CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG Ở NƯỚC TA - Pdf 30

Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG Ở NƯỚC TA
Mục lục
5
Kinh tế và chính sách phát triển vùng
Lời mở đầu
Kết cấu hạ tầng là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành cơ cấu vùng kinh
tế. Sự phát triển có hiệu quả và đồng bộ kết cấu hạ tầng ảnh hưởng mạnh mẽ không những
đến sự tăng trưởng của từng vùng mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Phát triển kết cấu hạ tầng từng vùng dựa trên thế mạnh riêng và tiềm năng đặc trưng
là một vấn đề trọng tâm mà Đảng và Nhà nước tập trung hướng tới để từ đó sự liên kết
mạnh mẽ giữa các vùng được đẩy mạnh, sức mạnh tổng thể được phát huy tối đa. Phát
triển toàn diện kết cấu hạ tầng kỹ thuật, xã hội, môi trường, thiết chế diện rộng các vùng
trọng điểm cũng như không trọng điểm giúp tận dụng triệt để nguồn lực tiềm năng tạo nên
sự phát triển kinh tế xã hội các vùng cũng như cả nước.
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách phát triển vùng nói
chung và kết cấu hạ tầng vùng nói riêng là việc làm rất có ý nghĩa thiết thực.
2
Kinh tế và chính sách phát triển vùng
I. Khái niệm, đặc điểm, vai trò
1. Khái niệm
Kết cấu hạ tầng (KCHT) là tổ hợp các công trình vật chất – kỹ thuật mà kết quả
họat động của nó là những dịch vụ có chức năng phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuát
và đời sống dân cư được bố trí trên một phạm vi lãnh thổ nhất định.
Kết cấu hạ tầng là một yếu tố quan trọng cấu thành cơ cấu vùng kinh tế. Nó cung
cấp các dịch vụ trực tiếp cho họat động sản xuất đời sống và tạo điều kiện thuận lợi khai
thác các nguồn tài nguyên quy tụ trên vùng. Sự phát triển có hiệu quả và đồng bộ kết cấu
hạ tầng ảnh hưởng mạnh mẽ không những đến sự tăng trưởng của từng vùng mà còn đối
với toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Kết cấu hạ tầng được chia làm 4 loại như sau:
Kết cấu hạ tầng Đặc điểm Ví dụ

Kinh tế và chính sách phát triển vùng
KCHT có một số đặc điểm sau đây:
− Tạo tiền đề thu hút vốn đầu tư, phát triển kinh tế, nâng cao mức sống người dân và
giảm đói nghèo;
− Công trình thường rải theo tuyến , hình thành hệ thống có nhiều cấp và có quan hệ
liên ngành với KCHT khác;
− Có tuổi thọ lâu dài nhưng mục tiêu và giá trị sử dụng lại biến động theo thời gian
(KCHT có tuổi thọ thiết kế, tuổi thọ thực tế, tuổi thọ kỹ thuật, tuổi thọ kinh tế);
− Đòi hỏi vốn đầu tư lớn nhưng lại khó trực tiếp thu hồi vốn;
− Có tác động lớn đến môi trường.
3. Vai trò
Kết cấu hạ tầng là yếu tố cấu thành cơ cấu vùng kinh tế. Thiếu kết cấu hạ tầng hoặc
phát triển kết cấu hạ tầng không đồng bộ đều ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển của
vùng kinh tế.
3.1. Cung cấp dịch vụ trực tiếp cho đời sống: bao gồm
Kết cấu hạ tầng xã hội: phục vụ trực tiếp cho quá trình sống, sinh hoạt của cộng đồng dân
cư trong vùng. Đó là các công trình của các ngành văn hoá, giáo dục- đào tạo, y tế.
Kết cấu hạ tầng môi trường: phục vụ trực tiếp cho công tác bảo vệ môi trường. Đó là các
công trình xử lý chất thải rắn, nước thải, xử lý ô nhiễm không khí, hệ thống quan trắc môi
trường.
Kết cấu hạ tầng thiết chế: bao gồm các viện, trung tâm, trường đào tạo và nghiên cứu khoa
học, nghê thuật, các cơ quan Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội…
4
Kinh tế và chính sách phát triển vùng
3.2. Cung cấp dịch vụ trực tiếp cho sản xuất:
Đó là kết cấu hạ tầng kỹ thuật- phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất diễn ra
trong vùng. Đó là các cơ sở của các ngành như giao thông, điện nước sạch, thoát nước,
thông tin liên lạc, hệ thống đê điều, hệ thống thuỷ lợi…
3.3. Ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế vùng:
Cơ sở hạ tầng là yếu tố tiền đề và quan trọng tạo động lực cho phát triển kinh tế và

1. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật:
5
Kinh tế và chính sách phát triển vùng
Sau hơn 20 năm đổi mới, từ một hệ thống kết cấu hạ tầng yếu kém cả về số lượng và chất
lượng, đến nay kết cấu hạ tầng đã đạt được kết quả đáng kể trong các lĩnh vực như sau:

- Đường bộ có khoảng
Trong đó: Quốc lộ có khoảng
: 310.000 Km
: 21.000 Km
- Đường sắt : 3.200 Km
- Năng lực thông qua cảng thuỷ nội địa : 96 Triệu tấn
- Năng lực thông qua các cảng biển khoảng : 187 Triệu tấn
- Năng lực thông qua các cảng hàng không khoảng : 63 Triệu tấn
- Công suất thiết kế hệ thống cấp nước đô thị khoảng : 5,5 Triệu m
3
/ngày
- Công suất thực tế hệ thống cấp nước đô thị khoảng : 4,5 Triệu m
3
/ngày
- Tỷ lệ xử lý chất thải rắn đô thị khoảng : 80%
- Tỷ lệ đáp ứng nhu cầu đi lại hai đô thị đặc biệt của vận tải
hành khách công cộng khoảng

: 20%
Hệ thống hạ tầng kỹ thuật tại các thành phố là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy
sự phát triển kinh tế xã hội. Năm 1999, cả nước chỉ có khoảng 18 triệu người sống ở thành
phố, chiếm 23,6% thì đến năm 2002 đã là trên 20 triệu (tương đương 25,1% dân số). Dự
kiến đến năm 2010 là 33% và 2020 là 45%. Dân số sống tại đô thị sẽ ngày càng tăng cao
trong khi hạ tầng kỹ thuật của tất cả các thành phố vẫn chưa đáp ứng được trong điều kiện

Đường sắt Việt Nam hiện gồm có hai loại đội tàu hỏa là:
• Các loại tàu khách, gồm: tàu liên vận quốc tế, tàu khách tốc hành và tàu nhanh, tàu
khách thường và tàu hỗn hợp.
• Các loại tàu chở hàng, gồm: tàu chuyên chở nhanh, tàu chuyên chở thường.
Hiện nay phần lớn đường sắt Việt Nam (khoảng 2249km) dùng khổ rộng 1,0 m, và toàn
tuyến đường sắt Bắc Nam dùng khổ 1,0 m. Có 180 km dùng khổ 1,435 m là tuyến đường
Hà Nội - cảng Cái Lân dùng cho tàu chở hàng.
Đường biển: Hệ thống cảng phân bố đều ở cả ba miền với bờ biển dài 3200km. Mặc dù
đã có những hải cảng quốc tế như Sài Gòn, Hải Phòng, Đà Nẵng đón nhận tàu các nước ra
vào nhưng đó chỉ là số ít. Phần lớn các cảng biển nước ta không đảm nhận được những tàu
trọng tải lớn nên chi phí cho việc bôc dỡ hàng hóa cao do phải chuyển tải. Bên cạnh đó, hệ
thống dịch vụ ở các cảng này cũng chưa đáp ứng nhu cầu phát triển.
Đường hàng không: Hiện có gần 20 sân đã được đưa vào khai thác và sử dụng, trong
đó có ba sân bay cấp IV là: Nội Bài, Tân Sơn Nhất và Đà Nẵng. Ba sân bay này có chất
lương tương đương với tiêu chuẩn quốc tế
7
Kinh tế và chính sách phát triển vùng
1.2. Hệ thống cấp thoát nước đô thị
Có thể khẳng định rằng: Tại các đô thị của Việt Nam, hệ thống cấp thoát nước chưa
đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội.
Hệ thống cấp nước đô thị hiện nay vẫn còn trì trệ. Trong tổng số 689 đô thị trên
toàn quốc hiện vẫn còn gần 400 đô thị nhỏ chưa có hệ thống cấp nước tập trung. Tổng
công suất thiết kế của các nhà máy nước sinh hoạt đạt 3,2-3,6 triệu m3/ ngày đêm, công
suất khai thác chỉ đạt 2,2 triệu m3/ngày đêm. Tính đến cuối năm 2009, tổng công suất thiết
kế cấp nước đạt khoảng 5,9 triệu m3/ngày đêm. Tỷ lệ cấp nước của dân đô thị đạt trung
bình 73% (tỷ lệ này đạt 75-90% tại các đô thị lớn như Hà Nội đạt 88,5% và Tp.HCM đạt
87%). Mức sử dụng nước sạch bình quân đạt 90 lít/người/ngày đêm. Đặc biệt tại các khu
đô thị cũ với mạng lưới đường ống cũ và đường kính nhỏ, khó đảm bảo phục vụ cấp nước
liên tục đặc biệt trong mùa khô hạn. Đến nay hầu hết các đô thị tỉnh lỵ (63 tỉnh thành) đều
đã và đang có các dự án đầu tư cải tạo, nâng cấp mở rộng hệ thống cấp nước. Tuy nhiên,

cáo, không gian cây xanh mặt nước… vẫn còn tự phát, manh mún, tuỳ tiện. Nguồn sáng
(bóng đèn), thiết bị chiếu sáng hiệu suất thấp, tiêu tốn nhiều điện năng vẫn còn sử dụng ở
nhiều đô thị.
1.4. Cây xanh đô thị
Trong thời gian qua, mặc dù công tác phát triển cây xanh đô thị đã được các cấp,
các ngành đặc biệt quan tâm. Diện tích cây xanh đô thị từng bước tăng dần cả về số lượng
và chất lượng, cây trồng đặc biệt ở các đô thị lớn ngày càng phong phú. Tuy nhiên, qua
khảo sát và thống kê thì: có thể đánh giá chung như sau:
Tỷ lệ bình quân diện tích đất cây xanh trên đầu người còn thấp, phần lớn dưới
10m2/người (Hà Nội đạt 5,54m2/người). Tỷ lệ diện tích đất cây xanh trên diện tích đất tự
nhiên đô thị cũng thấp so với các đô thị trong khu vực và trên thế giới. Quản lý về cây
xanh vẫn còn lỏng lẻo, tình trạng chặt phá cây đặc biệt các cây quý hiếm nằm trong nhóm
phải được bảo tồn vẫn diễn ra. Nhiều đô thị tiến hành công tác cải tạo, nâng cấp và mở
rộng đường phố dẫn đến việc chặt hạ hàng loạt cây xanh. Nhiều công viên, việc cho phép
xây dựng công trình không tuân thủ quy hoạch hoặc không nghiên cứu, xem xét thận trọng
gây bức xúc trong dư luận.
2. Kết cấu hạ tầng xã hội:
2.1. Cơ sở hạ tầng về nhà ở
Tình hình nhà ở Việt nam hiện nay là một vấn đề lớn đối với xã hội. Trong các
thành phố lớn vấn đề nhà ở càng trở lên bức thiết với sinh viên, những người chưa có thu
nhập và nhưng người nghèo hoặc có thu nhập thấp. Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã có
Quyết định phê duyệt Danh mục các dự án phát triển nhà ở sinh viên tại TP. Hà Nội và TP.
Hồ Chí Minh bằng nguồn trái phiếu Chính phủ năm 2009 đã được phân bổ cho 2 thành phố
này trước đó.
Cụ thể, TP. Hà Nội được phân bổ 625 tỷ đồng để triển khai 10 dự án nhà ở sinh
viên (DANOSV), đáp ứng nhu cầu chỗ ở cho 52.419 sinh viên. Tại TP. Hồ Chí Minh, 800
tỷ đồng từ nguồn trái phiếu Chính phủ được phân bổ để thực hiện 5 dự án, đáp ứng nhu
cầu chỗ ở cho 75.200 sinh viên.
9
Kinh tế và chính sách phát triển vùng

hồi sinh, đang từng bước củng cố và phát triển. Với phương châm Nhà nước và nhân dân
cùng làm, một số trạm y tế xã được xây dựng mới hoặc nâng cấp đưa tổng số trạm y tế xã
trong cả nước đạt 95,1%. Hiện vẫn còn 4,9% số xã chưa có trạm, cán bộ y tế làm việc tại
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status