Hội thảo: “Tham vấn các bên liên quan về tác động của hệ thống các công trình thuỷ điện và thuỷ
lợi đến lưu vực sông trong bối cảnh biến đổi khí hậu”
===========================================================================
=================================================================================
Lê Anh Tuấn, 2015. Biến đổi khí hậu và tác động tiềm tàng của các công trình thuỷ điện trên hệ
thống Vu Gia – Thu Bồn đến sản xuất và sinh hoạt ở hạ lưu.
1BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG TIỀM TÀNG
CỦA CÁC CÔNG TRÌNH THUỶ ĐIỆN TRÊN HỆ THỐNG VU GIA – THU BỒN
ĐẾN SẢN XUẤT VÀ SINH HOẠT Ở HẠ LƯU
Lê Anh Tuấn
Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu – Đại học Cần Thơ
E-mail: [email protected]
TÓM LƯỢC
Hệ thống Vu Gia – Thu Bồn, phần lớn nằm trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, là lưu vực sông
lớn nhất miền Trung Việt Nam. Hầu hết hệ thống chảy dài từ mạn Đông của dãy Trường
Sơn, có địa hình khá phức tạp, xen kẽ những đồi núi dốc, dợn sóng là các có tuyến sông
ngắn đổ theo hướng từ Tây sang Đông xuống các vùng đồng bằng tương đối bằng phẳng
và dần tiếp giáp với Biển Đông. Với đặc điểm tự nhiên nằm trong khu vực nhiệt đới gió
mùa, hằng năm hệ thống Vu Gia – Thu Bồn nhận một vũ lượng khá lớn, tập trung nhiều
vào các mùa mưa bão từ tháng 9 đến tháng 12. Hệ thống Vu Gia – Thu Bồn có nhiều tiềm
năng phát triển thuỷ điện. Thực tế, trong khoảng ba thập vừa qua, mật độ xây dựng thuỷ
điện trên hệ thống sông suối trong lưu vực đã diễn ra rất nhanh khiến Quảng Nam trở
thành một trong các tỉnh có mật độ các công trình thuỷ điện cao nhất nước.
Biến đổi khí hậu, ở khu vực hệ thống Vu Gia – Thu Bồn nói chung và tỉnh Quảng Nam nói
=================================================================================
Lê Anh Tuấn, 2015. Biến đổi khí hậu và tác động tiềm tàng của các công trình thuỷ điện trên hệ
thống Vu Gia – Thu Bồn đến sản xuất và sinh hoạt ở hạ lưu.
23.000 mm, trung bình là 2.700 mm. Đặc điểm phân bố mưa theo không gian là lượng
mưa rất cao (trên 3.000 – 4.000 mm) thường tập trung nhiều vùng ở phía Tây, giáp với
dãy Trường Sơn như ở các huyện Trà My, Tiên Phước; lượng mưa thuộc loại cao (trên
2.500 – 3.000 mm) ở các huyện Khâm Đức, Nông Sơn, Quế Sơn ; ở các vùng trung du
thấp, vùng bán sơn địa và đồng bằng ven biển có lượng mưa từ 2.000 – 2.500 mm như ở
các huyện Tây Giang, Đông Giang, Ba Na, Hội Khách, Ái Nghĩa, Giao Thuỷ, thành phố Hội
An, thành phố Đà Nẵng Lượng mưa lớn tạo điều kiện cho sự dồi dào dòng chảy sông
suối trong lưu vực. Lưu lượng bình quân trên của toàn lưu vực xấp xỉ 634 m
3
/s. Tuy
nhiên, do lưu vực của toàn hệ thống sông tương đối hẹp nên trị module dòng chảy khá
khác biệt trên các tiểu lưu vực. Số liệu tại trạm đo Nông Sơn ở thượng nguồn sông Thu
Bồn có module dòng chảy là 76,7 l/s/km
2
, tại trạm đo Thành Mỹ trên sông Vũ Gia thì trị
số này là 57,3 l/s/km
2
. Hình 1 : Bản đồ vị trí hệ thông sông Vu Gia – Thu Bồn
(Nguồn: Dự án RETA 6470, 2011)
Đặc điểm thuỷ văn của lưu vực là có sự khác biệt lớn về dòng chảy sông ngòi mùa lũ và
Lê Anh Tuấn, 2015. Biến đổi khí hậu và tác động tiềm tàng của các công trình thuỷ điện trên hệ
thống Vu Gia – Thu Bồn đến sản xuất và sinh hoạt ở hạ lưu.
3khoảng thời gian 5 năm từ 2003 - 2007, thiên tai đã gây thiệt hại trên địa bàn tỉnh
Quảng Nam ước tính trung bình gần bằng 6,26% tổng GDP. Những năm mưa lũ lớn, thiệt
hại có thể lên đến 18 - 20% GDP, trong đó thiên tai bão lũ, hạn hán gây thiệt hại nặng nề
nhất cả về người và tài sản của tỉnh Quảng Nam (Nguyễn Bá Quỳ, 2010). Trong khi đó,
khoảng 30% lượng mưa còn lại phân bố cho 9 tháng còn lại trong năm. Do vậy, có những
giai đoạn khô hạn và xâm nhập mặn đã xảy ra nghiêm trọng cho vùng hạ lưu như những
năm 1966, 1969, 1982, 2006, 2013, 2015.
Vùng Miền Trung – Tây Nguyên có nhiều tiềm năng phát triển thuỷ điện nhỏ và vừa nhờ
có sự chênh lệnh cao độ đáng kể và lưu lượng dòng chảy mùa lũ khá lớn. Nếu dựa vào
chênh lệch địa hình và lượng dòng chảy ở lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn có thể xây
dựng 62 dự án thủy điện, tổng công suất gần 2.000 MW. Quy hoạch thủy điện tỉnh
Quảng Nam hiện nay gồm 42 dự án đã được phê duyệt (10 dự án thuộc quy hoạch bậc
thang thủy điện hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn và 32 dự án thủy điện vừa và nhỏ), với
tổng công suất 1.583,36 MW; điện lượng bình quân 6.254 tỷ kWh/năm. Tính đến thời
điểm hiện tại, 13 dự án đã phát điện, 08 dự án đang xây dựng, 10 dự án đã được tham
gia thiết kế cơ sở, 09 dự án đang nghiên cứu lập dự án đầu tư (UBND tỉnh Quảng Nam,
2014). Các công trình thuỷ điện lớn đã đưa vào vận hành ở trên hệ thống Vu Gia – Thu
Bồn được trình bày ở hình 2. Các dự án thuỷ điện hiện có trên hệ thống Vu Gia – Thu
Bồn được liệt kê ở Bảng 1. Hình 2: Bản đồ vị trí các dự án thuỷ điện đang vận hành ở hệ thống Vu Gia – Thu Bồn
Hệ thống sống Vu Gia – Thu Bồn nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa miền Trung, giáp với
718 MW
6 Sông Bung 5 57 MW Loại lớn, đang xây dựng
7 Sông Bung 4 156 MW Loại lớn, đang xây dựng
8 Sông Bung 2 100 MW Loại lớn, đang xây dựng
9 Đăk Mi 2 98 MW Loại lớn, đang xây dựng
10 Đăk Mi 3 54 MW Loại lớn, đang xây dựng
Tổng
465 MW
11 Sông Cung 1.3 MW Loại nhỏ và vừa, đã phát điện
12 Đại Đồng 0.6 MW Loại nhỏ và vừa, đã phát điện
13 Khe Diên 9.0 MW Loại nhỏ và vừa, đã phát điện
14 Za Hung 30 MW Loại nhỏ và vừa, đã phát điện
15 Trà Linh 7.2 MW Loại nhỏ và vừa, đã phát điện
16 An Điềm 2 15.6 MW Loại nhỏ và vừa, đã phát điện
17 Ta Vi 3.0 MW Loại nhỏ và vừa, đã phát điện
18 Đak Mi 4C 18 MW Loại nhỏ và vừa, đã phát điện
Tổng
84.7 MW
19 Sông Bung 4A 49 MW Loại nhỏ và vừa, đang xây dựng
20 Tr’Hy 30 MW Loại nhỏ và vừa, đang xây dựng
21 Sông Tranh 3 62 MW Loại nhỏ và vừa, đang xây dựng
22 Sông Tranh 4 48 MW Loại nhỏ và vừa, đang xây dựng
Tổng
189.0 MW
(Nguồn : Lê Anh Tuấn và các cộng sự, 2014)
hậu có thể được biểu thị là hàm của mức độ biểu lộ (E: Exposure), độ nhạy cảm (S:
Sensitivity) và khả năng thích ứng (AC: Adaptation Capacity) như sau:
V = f(E, S, AC) (Metzger et al., 2004)
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Phỏng đoán sự thay đổi khí hậu
Kết quả phân tích kịch bản khí hậu trong tương lại cho khu vực Quảng Nam cho thấy vào
giai đoạn 2020 – 2040 sẽ có sự gia tăng lượng mưa ở khu vực phía bắc của tỉnh, giảm
mưa ở vùng giữa và vùng ven biển (Hình 3). Điều này có thể gây rủi ro lũ lụt cao hơn
vùng có cụm thuỷ điện A Vương, Sông Côn, Sông Bôn. Ngược lại các vùng có công trình
thuỷ điện Đăk My và Sông Tranh 2 sẽ có khả năng giảm lượng nước đến và có thể làm
gia tăng khô hạn vùng ven biển trải dài từ thành phố Đà Nẵng, thành phố Hội An và
thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Hình 3: Sự thay đổi lượng mưa năm ở tỉnh Quảng Nam theo kịch bản phát thải khí A2
trong tương lai (2020s – 2040s) so với hiện tại (1990s -2010s)
(Nguồn: Suppakorn, Tuan and Loi, 2010)
Hội thảo: “Tham vấn các bên liên quan về tác động của hệ thống các công trình thuỷ điện và thuỷ
lợi đến lưu vực sông trong bối cảnh biến đổi khí hậu”
===========================================================================
=================================================================================
Lê Anh Tuấn, 2015. Biến đổi khí hậu và tác động tiềm tàng của các công trình thuỷ điện trên hệ
thống Vu Gia – Thu Bồn đến sản xuất và sinh hoạt ở hạ lưu.
6
khi xảy ra
Cao/Thường
xảy ra
(Đại lượng)
Thấp
Cao
Nhiệt độ không khí
Lượng mưa năm
Vùng núi
Vùng ven biển
Lũ lụt và xói lở
Bão và l
ốc xoáy
Xâm nhập mặn
Nước biển dâng
XU THẾ KHÍ HẬU
Hiện tại
núi
Cao Xâydự ngq uytrı̀nhvậnhànhliênhoቹdướ iboቷi
cảnhbieቷn đoቻikhı́hậu.
Xâydự ngphươngánhoቹtrữ nướ cdự phòng
Xâydự ngthêmcáctrạmquantraቿcthờ itieቷtvà
phaቹnmeቹmdự báothờ itieቷttoቷthơn.
Tăngcườ nghệthoቷngcảnhbáosớ m,hệthoቷng
cảnhbáotự động.
Đieቹu chı̉nh giá bán điện hợ p lý theo mùa và
thờ igiancăngthaኃngveቹnguoቹnnướ c.
Khuyeቷn khı́ch giải pháp tieቷt kiệm điện và hoች
trợ cácđaቹutưnguoቹnđiệntáitạokhác(gió,mặttrờ i,
sóngbieቻn)đeቻgiảmtảichothuỷđiện.
Sảnxuaቷt
nôngnghiệp,
lâmnghiệp
vàthuỷsản
vùnghạlưu
• Nhiệt độ cao làm giảm năn g
suaቷtvàsảnlượ ngnôn glâmthuỷsản.
• Thay đoቻi lượ ng mưa gây khó
khăn trong việcboቷ trı́ lịchthờ i vụ và
vậnhànhhệthoቷngtướ itiêu.
• Tăng lượ ng bùn cát trên sông
suoቷi:gâyboቹi laቿnghoቹ chứ a,giảmhiệu
quảvậnhànhhệthoቷngthuỷlợ i
Trungbı̀nh Đieቹuchı̉nhlịch ca n htácvàcơcaቷucâytroቹngvật
nuôihợ plýtheocácyeቷutoቷkhı́hậu.
Xâydự ngphươngánhoቹtrữ nướ cdự phòng.
Cảithiệnchaቷtlượ ngcây–con,chọngioቷngcó
địa phương
• Nhiệt độ cao sẽ ảnh hưở ng đeቷn
sứ c khoẻ ngườ i lao độ ng, tăng nhu caቹu
sử dụ ng điện và nướ c.
• Thay đoቻi lượ ng mưa và dòng
chảy gây khó khăn trong sản xuaቷt và
các hoạt động dịch vụ .
• Tăng chi phı́ liên quan đeቷn năng
lượ ng và nướ c
• Hạn chế giao thông thuỷ
Trung bı̀nh Xâydự ngphươngánhoቹtrữ nướ cdự phòng.
Troቹngvàbảovệcâyxanhở quymô cộng đoቹng.
Giatăngchămsócsứ ckhoẻcộngđoቹng.
AƵ pdụ ngcácgiảipháptieቷtkiệmđiện,nướ c.
Cho ngườ i dân vay tieቹn vớ i mứ c lãi thaቷp, ưu
đãiđeቻnângcaቷpnhàở ,đieቹukiệnsảnxuaቷtvàsinhkeቷ.
Tăngcườ ng nhận thứ c cộ ng đoቹng trong thı́ch
ứ ngvớ ibieቷnđoቻikhı́hậu.
Đadạnghoásinhkeቷ
Cơsở hạtaቹng
vù nghạlưu
• Nhiệt độ cao, mưa baቷt thườ ng
và thay đoቻi dòng chảy sẽ làm công
trı̀nhhạ taቹng mau xuoቷngcaቷp vàgiảm
tuoቻ ithọ.
• Tăngphíbả odưỡngcầuđường
vàcáchệthốngtruyềndẫnđiện
Thaቷpđeቷn
trungbı̀nh
Quyhoạchvàthieቷtkeቷcôngtrı̀nhhạtaቹngtheo
4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn không chỉ có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế
- xã hội cho khu vực Quảng Nam và Đà Nẵng mà còn đóng góp một phần năng lượng
quốc gia. Tuy nhiên, do quá trình xây dựng nhanh các công trình thuỷ điện lại thiếu các
đánh giá môi trường và xã hội nên thời gian qua đã có nhiều vấn đề và sự cố công trình
thuỷ điện ở địa phương, đặc biệt là quá trình vận hành và phân phối nước, tạo nên
những hệ luỵ gây tranh cãi liên quan đến lũ lụt và khô hạn. Hiện tượng nóng lên toàn cầu
là nguyên nhân của những biến đổi khí hậu mà biểu hiện rõ nhất là sự biến động theo xu
hướng gia tăng nhiệt độ, phân bố mưa bất thường và gia tăng các hiện tượng thiên tai
cực đoan như bão tố, lốc xoáy, lũ quét, sạt lở, … Thuỷ điện là một tài nguyên phức tạp,
phát triển của thủy điện thể hiện nhiều vấn đề và sự đánh đổi trên một thời gian dài.
Biến đổi khí hậu sẽ khiến vấn đề này thêm khó khăn mà phải có những giải pháp đối phó
phức tạp và tốn kém, nhất là khi công trình đã xây dựng và vận hành xong, không thể
thay đổi kết cấu của hệ thống (Hartmann, 2014).
Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương của một hệ thống như tác động của các công trình
thuỷ điện trước biến đổi khí hậu lên sinh kế và đời sống vùng hạ lưu, như trường hợp hệ
thống sông Vu Gia – Thu Bồn, được xuất phát từ định nghĩa của Ủy ban Liên chính phủ
về Biến đổi khí hậu (IPCC) về mức độ dễ bị tổn thương - độ biểu lộ, độ nhạy cảm và khả
năng thích ứng và kết hợp với các chỉ thị khoa học tự nhiên, kinh tế và xã hội. Các đánh
giá tính tổn thương trong báo cáo này chỉ mang tính phát hoạ tổng quát, chưa thể đi vào
chi tiết và định lượng rõ nét do thiếu nhiều thông tin và dữ liệu nền. Ngoài ra, các yếu tố
không chắc chắn khác liên quan đến quá trình phát thải khí nhà kính toàn cầu lên những
thay đổi mang tính cục bộ địa phương.
Đề xuất là trong thời gian tới, các nhà khoa học và quản lý cần nghiên cứu khả năng
thích ứng cụ thể hơn và cân nhắc thêm các thông số liên quan đến hiệu quả kinh tế và
các yếu tố khác như chính sách, năng lực quản lý và điều hành phối hợp. Nghiên cứu
https://openknowledge.worldbank.org/handle/10986/7174 License: CC BY 3.0
Unported.”
Joerg Hartmann (2014). Cẩm nang Tập huấn về Biến đổi Khí hậu và Phát triển Thủy điện. GIZ phát
hành. Bản dịch tiếng Việt của Lê Anh Tuấn.
IPCC, (2012). Managing the Risks of Extreme Events and Disasters to Advance Climate Change
Adaptation. A Special Report of Working Groups I and II of the Intergovernmental Panel
on Climate Change [Field, C.B., V. Barros, T.F. Stocker, D. Qin, D.J. Dokken, K.L. Ebi, M.D.
Mastrandrea, K.J. Mach, G K. Plattner, S.K. Allen, M. Tignor, and P.M. Midgley (eds.)].
Cambridge University Press, Cambridge, UK, and New York, NY, USA, 582 pp.
Jones, R.G., Noguer, M., Hassell, D.C., Hudson, D., Wilson, S.S., Jenkins, G.J. and Mitchell, J.F.B.
(2004) Generating high resolution climate change scenarios using PRECIS, Met Office
Hadley Centre, Exeter, UK, 40pp.
Lê Anh Tuấn, Đào Trọng Tứ, Đặng Ngọc Vinh, Phạm Thị Diệu My và Lâm Thị Thu Sửu (2014).
Vận hành xả lũ hồ chứa thủy điện đến hạ lưu hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn: từ số liệu
mô phỏng đến phản ánh thực tế của người dân. Bài báo từ tập sách Thuỷ điện miền Trung,
Tây Nguyên: quan tâm của người dân và trách nhiệm của các bên liên quan. CSRD ấn hành,
168 trang.
Metzger Marc J., Rik Leemans and Dagmar Schröter (2004). A multidisciplinary multi-scale
framwork for assessing vulnerability to global change. Paper presentation on Millennium
Ecosystem Assessment conference: Bridging Scales and Epistemologies 17-20 March
2004, Alexandria, Egypt. Session 6.2: Multi-Scale Assessments: Advances, Insights, and
Remaining Challenges.
Nguyễn Bá Quỳ, 2010. Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến các thiên tai liên quan đến dòng
chảy (lũ lụt, khô hạn) tỉnh Quảng Nam, Việt Nam. Báo cáo chuyên đề của Dự án P1-08-VIE.
Viện Địa lý, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 98 trang.
Nguyen Kim Loi, Nguyen Van Trai, Hoang Thi Thuy, Nguyen Thi Huyen, Le Anh Tuan, and
Suppakorn Chinvanno (2010). Assessing Climate change Impacts and Adaptation in Central
Vietnam using Watershed and Community Based Approach: Case study in Quang Nam
Province. Paper submitted to the International Conference on "The Role of University in
Smart Response to Climate Change". Vietnam National University Publisher, Hanoi, 11-13