ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và thích nghi ở kiên giang - Pdf 24


VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
BỘ MÔN : Môi Trường Học Cơ Bản
GVHD : GS. TSKH Lê Huy Bá
Sinh viên : Huỳnh Đức Thiện

MSSV : 0771139
TPHCM 7- 2009
LỜI MỞ ĐẦU
1
Bước vào thế kỷ XXI , cùng với nhịp độ phát triển nhanh, mạnh mẽ của kinh
tế , con người chúng ta cũng phải đang đứng trước những thách thức lớn về vấn
đề gia tăng dân số ,bùng nổ dân số ,dân tộc….thì vấn đề về môi trường cũng đóng
vai trò đặc biệt quan trọng , vấn đề này được nhiều quốc gia , lãnh thổ và toàn cầu
vô cùng quan tâm. Hiện nay ,nó ngày càng cấp thiết hơn, đòi hỏi sự hợp tác của
nhiều quốc gia đặc biệt là vấn đề về sự thay đổi của khí hậu, mà nguyên nhân chủ
yếu là lượng khí thải nhà kính đã làm biến đổi lớn khí hậu thế giới. Đối với Việt
Nam thì lượng khí thải thải ra gây nên hiệu ứng nhà kín không đáng kể như các
nước công nghiệp phát triển nhưng lại chịu ảnh hưởng lớn của sự biến đổi này ,
nhiều chính sách môi trường được nhà nước ta đề ra nhằm giảm bớt ảnh hưởng
này làm cho thiệt hại ở mức thấp nhất ,đảm bảo đời sống nhân dân bớt ảnh hưởng.
Do đó công tác nghiên cứu đánh giá là rất cần thiết đối với vấn đề biến đổi khí hậu
. Được sự giúp đỡ của GS.TSKH Lê Huy Bá tôi được tìm hiều đề tài “ Ảnh Hưởng
Của Biến Đổi Khí Hậu Và Thích Nghi Ở Kiên Giang” để tìm hiểu về vấn đề thay
đổi khí hậu ở Kiên Giang vùng đất chịu ảnh hưởng nặng của biến đổi khí
hậu.Trong quá trình tìm hiểu khó tránh những sai sót mong thầy và các bạn bỏ
qua.
Xin chân thành cảm ơn !
2
I. khái quát chung về biến đổi khí hậu ờ Việt Nam
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự biến động trạng thái trung bình của khí quyển toàn

Dự kiến biến đổi trong thế kỷ 21
Nhiệt độ: tăng 3,7 – 4,2°C
Mưa mùa mưa: tăng 3,6 – 4,6%
Mưa mùa khô: tăng 3,8 – 4,6%
Mưa năm: tăng 3,0 – 14,6%
Mực nước biển: dâng 40 – 60 cm
Kịch bản / năm 2050 2100
A1F1 13,7 39,7
A2 12,5 33,1
A1B 13,3 31,5
B2 12,8 28,8
A1T 12,7 27,9
B1 13,4 26,9
4
Bảng :kịch bản nước biển dâng tại Việt Nam
Nhiệt độ trung bình được đánh giá là tăng 2.5oC vào năm 2070, nhiệt độ trung
bình trên đất liền (tập trung chủ yếu vào khu vực cao nguyên) sẽ tăng 2.5oC, trong
khi đó nhiệt độ trung bình tại khu vực ven biển sẽ tăng 1.5oC. Các ảnh hưởng có
thể của việc tăng nhiệt độ nêu trên sẽ tác động đến một vùng rộng lớn của đất
nước, gây ra hạn hán, các sản phẩm nông nghiệp sẽ bị mất mùa nghiêm trọng,
các dịch bệnh sẽ tăng và lan truyền nhanh dọc theo đất nước bên cạnh các ảnh
hưởng nghiêm trọng khác.
Giá trị trung bình nhiệt độ cao và thấp hàng năm dự kiến cũng sẽ tăng. Số ngày
với nhiệt độ cao hơn 25oC cũng sẽ tăng. Sự tăng nhiệt độ này sẽ ảnh hưởng đáng
kể đến các hệ sinh thái của đất nước, mùa màng và sức khỏe của nhân dân.
Các vùng miền bắc và miền nam sẽ chịu tác động của gió mùa tây nam nhưng
lượng mưa mùa sẽ giảm trong tháng 7 và tháng 8 và tăng trong tháng 9, tháng 10
và tháng 11. Ở vùng miền trung, lượng mưa sẽ tăng khoảng 19% trong mùa mưa
vào năm 2070.
Lượng bốc hơi cũng sẽ tăng do nhiệt độ tăng. Do lượng mưa sẽ tập trung vào mùa

còn có hơn 100 hòn đảo lớn nhỏ ngoài vịnh.
6
Hình 2 : Đảo ở Kiên Giang
Kiên Giang có diện tích tự nhiên 6.269 km
2
, dân số gần 1,7 triệu người. Trong đó
dân tộc Kinh: 84,41%; Khmer: 12,23%; Hoa: 2,97%. Dân số của tỉnh phân bố
không đều, thường tập trung ở ven trục lộ giao thông, kênh rạch, sông ngòi và một
số đảo. Theo kế hoạch dân số, phấn đấu hạ tỷ lệ sinh hàng năm từ 0,5-0,6‰ giai
đoạn 2001-2005 và giảm 0,4‰ giai đoạn 2006-2010 thì qui mô dân số toàn tỉnh
đến 2005 là 1.689.745 người và đến năm 2010 hơn 1.834.000 người.
Kiên Giang là tỉnh có nhiều thế mạnh về nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp vật
liệu xây dựng và du lịch.
7
Hinh3: Bản Đồ tỉnh Kiên Giang
- Đơn vị hành chính
Kiên Giang có 14 đơn vị hành chính cấp huyện, thị: Thành phố Rạch Giá, thị Xã
Hà Tiên, huyện Kiên Lương; huyện Hòn Đất, huyện Tân Hiệp, huyện Châu
Thành, huyện Giồng Riềng, huyện Gò Quao, huyện An Biên, huyện An Minh,
huyện Vĩnh Thuận, huyện Phú Quốc, huyện Kiên Hải và huyện U Minh Thượng
- Khí hậu .
Kiên Giang có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 27ºC - 27,5ºC;
quanh năm không quá nóng và quá lạnh. Khí hậu 2 mùa rõ rệt, mùa khô từ tháng
11 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10.
- Tài nguyên đất
Tỉnh Kiên Giang có 626.904 ha diện tích đất tự nhiên. Trong đó, diện tích đất
nông nghiệp là 402.644 ha, chiếm 64,22%; diện tích đất lâm nghiệp có rừng là
122.774, chiếm 19,58%, diện tích đất chuyên dùng là 35.412 ha, chiếm 5,65%;
diện tích đất ở là 10.090 ha, chiếm 1,61% và diện tích đất chưa sử dụng và sông
suối đá là 55.984 ha, chiếm 8,93%. Trong đất nông nghiệp, diện tích đất trồng cây

sét…), nhóm kim loại (sắt, Laterit sắt…), nhóm đá bán quý (huyền thạch anh -
opal…), trong đó chiếm chủ yếu là khoáng sản không kim loại dùng sản xuất vật
9
liệu xây dựng, xi măng. Riêng về đá vôi có hơn 20 ngọn núi với trữ lượng khoảng
hơn 440 triệu tấn, có một số núi đá vôi cần giữ lại di tích lịch sử, thắng cảnh và
yêu cầu quân sự, nên trữ lượng để dùng cho sản xuất vật liệu xây dựng là hơn 245
triệu tấn, với nguyên liệu này đủ để sản xuất 2,8-3 triệu tấn Clinker/năm trong thời
gian trên 50 năm.
- Tiềm năng du lịch
Kiên Giang có nhiều thắng cảnh và di tích lịch sử nổi tiếng như: Hòn Chông, Hòn
Trẹm, Hòn Phụ Tử, núi Mo So, bãi biển Mũi Nai,Thạch Động, Lăng Mạc Cửu,
Đông Hồ, Hòn Đất, rừng U Minh, đảo Phú Quốc… Kiên Giang còn hướng tới
phát triển du lịch sinh thái vùng U Minh lịch sử, có hương của rừng tràm và vườn
chim thiên nhiên, với những món ăn đặc sản rừng U Minh .
II.2 Tác Động Của Biến Đổi Khí Hậu Đến Kiên Giang – Vùng Đất ĐBSCL
ĐBSCL có địa hình bằng phẳng, phần lớn có cao độ trung bình từ 0,7-1,2 m,
ngoại trừ một số đồi núi cao ở phía Bắc đồng bằng thuộc tỉnh An Giang. Dọc theo
biên giới Campuchia có địa hình cao hơn cả, cao trình từ 2,0-4,0 m, sau đó thấp
dần vào đến trung tâm đồng bằng ở cao trình 1,0-1,5 m, và chỉ còn 0,3-0,7 m ở
khu vực giáp triều, ven biển.
Vùng tả sông Tiền, địa hình dạng lòng máng trũng có hướng dốc từ Tây-Bắc
xuống Đông-Nam. Vùng giữa hai sông Tiền-Hậu, phù sa sông cũng bồi đắp hình
thành nên hai dãy bờ sông cao ven sông rồi thấp dần vào nội đồng tạo thành lòng
máng trũng ở giữa. Vùng hữu sông Hậu nhìn chung có hướng dốc Đông-Tây, từ
phía sông Hậu thấp dần về phía biển Tây.
Ven bờ biển thường do hoạt động của hải lưu, gió và phù sa sông, tạo thành các
giồng cát cao ven biển có hình cung lồi ra phía biển, nằm xen kẽ các vùng trũng
thấp ngập triều.
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng đất thấp ven biển của Việt Nam sẽ
là khu vực bị tác hại nặng nề nhất do biến đổi khí hậu (BĐKH) gây ra.

28.2%) tổng diện tích.
Đồng bằng sông Cửu Long trước đây rất ít hứng chịu bão. Thế nhưng trong một
thập kỷ, năm 1997 đã chịu cơn bảo Linda và năm 2006 đã bị đuôi bão Durion quét
qua.Nhiều nghiên cứu gần đây tìm mối tương quan giữa việc bão ở Tây Thái Bình
13
Dương có xu hướng xảy ra thường xuyên hơn sau tháng 10 dương lích và đi về
hướng đường xích đạo, với nhiệt độ nước biển trên bề mặt tăng, kết quả của dòng
hải lưu bị thay đổi bởi biến đổi khí hậu toàn cầu.

Hình 4: Cơn bảo NARGIS quét qua châu thổ IRRAWADDY (Myanmar) tháng
5/2008
14
Hình 5: cơn bão Dorion đã gây ra ở Đồng bằng sông Cửu Long
Cơn bảo NARGIS quét qua châu thổ IRRAWADDY (Myanmar) tháng 5/2008
và hậu quả nặng nề mà cơn bảo đã gây ra là một cảnh báo đối với Đồng bằng sông
Cửu Long. Tàn phá mà đuôi cơn bão Dorion đã gây ra ở Đồng bằng sông Cửu
Long sẽ còn lớn lao hơn và khắc nghiệt hơn nhiều nếu mực nước biển dâng lên so
với hiện nay .
Tác động của BĐKH đối với tài nguyên nước, như chế độ mưa thay đổi có thể
gây lũ lụt nghiêm trọng vào mùa mưa và hạn hán vào mùa khô, gây khó khăn cho
việc cấp nước và tăng mâu thuẫn trong sử dụng nước.Ngành Khí tượng Thuỷ văn
các tỉnh ĐBSCL còn cho biết: trong các đợt triều cường từ cuối năm 2008 đến đầu
năm 2009 đã làm cho vùng ngoài đê bao 8 tỉnh, thành vùng lũ gồm: An Giang,
Kiên Giang, Hậu Giang, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ
bị ngập. Ngoài ra, triều cường làm nước sông dâng cao đã làm khoảng 70.000 ha
vườn cây ăn trái, hàng trăm km đường nông thôn bị ngập sâu từ 10 – 30 cm. Quốc
lộ 53 thuộc địa phận thị trấn huyện Long Hồ cũng bị ngập trên chiều dài 200 mét,
sâu 15 cm. Hàng trăm nhà dân chưa kịp tôn nền cũng bị ngập. Trước đó, đợt triều
cường kết hợp mưa nhiều thời điểm giữa tháng 12/2008 làm 100.000 ha nằm ngoài
các đê bao tại ĐBSCL bị ngập từ 10 – 40 cm, chủ yếu là vườn cây ăn trái. Nước

16
Diện
tích
Diện
tích
So với
hiện
trạng(HT)
Diện
tích
HT Diện
tích
HT Diện
tích
HT
H<0.5 1.049 289 -761 51 -998 202 -848 47 -
1.002
0.5<H<=1 1.063 645 -418 629 -435 604 -459 496 -567
1<H<=1.5 724 998 274 451 -273 1.007 284 421 -302
1.5<H<=2 459 1.156 697 1.738 1.279 1.270 811 1.880 1.421
2<H<=2.5 288 410 121 568 280 414 126 592 304
2.5<H<=3 212 281 69 323 111 281 69 323 111
H>3 66 84 17 102 36 84 18 102 36
Tổng diện
tích
ngập >0,5
2.813 3.574 3.812 3.660 3.815
Bảng :thể hiện kết quả tính toán độ ngập và diện tích ngập lũ ở DBSCL
Theo kỹ sư Nguyễn Văn Hạnh, dự tần suất bão và áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) đổ
vào Kiên Giang trung bình nhiều năm trước đây chỉ có 0,2 cơn/năm. Tuy nhiên xu

Kiên Giang và một số tỉnh trong tiểu vùng chịu ành hưởng mạnh của nước biển
dâng.Đây là vùng duyên hải của các tỉnh giáp với Biển Đông và Vịnh Thái
Lan.Tiểu vùng này chịu tác động về môi trường tự nhiên của mực nước biển dâng
trực tiếp nhất. Hệ sinh thái bãi triều và rừng ngập mặn qua gánh chịu các tác động
sẽ thể hiện vai trò “đệm” giảm sóng, phòng hộ và giữ đất. Tình hình xói lở đường
bờ sẽ mạnh hơn. Tình hình bồi lắng ở các cửa sông sẽ thay đổi. Đường ranh với
tiểu vùng (B) sẽ bị “đẩy lên” về phía nguồn. Quy hoạch thủy lợi, đê bao ven biển
cần được tính toán lại với những tham số mới của phân vùng thủy văn thủy lực
trong tiểu vùng.
Về mặt kinh tế - xã hội, khu vực I tại đây, đã thích ứng từ trước với điều kiện ngập
theo triều và nhiễm mặn hầu như quanh năm, sẽ thay đổi theo hướng “kinh tế nước
mặn” là chính. Vùng sản xuất lúa sẽ bị co lai. Khu vực II, khu vực III và đời sống,
sinh hoạt của người dân sẽ khó khăn hơn do độ ngập tăng và khan hiếm nguồn
nước ngọt. Nguồn nước ngọt tại đây chỉ trông chờ vào nước mưa và nước ngầm.
Đầu tư cho cơ sở hạ tầng để tôn cao và bảo vệ công trình sẽ tốn kém không ít. Vì
những lý do đó, một bộ phận dân cư có thể sẽ dịch chuyển ra ngoài tiểu vùng. Vấn
đề lớn nhất của tiểu vùng là bảo vệ các thành quả của lao động quá khứ.
II.4 Vấn Đề Về Nông Nghiệp
Tác động của BĐKH đối với nông nghiệp và an ninh lương thực, như tác động
đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng, làm tăng nguy cơ lây lan
sâu bệnh hại cây trồng, ảnh hưởng đến sinh sản, sinh trưởng của gia súc, gia cầm,
làm tăng khả năng sinh bệnh, truyền dịch của gia súc, gia cầm, gây nguy cơ thu
hẹp diện tích đất nông nghiệp .
Chuyện đất nóng lên tại Kiên Giang đã được một chuyên gia khí tượng , khí hậu
địa phương đưa ra số liệu để chứng minh. “Qua số liệu quan trắc của trạm khí
tượng hải văn Phú Quốc – Kiên Giang từ năm 1956 đến năm 1977 (22 năm) so
sánh với quãng thời gian 27 nam sau đó (1977 -2003) thì nhiệt độ trung bình tăng
lên 0.4 độ C , kỹ sư Nguyễn Văn Hạnh.
19
Sẽ có từ 15.000-20.000 km2 đất thấp ven biển bị ngập hoàn toàn. Lưu lượng

mất nơi sinh sống thích hợp của một số loài thuỷ sản nước ngọt; Cường độ và
lượng mưa lớn làm cho nồng độ muối giảm đi trong một thời gian dẫn đến sinh vật
nước lợ và ven bờ, đặc biệt là nhuyễn thể hai vỏ (nghêu, ngao, sò, ) bị chết do
không chống chịu nổi với nồng độ muối thay đổi.
Mùa mô
phỏng
Mùa kiệt 2004 Mùa lũ
Trường hợp hiện trang Không có cống
ngăn mặn
hiện trạng Không có cống
ngăn mặn
nước biển
dâng (m)
0.69 0.69 0.69 0.69
1 1 1 1
Bảng : bài toán mô phỏng xâm nhập mặn và ngập lụt ở DBSCL
Tác động của BĐKH đối với giao thông vận tải như làm tăng nguy cơ ngập nước
các tuyến giao thông quan trọng, tăng xói lở mặt và nền đường bộ, tăng nguy cơ
xói lở và cạn kiệt các luồng đường thuỷ .
II.5 Vấn Đề Về Sức Khoẻ Con Người
Sự thay đổi về khí hậu có thể làm ảnh hưởng đến sức khoẻ theo nhiều phương
diện khác nhau ảnh hưởng của biến đổi khí hậu gây ra những vấn đề về sức khoẻ
là các bệnh tật xảy ra do các động vật truyền nhiễm ví dụ như bệnh sốt rét do muỗi
truyềnnhiễm. Nếu do sự thay đổi của nhiệt độ trung bình tại những vùng mà muỗi
thường sinh sống, sẽ dấn đến sự thay đổ về nơi cư trú của những con vật này, và
bệnh sốt rét có thể sẽ xuất hiện ở những vùng mà trước đây chưa từng có, do đó
người dân thường không quen với loại bệnh này.Tác động của BĐKH đối với sức
khoẻ con người như nhiệt độ tăng, tác động tiêu cực đối với sức khoẻ con người,
dẫn đến gia tăng một số nguy cơ đối với tuổi già, người mắc bệnh tim mạch, bệnh
thần kinh; Làm tăng khả năng xảy ra một số bệnh nhiệt đới như sốt rét, sốt xuất

ngừa trở nên khó khăn.
Ví dụ Thích ứng đến biến đổi khí hậu có thể bao gồm nhiều phản hồi, chẳng hạn
như thay đổi
22
a) quản lý thực tế mùa vụ (ví dụ như chọn các cánh đồng, lịch thời vụ, mật độ
canh tác, các
giống cây trồng, vv ),
b) quản lý chăn nuôi thực tế (ví dụ như thức ăn và chăm sóc thú y, thời gian và các
địa điểm di cư, vv),
c) sử dụng đất đai và quản lý đất đai (ví dụ như diện tích mặt cỏ, trồng cây hoặc
bảo vệ, khai thác công trình thủy lợi và nước, bảo tồn đất và nước , thực hành làm
đất, quản lý độ phì đất đai, vv .),
d) các chiến lược sinh kế (ví dụ như kết hợp với các cây trồng hoặc sản xuất chăn
nuôi, kết hợp hoạt động giữa nông nghiệp và phi nông nghiệp, di dân tạm thời
hoặc vĩnh viễn,.
Nghiên cứu về tương tác giữa biến đổi khí hậu-sản xuất nông nghiệp đã phát triển
từ cách tiếp cận "từ trên xuống" đến cách tiếp cận "từ dưới lên". Chế độ “từ trên
xuống” bắt đầu với kịch bản biến đổi khí hậu, và ước tính tác động thông qua phân
tích các kịch bản, trên cơ sở đó có thể xác định được sự thực tế của thích ứng.
Phương pháp tiếp cận “từ dưới lên” mang đến một viễn cảnh về tổn thương, nơi
chiến lược thích ứng được coi là một quá trình liên quan đến việc hoạch định
chính sách kinh tế xã hội và môi trường, nhận thức của các nhà sản xuất, và các
thành phần ra quyết định (Bryant et al. 2000; Wall và Smit 2005 và Belliveau et al.
2006).
Trong phương pháp tiếp cận dựa trên kịch bản, thích ứng được giả định và được
xử không thay đổi như là các điều chỉnh ký thuật cơ bản (ví dụ, để thay đổi các
cây trồng khác nhau, áp dụng hiệu quả .hệ thống thủy lợi, hoặc thay đổi hệ thống
sản xuất) để xác định những tác động. Hầu hết các thích ứng đại điện có thể có
hoặc có tiềm năng áp dụng các biện pháp, chứ không phải là các biện pháp đã thực
sự được áp dụng. Thật vậy, không có bằng chứng rằng các lựa chọn thích ứng là

trước mọi loại hình thiên tai. Ví dụ: thành lập và đào tạo một đội ứng phó cứu hộ
cứu nạn khẩn cấp, hoặc đa dạng hoá nguồn thu nhập/sinh kế.
- Kết hợp các công cụ hiện có với kiến thức và biên pháp mới
24
Ở một quốc gia như Việt Nam, người dân đã quen với những thiên tai thường
xuyên xảy ra, người dân cũng đã thường có kiến thức và kinh nghiệm của địa
phương để tiên đoán và đương đầu với thời tiết khắc nghiệt. Tuy nhiên, do sự biến
đổi của khí hậu sẽ có thể sẽ gây ra những hiện tượng thời tiết khắc nghiệt, nên kiến
thức hiện có của người dân địa phương có thể sẽ không còn phù hợp nữa. Những
thích ứng của địa phương cần phải được bổ xung bằng những biện pháp mới, như
thiết lập hệ thống cảnh báo sớm dựa trên những dự đoán của các trạm/Viện Khí
tượng Thuỷ văn .
- Các biện pháp thích ứng có thể rất đơn giản
Mặc dù biến đối khí hậu là ‘mới’, những các biện pháp thích ứng với biến đổi khí
hậu vẫn đang hiện có, là những biện pháp khá đơn giản:Tại một ngôi làng ở Băng
la đet, nuôi gà mang lại nguồn thu nhập quan trọng. Tuy nhiên, trong hơn mấy
thập kỷ qua, ngôi làng đã phải hứng chịu nhiều trận lụt và cứ mỗi lần như thế
nhiều con gà đã bị chết. Sau đó, một người phụ nũ đã tìm ra giải pháp và làm
gương cho dân làng noi theo để khiến lụt lội không làm ảnh hưởng đến kế sinh
nhai của họ nữa: thay vì nuôi gà, bà bắt đấu nuôi vịt. Biện pháp nảy có thể có ích
cho vùng Kiên Giang nước ta khi mà nơi người dân đã sống quen với khí hậu và
có kinh nghiệm lâu năm. Và đặc trưng của vùng sông nước nên việc xây dựng nhà
cửa cũng có chi phí không đáng kể .Rút kinh nghiệm những mùa nước nổi , hạn bố
trí cây trồng , canh tác hoa màu phù hợp giúp giảm nhẹ thiệt hại do khí hậu mang
lại Ngoài ra xuồng ghe là phương tiện không thể thích trong mùa mưa lũ ở vùng
này ,nên việc trang bị nó là không thể thiếu khi nước lũ đến.
- Bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp
ĐBSCL là vùng đất thấp nên hằng năm vào mùa nắng đều có nước mặn xâm nhập
vào sâu trong nội đồng. Người dân sống ở vùng ven biển đã có kinh nghiệm bố trí
cây trồng, vật nuôi trong những hệ thống canh tác phù hợp với điều kiện đất đai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status