậy, thật là kệch cỡm quá mức. Nếu như
bảo tồn văn hóa xộc xệch như vậy có khác nào tiếp tay cho những yếu tố
ngoại lai đồng hóa, lai căng người Việt?
Vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa đang được ưu tiên hàng đầu
ở nước ta. Đảng và nhà nước rất chú trọng các giải phảp căn bả để bảo tồn
giá trị văn hóa truyền thống:
- Củng cố và tiếp tục xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, phong phú,
đa dạng

thuyết phục của hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật, góp phần
hướng dẫn sự phát triển của sáng tạo văn học, nghệ thuật, từng bước xây
dựng hệ thống lý luận văn nghệ Việt Nam.
Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về sở
hữu trí tuệ, về bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá vật thể và phi vật
thể của dân tộc. Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển văn hoá, văn nghệ, bảo
tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá với phát triển du lịch và hoạt động
thông tin đối ngoại nhằm truyền bá sâu rộng các giá trị văn hoá trong công
chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ và người nước ngoài. Xây dựng và thực hiện các
chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá, ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc
thiểu số. Xây dựng và thực hiện các chính sách, chế độ đào tạo, bồi dưỡng,
chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, tạo điều kiện để đội ngũ những người
hoạt động văn hoá, văn học, nghệ thuật sáng tạo nhiều tác phẩm có giá trị
cao về tư tưởng và nghệ thuật.
- Phát triển hệ thống thông tin đại chúng
Chú trọng nâng cao tính tư tưởng, phát huy mạnh mẽ chức năng thông
tin, giáo dục, tổ chức và phản biện xã hội của các phương tiện thông tin đại
chúng vì lợi ích của nhân dân và đất nước; khắc phục xu hướng thương mại
hoá, xa rời tôn chỉ, mục đích trong hoạt động báo chí, xuất bản. Tập trung
đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ hoạt động báo chí, xuất bản vững vàng
về chính trị, tư tưởng, nghiệp vụ và có năng lực đáp ứng tốt yêu cầu của thời
kỳ mới. Rà soát, sắp xếp hợp lý mạng lưới báo chí, xuất bản trong cả nước
theo hướng tăng cường hiệu quả hoạt động, đồng thời đổi mới mô hình, cơ
cấu tổ chức, cơ sở vật chất - kỹ thuật theo hướng hiện đại.
Phát triển và mở rộng việc sử dụng internet, đồng thời có biện pháp quản lý,
hạn chế mặt tiêu cực, ngăn chặn có hiệu quả các hoạt động lợi dụng internet
để truyền bá tư tưởng phản động, lối sống không lành mạnh.
- Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về văn hoá
Đổi mới, tăng cường việc giới thiệu, truyền bá văn hoá, văn học, nghệ
thuật, đất nước, con người Việt Nam với thế giới. Mở rộng, nâng cao chất

với việc giữ gìn nguyên trạng lớp sơn son thiếc bạc mà bụi thời gian giàu giá
trị của văn hóa, ta cũng cần có những sáng tạo để văn hóa truyền thống hấp
dẫn hơn, đặc biệt là với giới trẻ. Giống như nghệ thuật tò he, trước đây chỉ
có hình hoa, hình con giống, bây giờ có nhiều hình hoạt hình hơn cho mọi
người lựa chọn. Vẫn màu đất nặn quen thuộc, vẫn đôi bàn tay nghệ nhân
quen thuộc nhưng mỗi con tò he sinh ra sống với thời đại mới của nó. Hay
như các làn điệu truyền thống, khi người ta đã biết thể sống của nó, sao lại
không thể tiếp nhận văn hóa với một cách thức phối khí khác? Tôi thấy ấn
tượng với một “lí ngựa ô” rock, một “bèo dạt mây trôi” ballat nhẹ nhàng,
nghệ thuật múa dân gian đương đại uyển chuyển hơn…. Ta vẫn tiếp cận với
văn hóa dân tộc, nhưng theo một góc độ mới. Để có thể tồn tại, bản sắc dân
tộc không chỉ phải giữ trọn vẹn thể sống của nó mà còn có thể song song
thổi hồn thời đại mới, tạo nên trước hết là tính hấp dẫn cho bản sắc văn hóa.
Bản sắc văn hóa Việt Nam càng đi sâu càng thấy thú vị, nhưng nếu chỉ đứng
ngoài nhìn thì có khi chỉ thấy một nền nông nghiệp lúa nước lạc hậu. Việc
giáo dục văn hóa là rất quan trọng. Giáo dục văn hóa chỉ bắt đầu ở bậc đại
học là chưa đủ, ta cần cho các em tiếp cận ở những cấp học thấp hơn để có
thể tìm hiểu sớm và sâu sắc hơn văn hóa. Giáo dục trên sách vở cũng là chưa
đủ, việc giáo dục văn hóa phải gắn liền với sân khấu diễn xướng và đời sống
hằng ngày để thể hiện trọn vẹn, sinh động hơn những giá trị của bản sắc Việt
Nam.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status