Nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết và khả năng chống rối loạn trao đổi lipid của dịch chiết từ cây Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum Thunb) - Pdf 30

Khóa luận tốt nghiệp 1 Trường ĐHSP Hà Nội 2
Bùi Ngọc Diễm K35C. CN Sinh
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay tốc độ phát triển kinh tế ngày càng mạnh, đời sống vật chất và
tinh thần ngày càng tăng cao, kéo theo đó là sự phát triển nhanh của một số
loại bệnh có tác động xấu đến chất lượng cuộc sống của con người. Trong số
đó có bệnh béo phì (BP) và đái tháo đường (ĐTĐ).
Béo phì là tình trạng tích lũy mỡ quá mức và không bình thường tại một
vùng cơ thể hay toàn thân đến mức ảnh hưởng đến sức khỏe như: bệnh tim
mạch, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, tiểu đường, đột quỵ, giảm khả năng
sinh sản, giảm chức năng hô hấp, tăng viêm xương, khớp, ung thư, bệnh
đường tiêu hóa, ….[2], [13].
ĐTĐ với biểu hiện chung nhất là tăng glucose huyết do tế bào  của đảo
tụy Langerhan bị phá hủy mất khả năng sản xuất insulin (ĐTĐ typ I) hoặc do
rối loạn trao đổi lipid - glucid dẫn đến đối kháng insulin (ĐTĐ typ II).
Bệnh đái tháo đường và béo phì có mối quan hệ rất chặt, trong đó đái
tháo đường là hậu quả của bệnh béo phì và thừa cân quá mức.
Trong lịch sử Y học từ 1500 năm trước công nguyên, con người đã
biết sử dụng cây cỏ để chữa ĐTĐ. Nhiều loại thảo dược đã chứng tỏ có tác
dụng rất tốt trong việc điều trị ĐTĐ như: mướp đắng, sinh địa, hoàng kỳ,
huyền sâm, cỏ ngọt, chè xanh, khoai lang,…
Trên thế giới song song với việc nghiên cứu tổng hợp các hợp chất hóa
học dùng làm thuốc điều trị bệnh đái tháo đường, đã có rất nhiều công trình
nghiên cứu tập trung vào việc khai thác các hoạt chất thiên nhiên từ cây cỏ
của các nước vùng Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản [20].
Nghiên cứu được thực hiện tại nhiều quốc gia khác nhau đều dựa trên các thử
nghiệm mô hình động vật BP và ĐTĐ thực nghiệm.
Khóa luận tốt nghiệp 2 Trường ĐHSP Hà Nội 2
Bùi Ngọc Diễm K35C. CN Sinh

hãm sự phát triển của khối u mạnh [20].
Ở Việt Nam cây Giảo cổ lam bắt đầu được nghiên cứu năm 1997 do tác
giả Phạm Thanh Kỳ và cộng sự đã chiết tách được thành phần hoạt chất mới
trong cây Giảo cổ lam Việt Nam thử nghiệm trên khối u phổi, đại tràng, vú, tử
cung, tiền liệt tuyến cho kết quả điều trị rất tốt [20].
Viện dược liệu Trung ương và Viện Karolinski Thụy Điển, Hội đái tháo
đường Thụy Điển về cây Giảo cổ lam Việt Nam đã tìm thấy một hoạt chất mới
đặt tên là phanosid. Chất này có tác dụng hạ đường huyết mạnh đồng thời kích
thích tụy tăng tiết Insulin và làm tăng sự nhạy cảm của tế bào đích với insulin.
Phanoside với liều 500 µM kích thích tạo ra insulin mạnh gấp 5 lần hoạt chất
glibenclamide - thuốc chữa bệnh tiểu đường thông dụng [20].
Trên cơ sở tài liệu tham khảo, thông tin thu thập và kết quả của những
công trình nghiên cứu trên cho thấy những tiềm năng của cây giảo cổ lam. Do
vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết và khả
năng chống rối loạn trao đổi lipid của dịch chiết từ cây Giảo cổ lam
(Gynostemma pentaphyllum Thunb)”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết và khả năng chống rối loạn trao
đổi lipid của dịch chiết từ cây Giảo cổ lam (Gynostemma pentaphyllum
Thunb).
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tạo mô hình chuột BP và ĐTĐ.
Nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết và chống rối loạn trao đổi lipid trên
mô hình chuột thực nghiệm của các dịch chiết từ cây Giảo cổ lam (Gynostemma
pentaphyllum Thunb) trên mô hình chuột gây ĐTĐ type 2.
Khóa luận tốt nghiệp 4 Trường ĐHSP Hà Nội 2
Bùi Ngọc Diễm K35C. CN Sinh
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU


Bình thường
18.5 - 24.9
18.5 - 22.9
Quá cân
≥ 25 - 29.9
≥ 23
Béo phì độ 1
30 - 34.9
>23 - 24.9
Béo phì độ 2
35 - 39.9
25 - 29.9
Béo phì độ 3
≥ 40
≥ 30
Khóa luận tốt nghiệp 5 Trường ĐHSP Hà Nội 2
Bùi Ngọc Diễm K35C. CN Sinh

1.1.2. Nguyên nhân và giải pháp phòng, điều trị béo phì.
1.1.2.1. Nguyên nhân.
- Nguyên nhân chính chiếm 95% dẫn đến thừa cân béo phì là do khẩu
phần và thói quen dinh dưỡng không hợp lý.
- Do hoạt động thể lực kém dẫn đến năng lượng hấp thụ vào cơ thể
vượt quá mức cần thiết và tích lũy dưới dạng mỡ.
- Do một số bệnh lý nội tiết như: Hội chứng Cushing, cường insulin:
do u tụy tiết insulin, tăng ăn ngon, ăn nhiều và tân sinh mô mỡ, tăng tiêu glucid,
giảm hoạt tuyến giáp dẫn đến suy tuyến giáp trạng, bệnh trứng đa nang ,
- Do di truyền: Thống kê cho thấy 77 % người béo phì là tiền sử gia
đình có người béo phì
- Do thuốc: Gần đây, thuốc được thêm vào danh mục nguyên nhân của

quá béo. Hội chứng Pickwick: ngưng thở khi ngủ, tăng hồng cầu, tăng CO
2
máu.
- Biến chứng về nội tiết: Tăng insulin máu, tăng đề kháng insulin và
ĐTĐ type 2, do tác dụng bêta-endorphine hoặc giảm số lượng và chất lượng
insulin, kích thích tế bào bêta do ăn nhiều glucid. Chức năng nội tiết sinh dục:
giảm khả năng sinh sản.
- Biến chứng về xương khớp: Tại các khớp chịu lực cao dễ bị đau, thoái
khớp, thoát vị đĩa đệm, trượt đốt sống.
Ngoài ra béo phì còn làm gia tăng nguy cơ của nhiều bệnh khác: xấu đi
tình trạng rối loạn tiền mãn kinh ở phụ nữ, suy giảm chức năng hô hấp, rối
loạn hoạt động cơ xương, ung thư, sỏi mật và các vấn đề bệnh lý tâm thần
khác.
1.2. RỐI LOẠN TRAO ĐỔI LIPID MÁU
Huyết thanh người bình thường có 5 - 7g/l lipid toàn phần bao gồm acid
Khóa luận tốt nghiệp 7 Trường ĐHSP Hà Nội 2
Bùi Ngọc Diễm K35C. CN Sinh
béo tự do, triglycerid, cholesterol toàn phần với hai dạng cholesterol tự do và
cholesterol este, các photpholipid. Vì không tan trong nước nên lipid được vận
chuyển trong máu dưới dạng kết hợp với các protein đặc hiệu. Các acid béo tự
do được vận chuyển chủ yếu bởi albumin, các lipid khác được lưu hành trong
máu dưới dạng phức hợp lipoprotein như: các hạt chymomicron, VLDL, HDL,
IDL, LDL. Các lipoprotein này có kích thước, thành phần, tỉ trọng và chức
năng khác nhau trong quá trình chuyển hóa lipid [5].
Để đánh giá lượng mỡ trong máu người ta làm xét nghiệm với các chỉ số:
- Cholesterol toàn phần
- Triglycerid
- HDL-c
- LDL-c
(2,9 – 5,2 mmol/l)

ĐTĐ trong giai đoạn mới phát thường làm bệnh nhân đi tiểu nhiều, tiểu
ban đêm và do đó làm khát nước. Bệnh tiểu đường là một trong những nguyên
nhân chính của nhiều bệnh hiểm nghèo, điển hình là bệnh tim mạch vành, tai
biến mạch máu não, mù mắt, suy thận, liệt dương, hoại thư, cắt cụt chi [1].
Theo ADA năm 1997 và được Tổ chức Y tế Thế giới công nhận năm
1998, tuyên bố áp dụng vào năm 1999, ĐTĐ được chẩn đoán xác định khi có
bất kỳ một trong ba tiêu chuẩn trong bảng 1.2 .
Bảng 1.2. Các tiêu chí để chuẩn đoán ĐTĐ theo WHO.
Kết luận
Đường
huyết lúc
đói (mmol/l)
Đường huyết 2 giờ
sau khi làm nghiệm
pháp tăng đường
huyết (mmol/l)
Đường huyết tại
thời điểm bất kì
(mmol/l)
Đái tháo đường
> 7
> 11.1
>11.1
kèm triệu chứng
uống nhiều, đái
nhiều và gầy sút.
Rối loạn dung
nạp đường huyết
5.6 - 7
7.8 - 11.1

- Giai đoạn 3: Phát triển một loạt các kháng thể
- Giai đoạn 4: Tổn thương chức năng tế bào β đảo tụy
Khóa luận tốt nghiệp 10 Trường ĐHSP Hà Nội 2
Bùi Ngọc Diễm K35C. CN Sinh
- Giai đoạn 5: Đái tháo đường lâm sàng, phá hủy hoàn toàn hoặc gần như
hoàn toàn tế bào β đảo tụy. Biểu hiện lâm sàng là ĐTĐ phụ thuộc insulin có kèm
biến chứng [7].
1.3.2.2. ĐTĐ type 2.
*Khái niệm.
ĐTĐ type 2 là tình trạng tăng đường huyết do hậu quả của kháng insulin
ở cơ quan đích kèm theo suy giảm chức năng tế bào β hoặc do suy giảm chức
năng tế bào β kèm theo kháng insulin của cơ quan đích. Đây là dạng ĐTĐ
thường gặp nhất, thường gặp ở bệnh nhân lớn tuổi. Chiếm tỷ lệ khoảng 90%
ĐTĐ trên thế giới . Nguy cơ mắc bệnh tăng dần theo tuổi. Tuy nhiên, do có sự
thay đổi nhanh chóng về lối sống, về thói quen ăn uống, ĐTĐ týp 2 ở lứa tuổi
trẻ đang có xu hướng phát triển nhanh.
Đặc trưng của ĐTĐ type 2 là kháng insulin đi kèm với thiếu hụt tiết
insulin tương đối. ĐTĐ type 2 thường được chẩn đoán rất muộn vì giai đoạn
đầu tăng glucose máu tiến triển âm thầm không có triệu chứng.
Khi có biểu hiện lâm sàng thường kèm theo các rối loạn khác về
chuyển hoá lipid, các biểu hiện bệnh lý về tim mạch, thần kinh, thận…, nhiều
khi các biến chứng này đã ở mức độ rất nặng [1].
* Cơ chế bệnh sinh.
Sinh bệnh học ĐTĐ type 2 diễn biến qua 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Nồng độ glucose trong máu vẫn ở mức bình thường, nhưng
có hiện tượng kháng insulin vì mức insulin tăng cao hơn mức bình thường trong
máu.
- Giai đoạn 2: Tình trạng kháng insulin có xu hướng nặng dần và xuất
hiện tăng glucose huyết sau bữa ăn.
- Giai đoạn 3: Sự kháng insulin không thay đổi, nhưng bài tiết insulin suy

1.3.3. Biến chứng và tác hại của bệnh ĐTĐ.
ĐTĐ nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh sẽ tiến
triển nhanh chóng và xuất hiện các biến chứng cấp và mạn tính. Bệnh nhân có
thể tử vong do các biến chứng sau:
* Biến chứng cấp tính.
Biến chứng cấp tính thường là hậu quả của chẩn đoán muộn, nhiễm
khuẩn cấp tính hoặc điều trị không thích hợp. Ngay cả khi điều trị đúng, hôn
mê nhiễm toan ceton là hiện tượng nhiễm axit chuyển hóa (tỷ lệ tử vong cao 8
- 18%). và hôn mê tăng áp lực thẩm thấu là tình trạng rối loạn chuyển hóa
glucose nặng, đường huyết tăng cao (chiếm 5 - 10%) [2].
* Biến chứng mãn tính.
Biến chứng mắt như: bệnh lý võng mạc (27,8%), đục thủy tinh thể
(6,1%), tăng sinh gây mù lòa (1,1%) Bệnh về võng mạc tăng dần theo thời
gian phát hiện bệnh.
Biến chứng thận như: microalbumin niệu (11,6%), macroalbumin (3%),
suy thận từ độ 1 đến độ 4 (3,5%) …
Biến chứng thần kinh ngoại vi: giảm hoặc mất phản xạ gân xương hoặc
cảm giác rung …
Tổn thương bàn chân: tùy từng mức độ như phỏng rộp, biến dạng, loét,
hoại thư, cắt cụt, …
Biến chứng mạch máu lớn: mạch vành có tới (38%), đột quỵ (1,2%),
tăng huyết áp (27,6%) [2].

Khóa luận tốt nghiệp 13 Trường ĐHSP Hà Nội 2
Bùi Ngọc Diễm K35C. CN Sinh
1.3.4. Các thuốc điều trị bệnh ĐTĐ.
Trừ những nguyên nhân di truyền thì ăn uống sinh hoạt hợp lý điều độ
và khám sức khỏe định kỳ là phương thức chung để phòng bệnh nói chung và
bệnh ĐTĐ nói riêng.
Dựa vào tác dụng và cơ chế tác dụng, các thuốc điều trị bệnh ĐTĐ được

thể [2], [3].
1.4. QUAN HỆ GIỮA BÉO PHÌ VÀ ĐTĐ
Béo phì và ĐTĐ là hai bệnh không truyền nhiễm nhưng nguy hiểm
nhất của thế kỉ 21. Hai căn bệnh này có mối liên quan chặt chẽ với nhau thể
hiện ở chỗ tỉ lệ người béo phì luôn tăng tương đương với số bệnh nhân bị
ĐTĐ. Một cuộc khảo sát của Mỹ gần đây đã chỉ ra rằng có tới 58% số người
bị ĐTĐ type 2 được quy cho là do béo phì. Béo phì liên quan tới ĐTĐ type 2
thông qua sự đề kháng insulin. Nồng độ acid béo tự do cứ tăng 100µM thì
mức đề kháng insulin tăng khoảng 5 - 10% [2]. Thiếu insulin dẫn đến sự tăng
trọng lượng cơ thể, tăng đường máu, cuối cùng dẫn đến bệnh ĐTĐ type 2.
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa béo phì và bệnh ĐTĐ
type 2 bao gồm: chỉ số khối cơ thể, thời gian béo phì, chế độ dinh dưỡng, sự
vận động thân thể. Một thống kê đã chỉ ra rằng những người có chỉ số khối cơ
thể lớn hơn 30 kg/m
2
trong 10 năm có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ type 2 cao gấp
hai lần người bị béo phì dưới 5 năm và nếu trọng lượng cơ thể tăng một
kilogam thì rủi ro về bệnh ĐTĐ type 2 tăng 4,5% . Kết quả của nhiều nghiên
cứu cho thấy acid béo tự do có vai trò trong bệnh sinh ĐTĐ type 2. Phần lớn
người béo phì có nồng độ acid béo trong huyết tương tăng cao. Sự tăng này
ức chế quá trình hấp thu glucose ngoại vi dưới tác dụng của insulin, ức chế sử
dụng glucose của toàn cơ thể, ức chế oxy hóa glucose ở cơ .
Khóa luận tốt nghiệp 15 Trường ĐHSP Hà Nội 2
Bùi Ngọc Diễm K35C. CN Sinh
ĐTĐ đặc trưng bởi sự rối loạn chuyển hóa glucid, sự rối loạn này ảnh
hưởng đến môi trường nội môi do đó kéo theo hoặc làm cho quá trình rối loạn
chuyển hóa lipid ở mỗi loại ĐTĐ mang những đặc trưng riêng. Đặc trưng
chung của rối loạn chuyển hóa lipid trong ĐTĐ là sự tăng triglycerid, giảm
HDL-c và LDL-c vẫn nằm trong giới hạn bình thường. Tuy nhiên ở ĐTĐ
type 1 rối loạn tăng triglycerid sẽ mất đi khi kiểm soát được glucose máu

thích hợp từ 20 - 28
0
C. Quanh năm cây phát triển tốt dưới ánh sáng yếu (cây
ưa bóng) [9].
GCL xuất hiện nhiều nhất ở vùng núi Tây Tạng. Ngoài ra, một số vùng
ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Indonesia, Triều Tiên , Thái lan và một số
nước châu Á khác. Ở Việt Nam chủ yếu mọc ở miền núi phía bắc như Sapa,
Hòa Bình, Tam Đảo, Cao Bằng, Hà Giang [20].
1.5.2. Thành phần hóa học.
GCL được coi là một dược liệu đầu vị quý ghi trong sách cổ “Nông
chính toàn thư hạch chú”, quyển hạ, năm 1639, của Trung Quốc.
Thành phần hóa học chính là flavonoid và saponin. Ngoài ra còn chứa
carotenoid, polysacharid, steron, chứa nhiều acid amin tan trong nước, nhiều
vitamin và các nguyên tố vi lượng như: selen, kẽm, sắt, mangan, phốtpho
GCL chứa hơn 100 loại saponin cấu trúc triterpen kiểu dammaran,
trong đó số sapoin của GCL nhiều gấp 3 - 4 lần so với nhân sâm, ngoài ra còn
chứa nhiều Flavonoid, chất có tác dụng sinh học cao và chống lão hoá mạnh.
1.5.3. Một số tác dụng sinh học.
Theo y học Trung Quốc thì GCL có vị đắng, tính mát, cường dương, bổ
âm có rất nhiều công dụng: Dùng làm thức ăn hàng ngày, có thể xào, nấu canh,
Khóa luận tốt nghiệp 17 Trường ĐHSP Hà Nội 2
Bùi Ngọc Diễm K35C. CN Sinh
nộm, hay phơi khô lá và thân sắc nước uống. Một số nơi sử dụng để trị giun sán,
làm mát gan, nóng trong, dùng làm nước tắm trị rôm, nóng phát ban
Y học hiện đại đã có nhiều công trình nghiên cứu về cây GCL kết quả
nghiên cứu đã cho thấy những tác dụng chính là:
- Giảm cân: Sau hai tháng dùng GCL chỉ số BMI giảm từ 25,04 xuống
còn 23,12 với P < 0,01. Như vậy tác dụng giảm cân của GCL là tương đối
mạnh, tuy nhiên GCL chỉ làm giảm lượng mỡ dư thừa tích tụ ở vùng bụng,
đùi và nội tạng do tăng cường chuyển hoá mỡ nhưng lại làm tăng trọng lượng

Hình 2.1. Cây giảo cổ lam.
Khóa luận tốt nghiệp 19 Trường ĐHSP Hà Nội 2
Bùi Ngọc Diễm K35C. CN Sinh

Hình 2.2. Quả xanh và quả chín của Giảo cổ lam.

2.1.2. Động vật thí nghiệm.

Hình 2.3. Tủ sấy thức ăn cho chuột TN
o
và chuột nuôi (béo phì, chuẩn) TN
o
.

Chuột nhắt trắng Mus musculus (chủng Swiss) có trọng lượng 18 - 20g
đảm bảo sinh lý khỏe mạnh, đủ tiêu chuẩn cho nghiên cứu, được Viện vệ sinh
dịch tễ Trung ương cung cấp. Hàng ngày chuột được nuôi trong điều kiện phòng
22 - 25
o
C, ăn uống tự do và chế độ quang chu kì 12 h sáng: 12 h tối.
Khóa luận tốt nghiệp 20 Trường ĐHSP Hà Nội 2
Bùi Ngọc Diễm K35C. CN Sinh

2.1.3. Dụng cụ, hóa chất thí nghiệm.
* Hóa chất:
- STZ (streptozotocin) Sigma, ST. Louse
- Silicagel 60 (0,04 - 0,063 mm) Merck
* Dụng cụ:
- Tủ sấy Memert, Đức.
- Máy cô quay chân không RE 400 Yamato, Japan.

glucose GLUT2. Hoạt động của nó trong tế bào làm tổn thương và alkyl hóa
ADN và cuối cùng dẫn tới hoại tử tế bào. Hoạt tính alkyl hóa của STZ do hoạt
động của nhóm nitrosourea của nó, đặc biệt là ở vị trí O
6
của guanine.
STZ tạo ra nitric oxide (NO) làm tổn thương ADN của tế bào β.
Mặt khác, hoạt động của NO làm ức chế chu trình Krebs, giảm tiêu thụ oxy
trong ty thể từ đó làm giảm mạnh sự sản xuất ATP và tổn hại đến các
nucleotit của tế bào. Đồng thời phân tử này còn ức chế hoạt tính enzyme
aconitase. Mặt khác, sự tăng cường loại bỏ gốc phosphate của ATP sẽ bổ sung
cơ chất cho xanthine oxidase và tăng cường sản xuất acid uric. Sau đó,
xanthine oxidase xúc tác phản ứng tạo thành anion superoxyde (O
2
-
). Cuối
cùng anion superoxyde sinh ra hydrogen peroxide (H
2
O
2
) và gốc hydroxyl
(OH
-
). Các dạng oxy phản ứng này cũng tập trung phá hủy ADN và gây ra
Khóa luận tốt nghiệp 22 Trường ĐHSP Hà Nội 2
Bùi Ngọc Diễm K35C. CN Sinh
những thay đổi bất lợi cho tế bào. NO và các dạng oxy hoạt động còn có thể
tạo thành peroxynitrate (ONOO) có độc tính cao. Tổn thương ADN gây ra bởi
STZ làm tăng cường quá trình trùng hợp ADP (Poly ADP - ribosylation) dẫn
đến làm mất NAD
+

Protein
20
Cholesterol
1
Chất khoáng
4
Vitamin & acid
amin
2

2.2.2. Phương pháp nghiên cứu tác dụng hạ glucose huyết của các phân
đoạn dịch chiết GCL (Gynostemma pentaphyllum Thunb) trên mô hình
chuột ĐTĐ type 2.
Để tìm hiểu tác dụng của dịch chiết Giảo cổ lam lên đường huyết, trước
tiên chúng tôi tiến hành gây mô hình chuột ĐTĐ mô phỏng type 2 dựa trên
chế độ ăn giàu chất béo kết hợp với STZ liều đơn của Srinivasan.
2.2.2.1. Tạo mô hình chuột ĐTĐ type 2.
Để có mô hình chuột ĐTĐ mô phỏng type 2, chuột nuôi với chế độ ăn
giàu chất béo và cholesterol sau 8 tuần, được tiêm màng bụng liều đơn STZ
(110mg/kg pha trong đệm citrate 0,01M, pH = 4,3).

Hình 2.5. Thuốc STZ và cách tiêm màng bụng cho chuột.
Khóa luận tốt nghiệp 24 Trường ĐHSP Hà Nội 2
Bùi Ngọc Diễm K35C. CN Sinh
Đo đường huyết tại các thời điểm 0 giờ (trước khi tiêm STZ), 24 giờ,
48 giờ và 72 giờ (sau khi tiêm STZ) (3 lần, mỗi lần cách nhau 1 tiếng và lấy
trung bình). Chuột nào có đường huyết cao ( ≥18 mmol/l) và ổn định được lựa
chọn để cho uống cao các phân đoạn dịch chiết trong vòng 21 ngày. Đường
huyết trong các trường hợp trên đều được đo sau khi cho chuột nhịn qua đêm
(12 giờ), chỉ cho uống nước.

Điều trị cao phân đoạn ethanol (2000mg/kg).
5
Thức ăn béo
STZ
Điều trị cao phân đoạn n- hexan (2000mg/kg).
6
Thức ăn béo
STZ
Điều trị cao phân đoạn CHCl
3
(2000mg/kg).
7
Thức ăn béo
STZ
Điều trị cao phân đoạn ethylacetate (2000mg/kg).
8
Thức ăn béo
STZ
Điều trị cao phân đoạn nước (2000mg/kg).

2.2.3. Một số kĩ thuật phân tích hóa sinh.
2.2.3.1. Phương pháp định lượng glucose huyết.
Xác định nồng độ glucose huyết trên máy đo đường huyết với que thử
tự động One Touch Ultra.
Khóa luận tốt nghiệp 25 Trường ĐHSP Hà Nội 2
Bùi Ngọc Diễm K35C. CN Sinh
Nguyên tắc: Bộ KIT thử dựa trên phản ứng oxy hoá glucose bằng
glucose oxidase (GOD) và hydrogen peroxide tạo thành tác dụng với 4-
aminoantipyrin và phenol nhờ xúc tác của peroxidase (POD) tạo phức hợp
quinoimin theo các phản ứng.

thử, máu tự động được hút vào vùng đo nơi phản ứng xảy ra. Sau 5 giây kết
quả sẽ hiển thị trên màn hình. Hình 2.6. Định lượng glucose huyết của chuột nhắt.

Trích đoạn TIẾNG VIỆT
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status