Hoạt động huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần quân đội việt nam - Pdf 30

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vốn luôn là một trong những yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình hoạt động
kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Chúng ta cần khẳng định rằng không thể thực
hiện được các mục tiêu kinh tế xã hội nói chung của Nhà nước, cũng như các mục
tiêu kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng nếu như không có vốn. Đối với các
NHTM với tư cách là một doanh nghiệp, một chế tài trung gian hoạt động trong lĩnh
vực tiền tệ thì vốn lại có một vai trò hết sức quan trọng. NHTM là đơn vị chủ yếu
cung cấp vốn thu lãi. Nhưng để cung cấp đủ vốn đáp ứng nhu cầu thị trường,
ngân hàng sẽ phải huy động vốn từ bên ngoài. Vì vậy, các NHTM rất chú trọng
đến vấn đề huy động vốn đáp ứng đầy đủ nhu cầu kinh doanh của mình. Có thể
nói hoạt động huy động các nguồn khác nhau trong xã hội là lẽ sống quan trọng
nhất của các NHTM.
Tại Việt Nam việc huy động vốn (khai thác lượng tiền tạm thời nhàn rỗi
trong công chúng, hộ gia đình, của các TCKT-XH hay các TCTD khác) của
NHTM còn nhiều bất hợp lý. Điều này dẫn tới chi phí vốn cao, quy mô
không ổn định, việc tài trợ cho các danh mục tài sản không còn phù hợp với
quy mô, kết cấu từ đó làm hạn chế khả năng sinh lời, buộc ngân hàng phải
đối mặt với các loại rủi ro.v.v. Do đó, việc tăng cường huy động vốn từ bên
ngoài với chi phí hợp lý và sự ổn định cao là yêu cầu ngày càng trở nên cấp
thiết và quan trọng.
Để tăng cường huy động vốn ta cần nghiên cứu các hình thức huy động,
các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác huy động vốn như quy mô, cơ cấu
nguồn huy động đủ lớn để tài trợ cho các danh mục tài sản và không ngừng
tăng trưởng ổn định; nguồn vốn có chi phí hợp lý; huy động vốn phù hợp với
sử dụng vốn về mặt kỳ hạn; quản lý tốt các loại rủi ro liên quan đến hoạt
động huy động vốn. Cũng như phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới công tác
huy động vốn.
NHTM CP Quân đội là một ngân hàng non trẻ. Mười năm hoạt động không
phải là một khoảng thời gian dài, nhưng với tất cả những gì NHTM CP Quân đội đã
Trang 1

Trang 2
5. Bố cục của chuyên đề
Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về hoạt động huy động vốn từ bên ngoài trong
NHTM
Chương II: Thực trạng hoạt động huy động vốn từ bên ngoài của NHTM CP
Quân đội thời gian qua.
Chương III: Giải pháp tăng cường huy động vốn từ bên ngoài tại NHTMCP
Quân đội.
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG
HUY ĐỘNG VỐN TRONG NHTM
1.1. Tổng quan về NHTM
1.1.1. Khái niệm NHTM
Hiện nay, tuy khái niệm về NHTM ở mỗi nước có đặc điểm khác nhau
nhưng đều thống nhất coi NHTM là doanh nghiệp chuyên kinh doanh tiền tệ và
Trang 3
cung ứng những dịch vụ tài chính cho nền kinh tế, là một trong những tổ chức
tài chính trung gian, các tổ chức tài chính trung gian này gọi chung là các định
chế tài chính có chức năng giống nhau là dẫn vốn từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu
vốn.
Ở Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng theo Điều 20 có ghi “ NHTM là loại
hình TCTD được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh
doanh khác có liên quan” Trong đó “ Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh
doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận gửi, sử
dụng tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của NHTM
Ngay từ xa xưa, với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá đã làm xuất hiện
nhu cầu trao đổi hàng với nhau. Để việc trao đổi này được tiến hành dễ dàng và
thuận lợi, người ta đã dùng tiền làm trung gian trao đổi hàng hoá. Hệ quả là đã làm
tăng tốc độ trao đổi hàng hoá, kích thích sản xuất, đưa xã hội loài người ngày càng

được coi là mạch máu của một quốc gia.
1.1.3. Nguồn vốn của NHTM
NHTM cũng như bất cứ một doanh nghiệp nào để tồn tại và phát triển
phải có vốn. Vốn tác động đến kết cấu tài sản và khả năng sinh lời, hạn chế
các loại rủi ro trong hoạt động NHTM. Vốn của NHTM gồm 2 loại cơ bản
nếu phân chia theo hình thức sở hữu là vốn chủ sở hữu và vốn nợ (vốn huy
động từ bên ngoài).
1.1.3.1. Vốn của chủ sở hữu
a, Khái niệm
Vốn chủ sở hữu là điều kiện đầu tiên để ngân hàng được luật pháp cho phép
hoạt động và đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên
trang thiết bị, nhà cửa. Nguồn hình thành nên vốn chủ sở hữu gồm nguồn hình
thành ban đầu, nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động, nguồn vay nợ có khả
năng chuyển đổi thành cổ phần và các quỹ.
b, Các thành phần vốn của chủ sở hữu và đặc điểm của chúng
- Vốn ban đầu
Vốn ban đầu hình thành khi ngân hàng bắt đầu hoạt động với tính chất sở
Trang 5
hữu và nguồn hình thành khác nhau. Nếu là ngân hàng tư nhân thì đó là vốn
do cá nhân tự bỏ ra; nếu là ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước thì do ngân sách
Nhà nước cấp; nếu là ngân hàng cổ phần thì do cổ đông thông qua mua các cổ
phần (hoặc cổ phiếu); nếu là ngân hàng liên doanh thì do các bên
tham gia
liên doanh góp.
Trường hợp của ngân hàng cổ phần có thể được hình thành từ

cổ phần
thường và cổ phần ưu đãi.
Vốn ban đầu thường phải tuân thủ các qui định của NHNN. Các qui
định thường

Tuy nhiên, phần này thường bị giới hạn và kiểm soát chặt chẽ.
c, Vai trò
Vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một phần nhỏ so với vốn nợ, do đặc trưng trong
kinh doanh ngân hàng là huy động để cho vay. Theo quy định của NHNN Việt
Nam tỷ lệ Vốn chủ sở hữu/tiền gửi tối thiểu là 1/20. Tuy chiếm tỷ trọng nhỏ, song
Vốn chủ sở hữu có vai trò rất quan trọng.
Vốn chủ sở hữu có vai trò bảo vệ người gửi tiền: Kinh doanh ngân hàng
thường xuyên đối đầu với rủi ro. Các khoản tổn thất của ngân hàng sẽ được bù đắp
bằng vốn chủ sở hữu. Như vậy, nếu quy mô vốn chủ sở hữu lớn, người gửi tiền và
người cho vay sẽ cảm thấy an tâm hơn về ngân hàng.
Vốn chủ sở hữu có vai trò tạo lập tư cách pháp nhân và duy trì hoạt động cho
ngân hàng: Như đã phân tích ở trên, để hoạt động điều kiện đầu tiên là ngân hàng
phải có được số vốn tối thiểu ban đầu. Số vốn này được sử dụng để mua sắm trang
thiết bị, nhập công nghệ, xây thêm chi nhánh, mở văn phòng đại diện
Ngoài ra, Vốn chủ sở hữu có vai trò điều chỉnh các hoạt động của ngân
hàng: Rất nhiều quy định về hoạt động của ngân hàng có liên quan chặt chẽ
với Vốn chủ sở hữu như quy mô nguồn tiền gửi được tính theo tỷ lệ với Vốn
chủ sở hữu Vì vậy quy mô và cấu trúc hoạt động của ngân hàng được điều
chỉnh theo vốn chủ sở hữu.
1.1.3.2. Vốn nợ
a, Khái niệm
Trang 7
Khác với các loại hình doanh nghiệp khác, vốn nợ của NHTM chiếm tỷ
trọng lớn hơn nhiều so với vốn của chủ và đây là loại vốn cơ bản để tài trợ cho
các danh mục tài sản của NHTM. Vốn nợ được huy động từ các nguồn tiền
gửi, vay và một số loại khác.
b, Các thành phần vốn nợ và đặc điểm của chúng
- Tiền gửi
Đặc điểm chung của tiền gửi là chúng phải thanh toán khi khách hàng yêu
cầu ngay cả khi đó là tiền gửi có kỳ hạn chưa đến hạn.

mô, cơ cấu vốn nợ.
Thêm vào đó, tính ổn định về chi phí và thời hạn của vốn nợ quy định số tiền
phải dự trữ là cơ sở cân nhắc đầu tư bao nhiêu vào chứng khoán ngắn hạn nên cho
vay với thời hạn nào, lãi suất bao nhiêu để phù hợp với vốn.
Như vậy, vốn nợ có vai trò hết sức quan trọng trong việc quyết định danh
mục tài sản đầu tư, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập của NHTM.
Ngoài ra, qui mô và kết cấu của vốn nợ cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự
an nguy hoạt động của NHTM. Sự không phù hợp giữa việc huy động vốn từ
bên ngoài và việc sử dụng vốn về thời hạn, độ nhạy cảm với lãi suất, qui mô
các loại tiền có thể dẫn tới các rủi ro về thanh toán, lãi suất, tỷ giá mà ngân
hàng phải gánh chịu.
Tóm lại, qua những vấn đề được đề cập ở trên thì rõ ràng vốn có vai trò quan
trọng quyết định sự sống còn của một ngân hàng đặc biệt là vốn nợ. Để có được
vốn nợ thì hoạt động huy động vốn từ bên ngoài lại càng có vai trò hết sức quan
trọng. Sau đây là những vấn đề cơ bản về hoạt động huy động vốn từ bên ngoài
trong NHTM.
1.2. Những vấn đề cơ bản về huy động vốn từ bên ngoài của NHTM
1.2.1. Các hình thức huy động vốn từ bên ngoài
Tuỳ theo các tiêu chí, mục đích huy động khác nhau có các hình thức sau:
Nếu phân theo loại vốn huy động gồm: huy động tiền gửi và tiền vay.
Nếu huy động vốn phân theo loại tiền: huy động vốn nội tệ và ngoại tệ.
Trang 9
Nếu phân theo phạm vi huy động: huy động vốn trong nước và nước ngoài.
Nếu theo kỳ hạn huy động: huy động vốn ngắn, trung và dài hạn.
Nếu phân theo đối tượng huy động vốn: huy động vốn từ các cá nhân, hộ gia
đình và tổ chức kinh tế.
Ngoài ra, các NHTM còn huy động từ các nguồn bên ngoài khác.
Cụ thể:
1.2.1.1. Huy động vốn tiền gửi, vay
a, Huy động vốn tiền gửi

của khách hàng khi họ có nhu cầu rút tiền và chỉ được phép sử dụng tồn khoản chi
khi đã đảm bảo khả năng thanh toán chi trả.
- Tiền gửi có kỳ hạn:
Khi gửi tiền vào NHTM theo tài khoản gửi có kỳ hạn, điều ngân hàng
cần biết trước tiên là gửi với thời gian bao lâu. Thông thường định kỳ có thể
là 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm hoặc hơn nữa. Tại Việt Nam, các khoản
tiền gửi có kỳ hạn thường nằm trong khoảng 6 tháng đến 24 tháng. Nguyên
nhân vì các doanh nghiệp nước ta hầu hết thuộc loại doanh nghiệp vừa và
nhỏ với số vốn không lớn và tốc độ quay vòng vốn khá nhanh. Do vậy, họ
khó có thể gửi với kỳ hạn dài. Hơn nữa nếu gửi tiền có kỳ hạn càng dài mặc
dù được hưởng lãi suất cao hơn nhưng khi có nhu cầu rút tiền đột xuất thì
khoản lãi suất mà ngân hàng trả sẽ rất thấp, do phải chịu lãi suất phạt vì đã
làm ảnh hưởng đến kế hoạch của ngân hàng.
Lãi suất mà ngân hàng trả cho tiền gửi có kỳ hạn thường là cao hơn
nhiều so với tiền gửi không kỳ hạn. Lý do ở đây là, khi đã thống nhất với
ngân hàng rằng sẽ gửi tiền trong khoảng thời gian nào đó, có đến hơn 80%
những thân chủ đã giữ được cam kết nói trên. Do vậy, NHTM hoàn toàn yên
tâm sử dụng tiền gửi để cho vay. Với khoản cho vay ổn định này, ngân hàng
sẽ kiếm được nhiều lợi nhuận hơn. Vì thế tiền thu lao nó trả cũng phải cao
hơn để kích thích sự gửi tiền hơn nữa.
Tóm lại, đây là loại tiền gửi có sự thoả thuận trước giữa khách hàng và
ngân hàng về thời gian rút tiền. Đại bộ phận nguồn tiền gửi này có nguồn gốc
Trang 11
từ tích luỹ và xét về bản chất chúng được ký thác với mục đích hưởng lãi. Các
NHTM nhận 2 loại tiền gửi có kỳ hạn tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi báo rút
(tức khi muốn rút ra phải báo trước).
Tiền gửi có kỳ hạn giữ vị trí trung gian giữa tiền gửi thanh toán và tiền gửi
tiết kiệm. Đây là nguồn tiền tương đối ổn định, ngân hàng có thể sử dụng phần
lớn tồn khoản vào kinh doanh. Chính vì vậy, các NHTM luôn tìm cách đa dạng
hoá loại tiền gửi này bằng cách áp dụng nhiều kỳ hạn khác nhau vói mức lãi suất

Trong huy động vốn dưới hình thức phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái
phiếu ngân hàng, các NHTM phải trả lãi suất cao hơn so với lãi suất tiền gửi
huy động. Vì vậy khi thực hiện huy động vốn dưới các hình thức này, các
ngân hàng phải căn cứ vào đầu ra để quyết định về khối lượng huy động,
mức lãi suất, thời hạn và phương pháp huy động.
Vốn này chỉ được huy động trong thời gian nhất định, khi đã huy động
đủ khối lượng vốn theo dự kiến các ngân hàng sẽ ngừng việc huy động (bán)
kỳ phiếu, trái phiếu.
b, Vay NHNN (vay ngân hàng trung ương)
Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả của NHTM.
Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ (dự trữ thanh toán ), NHTM thường vay ngân
hàng Nhà nước. Hình thức cho vay chủ yếu của NHNN là tái chiết khấu (hoặc tái
cấp vốn). Các thương phiếu đã được các NHTM chiết khấu (hoặc tái chiết khấu)
trở thành tài sản của họ. Khi cần tiền, ngân hàng mang những thương phiếu này
đến tái chiết khấu tại NHNN.
NHNN điều hành vay mượn này một cách chặt chẽ; tuỳ thuộc chính
sách tiền tệ từng thời kỳ mà NHTM phải thực hiện các điều kiện đảm bảo
và kiểm soát nhất định.
Thông thường NHNN chỉ tái chiết khấu cho những thương phiếu có
chất lượng (thời gian đáo hạn ngắn, khả năng trả nợ cao) và phù hợp với
mục tiêu của ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ. Còn trong điều kiện
chưa có thương phiếu, NHNN cho NHTM vay dưới hình thức tái cấp vốn
Trang 13
theo hạn mức tín dụng nhất định.
Một điều cho thấy, đặc biệt là ở những nước có nền kinh tế phát triển, cho dù
NHTW áp dụng mức lãi suất tái chiết khấu hoặc lãi suất phạt cao hay thấp thế nào
đi nữa thì NHTW vẫn phải cho các NHTM vay khi NHTM bị kẹt thanh toán để
tránh những cơn khủng hoảng tài chính không đáng xảy ra và thực hiện tốt chức
năng là “là người cho vay cuối cùng” đối với các NHTM.
Đứng về phía NHTM, vay tại NHTW là một dịch vụ hết sức tiện lợi vào

nội tệ nhưng tăng trưởng không ổn định. Nhược điểm huy động tiền gửi tiết
kiệm có lãi suất huy động bình quân cao, kỳ hạn tiền gửi danh nghĩa của
người dân thường ngắn ngắn (kỳ hạn nhỏ hơn 12 tháng). Điều này đã ảnh
hưởng đến khả năng sử dụng vốn, khả năng dịch chuyển kỳ hạn dư nợ, kết quả
kinh doanh và giảm sức cạnh tranh của NHTM.
Tiền gửi bằng nội tệ của các TCKT-XH : Nguồn tiền này cũng có quy mô, cơ
cấu lớn trong tổng nguồn huy động. Tiền gửi này thường là tiền gửi giao dịch hoặc
có kỳ hạn ngắn, hưởng lãi suất thấp. Nếu ngân hàng huy động được nhiều để cho
vay và đầu tư thì không những kéo dài được chênh lệch lãi suất hai đầu trần và
sàn, giảm được chi phí vốn bình quân, tăng lợi nhuận.
Tiền gửi bằng nội tệ của các TCTD khác : Nguồn này có qui mô, cơ cấu nhỏ
trong tổng nguồn tiền gửi bằng nội tệ. Nguồn tiền gửi của các TCTD khác thường
có mức độ tăng trưởng khá cao nhưng chủ yếu là nguồn trong thanh toán, ngân
hàng cũng không sử dụng nhiều nguồn này để cho vay và đầu tư.
Đi vay bằng nội tệ: Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của NHTM. Tuy
nhiên, khi cần, ngân hàng thường vay mượn thêm. Tại nhiều nước NHTW
thường quy định tỷ lệ giữa nguồn tiền huy động và vốn chủ sở hữu. Do vậy
nhiều NHTM vào những giai đoạn cụ thể phải vay mượn thêm để đáp ứng
nhu cầu chi trả khi khả năng huy động bị hạn chế. Việc đi vay bằng đồng nội
tệ chủ yếu là để đáp ứng sự thiếu hụt dự trữ.
b, Huy động vốn bằng ngoại tệ:
Tiền gửi bằng ngoại tệ cuả các tầng lớp dân cư : Tiền gửi bằng ngoại
tệ của các tầng lớp dân cư chiếm tỷ trọng nhỏ. Việc huy động vốn bằng ngoại
Trang 15
tệ luôn bị tác động mạnh bởi lãi suất ngoại tệ trên thị trường quốc tế và tính
trạng khan hiếm tiền đồng VND.
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) liên tục cắt giảm lãi suất cho vay từ đó
lãi suất huy động bằng USD của các ngân hàng luôn giảm mạnh, hệ quả là
người dân chuyển sang dùng đồng tiền có giá (đổi USD sang VND chuyển
sang gửi tiết kiệm bằng đồng VND để hưởng lãi suất cao hơn).

thể huy động được ở trong nước như vay từ công ty mẹ, vồn uỷ thác của các tổ
chức trong nước
Trên đây là những nguồn vốn trong nước mà NHTM có thể huy động được
từ bên ngoài. Khi huy động vốn trong nước, điều mà các NHTM quan tâm đó là
lãi suất phải đảm bảo nhu cầu của thị trường. Nguyên nhân là vì lãi suất vốn
trong nước không được quyết định đơn thuần chỉ bằng bởi lãi suất nước ngoài,
tỷ lệ thay đổi kỳ vọng trong tỷ giá hối đoái và mọi chi phí rủi ro mà còn bị ảnh
hưởng mạnh mẽ bởi điều kiện thị trường trong nước, bao gồm cung và cầu
trong nước đối với tín dụng, cấu trúc của hệ thống tài chính trong nước và tình
trạng lạm phát mong đợi.
b, Huy động vốn nước ngoài
Xét theo lịch sử, phần lớn các khoản vốn nước ngoài chảy vào các nước
đang phát triển là mang tính chất dài hạn hoặc trung hạn (trái phiếu, viện trợ
hoặc các khoản cho vay bằng đồng tiền ngoại tệ). Hầu hết chúng được sử dụng
vào các dự án và do vậy là nhằm mục đích thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đối
với những nước có khó khăn về nguồn vốn trong nước hoặc về dự trữ ngoại
hối, thì việc tiếp cận được với vốn nước ngoài sẽ có thể giúp giải quyết được
nhiều trở ngại của nền kinh tế.
Hiện nay, đối với các NHTM ở Việt Nam được phép huy động vốn của các
tổ chức nước ngoài qua các hình thức sau:
+ Vay bằng tiền (vay tài chính)
+ Nhập khẩu hàng hoá dịch vụ trả chậm theo phương thức mở thư tín dụng.
+ Thuê tài chính nước ngoài.
+ Phát hành trái phiếu ra nước ngoài.
Trang 17
+ Các loại hình vay nước ngoài khác.
Để huy động vốn từ nước ngoài thì các NHTM phải có các điều kiện theo
quy định của Ngân hàng nhà nước ban hành theo thông tư số 03/1999/TT-NHNN
ngày 12 tháng 08 năm 1999 chỉ được sử dụng vốn vay nước ngoài để bổ sung vốn
tín dụng và phải sử dụng đúng mục đích vốn vay.

này lãi suất thường cao nên các NHTM chỉ khi thực sự cần thiết cấp bách mới huy
động thông qua hình thức này.
- Chứng thư tiền gửi loại lớn: Đây là hình thức đơn giản của chứng thư
giống như tín phiếu do các NHTM Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh đã
phát hành trong năm 1995. Giá trị bề mặt của tín phiếu hoặc chứng thư có thể
thấp hơn theo mức thu nhập của nhân dân. Ví dụ 500.000, 1.000.000,
2.500.000 hoặc 5.000.000 như ở Việt Nam. Đứng về phía những người sở hữu
chứng thư hay tín phiếu, nó là một khoản đầu tư, một khoản cho ngân hàng
vay với lãi suất cố định, và cũng là tiền, là tài sản. Đứng về phía ngân hàng,
mỗi khi phát hành tín phiếu hay CDs, nó đã và đang huy động vốn của thị
trường để hoạt động. Đây là loại vốn ngắn hạn, dùng để giải quyết những nhu
cầu về tiền mặt. Loại tài sản nợ này, đối với ngân hàng là một hình thức của
tiền gửi có kỳ hạn. Cái khác là ở chỗ loại chứng thư này hoàn toàn không đổi
thành tiền mặt được khi chưa đến hạn (tiền gửi có kỳ hạn có thể chuyển nếu
chịu lãi suất phạt). Do vậy, vốn thu được từ phát hành chứng thư CDs hoặc tín
phiếu giúp ngân hàng chủ động trong việc kinh doanh hơn so với vốn từ tiền
gửi có kỳ hạn.
- Các khoản huy động USD ngoài nước: Các NHTM cũng có thể tìm kiếm
nguồn vốn hoạt động từ việc phát hành phiếu nợ để huy động tiền ở nước ngoài.
Vì loại tiền thông dụng nhất trong thanh toán quốc tế hiện nay là USD cho nên vay
tiền ở nước ngoài thường là vay bằng USD. Khoản vay này dùng để phục vụ các
thương vụ bảo đảm tín dụng cho kinh doanh xuất nhập khẩu Ở nhiều nước trong
đó có Việt Nam việc phát hành loại trái phiếu Euro dollars (Euro dollars tức là
những khoản tiền gửi bằng đôla Mỹ thuộc các ngân hàng nằm ngoài nước Mỹ)
chỉ được giới hạn vào một số ngân hàng đặc biệt như Ngân hàng Ngoại thương
Trang 19
hoặc Ngân hàng xuất nhập khẩu.
- Huy động ngắn hạn bằng phát hành RPs (Repurchase agreements): RPs là
một từ kỹ thuật, viết tắt của khái niệm thoả thuận mua lại hay hợp đồng mua lại.
Trong hoạt động mỗi ngày, việc thiếu tiền mặt bất ngờ cho những thương vụ đầu

Các NHTM với tư cách là một bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính
trung gian, nhận tiền gửi từ khách hàng có tiền nhàn rỗi hoặc đi vay bằng
cách phát hành các công cụ tài chính như chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để
thu hút vốn.
Đối với đối tượng khách hàng là các tổ chức kinh tế: hình thức mà ngân
hàng có thể huy động được nhiều nhất là tiền gửi giao dịch.
Thông qua việc làm trung gian thanh toán và chuyển hoá các phương tiện
thanh toán, các ngân hàng thu hút được số lượng lớn các tổ chức mở tài khoản
tạo ra tiền gửi giao dịch. Đây là nguồn có chi phí thấp nên các NHTM thường
xuyên cải tiến các phương tiện, nâng cao công nghệ thanh toán để thắng thế
trong việc hấp dẫn khách hàng gửi tiền và bán thêm các dịch vụ. Các doanh
nghiệp, TCKT thường mở tài khoản tiền gửi giao dịch tại một hoặc một số
NHTM nhất định, khi cần thiết yêu cầu rút ra hoặc chuyển trả tiền cho bên thụ
hưởng một cách nhanh chóng và tính chất của tài khoản này là thanh toán theo
yêu cầu. Qua đó ngân hàng vừa là thủ quỹ, vừa cung cấp dịch vụ thanh toán
theo yêu cầu của khách hàng.
Một trong những yêu cầu bắt buộc khi một doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh phải mở tài khoản giao dịch tại một NHTM, tài khoản này một mặt là nơi
thu nhận tiền từ những người mua hàng hoặc dịch vụ mà doanh nghiệp này cung
ứng, một mặt là nơi bảo quản tài sản chính, an toàn, khi cần có thể chi trả bất cứ
lúc nào và trong nhiều trường hợp số dư của nó được dùng để bảo lãnh hay đặt cọc
cho các hợp đồng và các thoả ước khác.
Trong khi thực hiện là trung gian thanh toán các NHTM còn nhận được tiền
gửi của các TCTD. Đây cũng là một loại tiền gửi giao dịch.
Ngoài ra các NHTM còn cung cấp các tài khoản tiền gửi có kỳ hạn đối
với các TCKT khi việc sử dụng vốn được kế hoạch trong tương lai các tổ
chức này gửi tiền theo kỳ hạn phù hợp một mặt nhờ ngân hàng bảo quản, mặt
Trang 21
khác họ thu thêm một khoản tiền lời do ngân hàng trả.
Ngoại trừ một số khoản tiền gửi giao dịch để đảm bảo khả năng thanh

a, Vốn trong thanh toán
Các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt có thể hình thành nguồn trong
thanh toán (séc trong quá trình chi trả, tiền ký quĩ để mở L/C ) . Những ngân
hàng là ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ có thể kết số dư từ tiền của các ngân
hàng thành viên chuyển về để thực hiện cho vay.
b, Vốn vay từ công ty mẹ (Parent company)
Tại các nước đã phát triển, một công ty hoặc một tập đoàn kinh doanh có
thể là chủ của từ 1 đến rất nhiều NHTM. Thay vì ngân hàng phát hành trái
phiếu hoặc giấy nợ để vay, có thể chịu nhiều sự quản lý và ràng buộc của
NHTW về dự trữ, lãi suất và kể cả thủ tục, các công ty mẹ của ngân hàng có
thể thay thế nó làm việc đó dưới hình thức phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu
công ty hoặc các loại thương phiếu, rồi chuyển vốn đã huy động được về cho
ngân hàng hoạt động.
Các NHTM chỉ thuộc sở hữu của các công ty mẹ, chứ không bị công ty
mẹ chi phối sâu vào hoạt động, hơn nữa NHTM vẫn phải trả gốc, lãi lại cho
công ty mẹ vì thế nguồn vay từ công ty mẹ cũng có thể coi là nguồn huy động
từ bên ngoài.
c, Vốn khác: Các khoản nợ khách như thuế chưa nộp, lương chưa trả
Thực hiện chức năng trung gian thanh toán, các NHTM có thể sử dụng kết dư
trên các tài khoản thanh toán vãng lai như chênh lệch thu hộ lớn hơn chi hộ các ngân
hàng khác trong thanh toán liên ngân hàng. Ngoài ra còn có thể có số dư trên các tài
khoản ký quỹ hoặc các khoản quản lý giữ hộ nhưng số vốn này không nhiều và ngân
hàng không chủ động trong việc tập trung nguồn này.
Như vậy, thông qua các hình thức huy động vốn trên có thể thấy rằng:
Các NHTM huy động vốn chủ yếu qua hình thức nhận tiền để khai thác lượng
tiền tạm thời nhàn rỗi của khách hàng, trường hợp mất cân đối giữa nguồn
vốn và sử dụng vốn có thể vay vốn các TCTD hoặc dưới hình thức chiết khấu
của NHTW để tài trợ cho danh mục tài sản. Trong số các phương thức này
huy động thông qua nguồn tiền gửi giữ vai trò quan trọng nhất do đó cho
Trang 23

Trang 24
Vì vậy, hoạt động huy động vốn của một ngân hàng được đánh giá là có
hiệu quả khi:
- Quy mô, cơ cấu nguồn huy động đủ lớn để tài trợ cho các danh mục
tài sản và không ngừng tăng trưởng ổn định.
- Nguồn vốn có chi phí hợp lý.
- Huy động vốn phù hợp với sử dụng vốn về mặt kỳ hạn.
- Quản lý tốt các loại rủi ro liên quan đến hoạt động huy động vốn.
a, Quy mô và cơ cấu nguồn vốn từ bên ngoài
Nguồn vốn từ bên ngoài của ngân hàng bao gồm nhiều bộ phận khác nhau:
nguồn tiền gửi, nguồn tiền vay và các nguồn khác. Mỗi thành phần này có đặc tính
khác nhau về qui mô, cơ cấu, tính ổn định, thời gian tồn tại, chi phí phải trả, khả
năng thanh toán và rủi ro lãi suất. Trong đó:
+ Qui mô là chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động của ngân hàng. Qui mô
nguồn huy động gia tăng đáp ứng cho hoạt động tài trợ không ngừng tăng trưởng
sẽ tạo điều kiện để ngân hàng mở rộng hoạt động, nâng cao tính thanh khoản và
tính ổn định của nguồn vốn.
+ Cơ cấu nguồn vốn ảnh hưởng tới cơ cấu tài sản và quyết định chi phí của
ngân hàng. Cơ cấu huy động phải phù hợp với cơ cấu sử dụng. Nếu cơ cấu nguồn
huy động không phù hợp, không đáp ứng được yêu cầu sử dụng thì sẽ không tối đa
được dư nợ tín dụng và đầu tư, ngược lại cơ cáu huy động nhiều mà sử dụng
không hết thì hoạt động không hiệu quả, ngân hàng vẫn phải chịu lãi suất trên phần
huy động thừa.
Trong điều kiện cụ thể, các nguồn có thể có tốc độ và quy mô thay đổi khác
nhau. Các ngân hàng lớn có quy mô nguồn lớn thì tốc độ tăng trưởng nguồn có thể
không cao như các ngân hàng nhỏ. Những ngân hàng ở trung tâm tiền tệ có cơ cấu
nguồn khác với các ngân hàng ở xa.
Cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng có thể rất khác nhau, tuỳ thuộc vào đặc điểm
khách hàng, chiến lược kinh doanh và hoạt động Marketing của ngân hàng.
Nhìn chung cơ cấu nguồn vốn của một ngân hàng được xem là hợp lý nếu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status