tranh chấp quốc tế và giải quyết tranh chấp thông qua tòa công lý quốc tế - Pdf 30


ĐỀ TÀI "Tranh chấp quốc tế và giải quyết tranh chấp thông
qua tòa án công lý quốc tế"
MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU
Hoà cùng với xu thế hội nhập, mở rộng toàn cầu ngày nay, vấn đề hợp tác cùng
phát triển trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là xu hướng tất
yếu mà các quốc gia lựa chọn. Tuy nhiên, việc các chủ thể thúc đẩy, tăng cường thiết
lập các quan hệ hợp tác quốc tế cũng sẽ làm gia tăng nhiều nguy cơ tiềm ẩn làm nảy
sinh mâu thuẫn, bất đồng và xảy ra tranh chấp. Thậm chí, số lượng tranh chấp thường
tỷ lệ thuận với tốc độ phát triển của quan hệ quốc tế. Những mâu thuẫn, tranh chấp ấy
thường là những tranh chấp về lợi ích kinh tế, xã hội; tranh chấp về chính trị, lãnh thổ,
chủ quyền quốc gia… Những tranh chấp này đã, đang và sẽ xuất hiện ngày càng
nhiều trong bối cảnh hiện nay.
Nổi cộm lên những vụ tranh chấp quốc tế điển hình trong thời gian đây như là:
Vụ giao tranh tại giải Gaza giữa Israel và Hamas tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ,
tranh chấp giữa Thái Lan và Campuchia liên qua đến đền Preah Vihear, và nổi cộm
nhất đó là tình hình an ninh biển Đông khi có hàng loạt các tranh chấp liên quan đến
chủ quyền biển đảo như: tranh chấp quần đảo Kuril giữa Nhật và Nga, tranh chấp biển
đảo giữa Trung Quốc với các quốc gia Philippin (bãi cạn Scarborough), Nhật Bản
(quần đảo Senkaku), Việt Nam (hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa)…và gần đây
nhất là vụ việc người dân HongKong đòi quyền dân chủ… Từ đó, vấn đề đặt ra là
phải giải quyết các tranh chấp phát sinh như thế nào để đảm bảo được lợi ích hợp
pháp của các bên tranh chấp và đặc biệt là không phương hại đến hoà bình, an ninh
quốc tế. Để đáp ứng được xu thế phát triển và đòi hỏi ấy, Toà án công lý Quốc tế đã
ra đời.
Vậy, để hiểu rõ và đúng thế nào là tranh chấp quốc tế, Toà Án công lý quốc tế
được thành lâp như thế nào, hoạt động ra sao, tranh chấp nào sẽ được Toà án công lý
quốc tế thụ lý và giải quyết? Nhóm chúng tôi đã đi sâu, tìm hiểu đề tài “Tranh chấp
quốc tế và giải quyết tranh chấp quốc tế thông qua Toà án công lý quốc tế.”

phá giá của Mỹ không phải là tranh chấp quốc tế.
 
Nội dung của tranh chấp quốc tế chính là quyền và nghĩa vụ của các chủ thể
liên quan đến chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ, dân cư, quyền tài phán quốc gia,…
Song song đó, nội dung của tranh chấp cũng có thể là cách giải thích và thực hiện luật
quốc tế hoặc quan điểm của các chủ thể luật quốc tế.
 
Đối tượng của tranh chấp quốc tế vô cùng phong phú, bao gồm tất cả những
vấn đề phát sinh trong đời sống quốc tế, bao gồm các lý thuyết, nội dung của các điều
ước quốc tế, tập quán quốc tế và các vùng lãnh thổ quốc gia có quyền chủ quyền trên
biển như vùng tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế, thềm lục địa…
Ngoài ra, đối tượng của tranh chấp quốc tế cũng có thể là tư cách thành viên
của các quốc gia tại các tổ chức liên chính phủ. Ví dụ, cuộc tranh chấp tư cách thành
viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc giữa Cộng Hòa Trung Hoa
(chính quyền Tưởng Giới Thạch) và Nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa, kéo dài đến
ngày 24/10/1971.
Trong thực tiễn, đối tượng của tranh chấp quốc tế cũng có thể là các sự kiện
pháp lý quốc tế diễn ra trong quan hệ quốc tế nhưng chúng tạo ra tranh chấp, bất đồng
về quan điểm chính trị giữa các quốc gia trong việc giari thích hoặc ủng hộ hoặc phản
đối các sự kiện đó. Ví dụ, năm 2003, khi Mỹ, Anh và liên quân tấn công Irac đã có
hơn 38 quốc gia ủng hộ và tham gia vào cuộc tấn công vì họ cho rằng quyết định tấn
công của Mỹ là đúng nhưng đại đa số các quốc gia khác lại phản đối, trong đó có
Cộng hòa Pháp và Cộng hòa Liên bang Nga.
4

 
Khách thể ở đây chính là các quyền và lợi ích vật chất, tinh thần mà các bên
tranh chấp hoặc cộng đồng quốc tế mong muốn hướng tới và đạt được. Ví dụ, vụ việc
tranh chấp quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa giữa Việt Nam với các bên liên quan
như Trung Quốc, Philippin, Malaysia, Brunay khách thể ở đây chính là sự mong

thẩm là phán quyết cuối cùng, các thành viên WTO có nghĩa vụ phải tuân thủ quyết
định này.
1
+ ,-./0*"#$
Hiện nay, xuất hiện ngày càng nhiều tranh chấp quốc tế mà tính chất các tranh
chấp này ngày một đa dạng nhưng nhìn chung ta có các cách phân loại tranh chấp
quốc tế như sau, và mỗi cách phân loại đều có các tiêu chí nhất định.
 &'()*+,-
- Tranh chấp song phương: tranh chấp giữa hai bên
- Tranh chấp đa phương: tranh chấp giữa nhiều bên bao gồm tranh chấp
có tính khu vực và tranh chấp có tính toàn cầu.
Ví dụ: Sau hội thảo “Biển Đông hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu
vực”, các học giả phương Tây nhất trí rằng tranh chấp ở biển Đông bao gồm tranh
chấp song phương và đa phương.
 &'()*.(#(/
- Tranh chấp có tính chính trị: thường là tranh chấp về chủ quyền quốc gia đối
với dân cư, lãnh thổ, về lợi ích giữa các bên… liên quan đến các đòi hỏi phải thay đổi
các quy định hiện hành, gắn liền với quyền và nghĩa vụ của các bên. Tranh chấp thuộc
1 Bài viết: />post444764.html
6

loại này thường rất nguy hiểm, do tính chất phức tạp và có thể tiềm ẩn khả năng bùng
phát các cuộc xung đột, đe dọa hòa bình, ổn định của khu vực cũng như của thế giới.
Ví dụ: Căng thẳng giữa Nicaragua và Costa Rica bùng nổ xung quanh hòn đảo
Calero trên sông San Juan mà Nicaragua đang xúc tiến việc đào một con kênh và đốn
hạ cây trên vùng lãnh thổ tranh chấp. Nicaragua bác bỏ việc binh lính của họ xâm
nhập lãnh thổ Costa Rica trong khi nước này khẳng định lãnh thổ của họ bị xâm phạm
- Tranh chấp có tính pháp lý: là những tranh chấp giữa các bên liên quan đến sự
bất đồng trong việc giải thích hoặc áp dụng các quy định hiện hành, như những tranh
chấp về giải thích điều ước quốc tế, về các sự kiện vi phạm nghĩa vụ quốc tế. Đây là

 Các bên tranh chấp trực tiếp giải quyết
Hầu hết các tranh chấp quốc tế được giải quyết bằng biện pháp đàm phán trực tiếp
(thương lượng ngoại giao), bởi đây là một trong những biện pháp giải quyết tranh chấp phổ
biến và mang lại hiệu quả nhất. Đàm phán có thể diễn ra ở cấp nguyên thủ quốc gia, người
đứng đầu Chính phủ, đại diện toàn quyền của các nhà nước hoặc thông qua Hội nghị ngoại
giao, các cơ quan đại diện ngoại giao của các quốc gia ở nước ngoài…
• Đàm phán trực tiếp: có thể được tiến hành theo mô hình đàm phán song
phương hoặc đàm phán đa phương, trong đó các cuộc đàm phán cấp cao có vai trò
mang tính quyết định.Trong các cuộc đàm phán này, các bên thường thảo luận về
những nguyên nhân cơ bản làm phát sinh tranh chấp để thống nhất áp dụng biện
pháp giải quyết tranh chấp . Kết quả đàm phán trực tiếp phụ thuộc rất nhiều vào
uy tín, trình độ, kiến thức chuyên môn của đại diện các quốc gia tham đàm phán.
Đàm phán thường kết thúc bằng việc các bên tranh chấp sẽ ký kết một trong các
8

loại văn kiện quốc tế như Bản ghi nhớ (7  -8-*7), Nghị quyết
(8(*,*, 8+*); Hiệp ước, Hiệp định (8, *)
 Các cơ quan tài phán quốc tế giải quyết
Cơ quan tài phán quốc tế có thể là Tòa án quốc tế hoặc Trọng tài quốc tế được các
bên tranh chấp thừa nhận (Tòa án công lý quốc tế, Trọng tài quốc tế thường trực Lahaye,
hoặc các trọng tài thường trực của các tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc) hoặc thành
lập (các trọng tài ad hoc) được các bên tranh chấp trao quyền giải quyết các tranh chấp quốc
tế giữa họ với nhau.
Phần lớn đối với các tranh chấp về lãnh thổ và biên giới của các quốc gia chủ yếu do
các bên tranh chấp giải quyết bằng biện pháp đàm phán trực tiếp hoặc các bên tranh chấp
đồng thuận giải quyết tại Tòa án công lý quốc tế.
Cơ quan tài phán quốc tế không có thẩm quyền đương nhiên theo quy chế hoạt động
mà trước hết là sự phụ thuộc vào thỏa thuận của chủ thể có liên quan đến tranh chấp xảy ra.
• Tòa án công lý quốc tế (ICJ):
Thẩm quyền của Tòa là giải quyết các tranh chấp quốc tế và thẩm quyền tư vấn. Tòa

cáp và ống dẫn ngầm, đồi với việc nghiên cứu khoa học biển, đối với các tài nguyên sinh vật
thuộc vùng đặc quyền kinh tế.
• Tòa trọng tài thường trực Lahaye (PCA):
Là Tòa có thẩm quyền giải quyết tất cả các tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia
thành viên, trừ khi các quốc gia thỏa thuận lựa chọn một phương hướng giải quyết khác.
Từ khi thành lập, Toà trọng tài thường trực Lahaye đã giải quyết được khá nhiều vụ
tranh chấp quốc tế và có một số vụ đã được Toà giải quyết tương đối thành công như vụ:
Tranh chấp chủ quyền trên đảo Palmas (1922-1928) giữa Hà Lan và Hoa Kỳ, tranh chấp chủ
10

quyền một số đảo ở Biển Đỏ giữa Eritrea và Yemen (1999), Tranh chấp về biên giới giữa
Ethiopia và Ertrea (2001)….
• Tòa trọng tài quốc tế về Luật Biển của Liên Hợp Quốc (ITLOS)
Toà Trọng tài quốc tế về Luật biển (ITLOS) là một cơ quan tài phán riêng biệt do
Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 thiết lập nhằm giải thích các điều
khoản và việc áp dụng Công ước. .
Theo điều 21 Quy chế của ITLOS thì Tòa có thẩm quyền đối với tất cả các vụ tranh
chấp và tất cả các yêu cầu được đưa ra Toà theo đúng Công ước, và đối với tất cả các trường
hợp được trù định rõ trong mọi thoả thuận khác.
Tóm lại ITLOS có thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp liên quan đến việc giải
thích và áp dụng Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển:
o Giữa các quốc gia tuyên bố bằng văn bản lựa chọn Tòa. Đây là thẩm quyền
được xác định trước khi xảy ra tranh chấp. Khi tranh chấp xảy ra, một bên liên
quan và đã có tuyên bố bằng văn bản lựa chọn Tòa, có quyền đơn phương kiện
bên tranh chấp với mình ra Tòa với điều kiện bên tranh chấp này cũng đã có
tuyên bố bằng văn bản chấp nhận thẩm quyền của Tòa.
o Giữa các quốc gia tranh chấp có cùng thỏa thuận lựa chọn ITLOS bằng một
thỏa thuận song phương hoặc đa phương.
Ngoài ra, trong trường hợp nếu được sự thoả thuận của tất cả các bên trong một Hiệp
ước hay một Công ước đã có hiệu lực có quan hệ đến một vấn đề do Công ước Luật biển đề

nếu sau khi đã tiến hành các biện pháp nêu trên mà tranh chấp vẫn chưa được giải quyết thì
các bên có thể khiếu nại ra trước cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) của tổ chức.
• Tài phán ASEAN.
12

Thẩm quyền của ASEAN là giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia
thành viên trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh, xã hội. ASEAN khuyến khích
các bên giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng hòa giải. Nếu không thành thì các bên
sẽ thành lập Hội đồng Bộ trưởng cấp cao để giải quyết theo cơ chế được qui định cụ thể
trong Hiệp ước thân thiện và hợp tác khu vực Đông Nam Á. Riêng đối với lĩnh vự kinh tế,
quá trình giải quyết tranh chấp được thực hiện dựa trên Nghị định thư 24 qui định cụ thể
thẩm quyền giải quyết tranh chấp là đưa vụ việc ra Hội nghị kinh tế cao cấp (SEOM). Nếu
các bên không chấp nhận quyết định của SEOM đưa ra thì có thể kháng cáo lên Cơ quan
phúc thẩm.
Ngoài ra, các quốc gia, các cá nhân có ảnh hưởng lớn trong quan hệ quốc tế như các
Nguyên thủ quốc gia, cựu Nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu các tổ chức quốc tế,… tham
gia giải quyết tranh chấp với vai trò môi giới hoặc trung gian – hòa giải.
• Môi giới: bên môi giới tự nguyện hoặc do các bên đề nghị đứng ra thuyết phục
các bên tranh chấp gặp gỡ, tiếp xúc giải quyết tranh chấp, không có thẩm quyền
giải quyết tranh chấp quốc tế; môi giới có thể đồng thời hoặc khác với trung gian
hòa giải.
Ví dụ:tổng thống Mỹ Roosevelt làm môi giới giữa Nga và Nhật 1905; vai
trò môi giới của Tổng thư ký liên hợp quốc về Trung Đông năm 1973 – 1974,
trong chiến tranh giữa Nga và Ukraina tháng 8 năm 2008 thì tổng thống Pháp
Nicolar Sarkosy đã tự nguyện đứng ra làm môi giới đồng thời làm trung gian hòa
giải giữa hai nước để chấm dứt chiến tranh.
• Trung gian : bên trung gian không có thẩm quyền quyết định các biện pháp tranh
chấp chỉ đóng vai trò là nước chủ nhà, chủ tọa, bảo trợ để giải quyết tranh chấp…
để các bên tranh chấp tổ chức hội nghị, trung gian có thể bao gồm hòa giải 9.#:
,)-*;<=0()>?@?AB=0

quốc”; được pháp điển hóa trong Tuyên ngôn 1970, trong các điều ước quốc tế đa phương
và song phương khác.
14

Theo tinh thần của Hiến chương liên hợp quốc thì việc dùng vũ lực chỉ được chấp
nhận khi tự vệ chính đáng hợp pháp nhưng vẫn có sự kiểm soát của Hội đồng bảo an nhằm
hạn chế đến mức tối đa việc dùng vũ lực. Việc dùng các biện pháp đấu tranh được áp dụng
đối với các dân tộc thuộc địa giành quyền tự quyết nhưng phải tuân thủ theo qui định Luật
quốc tế hoặc cộng đồng quốc tế có quyền áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với các hành
vi vi phạm nghiêm trọng các tranh chấp quốc tế.
Luật quốc tế hiện dại xem việc đe dọa sử dụng vũ lực chống lại quốc gia khác là một
tội ác quốc tế, là một loại vi phạm pháp luật quốc tế riêng biệt.
Những hành động đe dọa sử dụng vũ lực phổ biến trong thực tiễn quan hệ quốc tế
hiện nay là: tập trung quân đội (lục quân, hải quân, không quân) ở biên giới giáp với quốc
gia khác, tập trận ở biên giới giáp với quốc gia khác, gửi tối hậu thư đe dọa quốc gia khác.
Những hành động này đều trái với tinh thần và nội dung của Hiến chương Liên hợp
quốc. Các quốc gia gây ra những hành động như vậy phải chịu trách nhiệm theo qui định của
luật quốc tế.
Theo Luật quốc tế hiện đại các quốc gia có nghĩa vụ không được tiến hành những
hành động xâm lược vũ trang và cả các hình thức xâm lược khác, cụ thể là xâm lược về kinh
tế và xâm lược về tư tưởng
o Xâm lược gián tiếp: là phương pháp hoạt động phá hoại phổ biến của chủ nghĩa đế
quốc và bọn phản động quốc tế chống lại các quốc gia khác như xúi giục, giúp đỡ các
quốc gia khác đi xâm lược để thực hiện mưu đồ chính trị của mình, khích động gây
nội chiến ở nước khác, khuyến khích các hành động phá hoại như khủng bố, tàn sát
chống nước khác…Xâm lược gián tiếp khác với xâm lược vũ trang ở chỗ quốc gia
xâm lược hoạt động giấu mặt thông qua người khác.
o Xâm lược kinh tế: là phương pháp hoạt động phá hoại phổ biến của các nước đế quốc
và bọn phản động quốc tế nhằm gây sức ép đối với các nước yếu thế hơn bắt các
nước này phải phụ thuộc vào chúng về kinh tế và chính trị.Những hình thức xâm lược


Các quốc gia có quyền tự vệ cá thể, tức là dùng sức mình để tự bảo vệ, đồng thời
cũng có quyền tự vệ tập thể, tức là liên minh với các quốc gia khác trên cơ sở các cam kết
quốc tế bình đẳng.
Các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc cũng có quyền dùng bạo lực cách mạng đê giải
phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho mình. Đó là quyền tự vệ chính đáng của các dân tộc
thuộc địa và phụ thuộc, phù hợp với nguyên tắc dân tộc tự quyết. Việc các … bị áp bức dùng
lực lượng vũ trang để đạp tan ách gông cùm, giành lại tự do hạnh phúc là hoàn toàn phù hợp
với luật quốc tế hiện nay và không trái với nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực trong quan hệ
quốc tế.
• Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế:
Nguyên tắc này được pháp điển hóa trong Tuyên ngôn 1970 của Đai hội đồng Liên
hợp quốc, được ghi nhận như sau: “tất cả các quốc gia giải quyết các tranh chấp quốc tế của
mình bằng các biện pháp hòa bình mà không làm phương hại đến hòa bình, an ninh và công
lý quốc tế”.
Theo như nguyên tắc này, các quốc gia phải:
- Có nghĩa vụ giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hòa bình;
- Có quyền lựa chọn bất kỳ biện pháp hòa bình nào để giải quyết tranh chấp
giữa họ với nhau mà chủ yếu là các biện pháp được ghi nhận tại Điều 33 của
Hiến chương Liên hợp quốc: Đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng
tài, tòa án, sử dụng các tổ chức hoặc các Hiệp định khu vực hoặc bằng các biện
pháp hòa bình khác;
- Phải giải quyết các tranh chấp trên cơ sở bình đẳng về chủ quyền, tôn trọng
các quyền và lợi ích hợp pháp của các quốc gia khác.
Nguyên tắc này đóng vai trò giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể của
luật quốc tế và những bất đồng về các vấn đề cơ bản của quan hệ quốc tế. Hiện nay việc tích
17

cực tham gia các tổ chức quốc tế của các quốc gia thì tính hiệu quả trong việc giải quyết
tranh chấp được nâng lên đáng kế.

tác của các chủ thể đã có sự tranh chấp với nhau. Trong quá trình tranh chấp khi mâu thuẫn
chưa được giải quyết thì sự hợp tác của các chủ thể cũng giảm đáng kể điều này ảnh hưởng
rất lớn đến các bên đồng thời cũng tác động không nhỏ đến tình hình thế giới. Vì vậy khi
tranh chấp quốc tế được giải quyết ổn thỏa sẽ là động lực tiền đề để các bên tiếp tục xây
dựng và phát triển hơn nữa sự hợp tác của mình, tình hình của quốc gia cũng trở nên ổn định
và phát triển hơn.
5. Vai trò của luật quốc tế và các nguồn luật quốc tế trong giải quyết tranh chấp.
1 2*$
Luật quốc tế trong giải quyết tranh chấp đóng vai trò rất quan trọng vì:
Thứ nhất, Luật quốc tế xác định nghĩa vụ giải quyết hòa bình tranh chấp quốc tế là
nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể luật quốc tế, là khi có tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể
của Luật quốc tế bắt buộc các bên lien quan phải lựa chọn và áp dụng các cơ chế, biện pháp
hòa bình để giải quyết tranh chấp. Luật quốc tế nghiêm cấm các chủ thể của Luật quốc tế
giải quyết tranh chấp quốc tế bằng các biện pháp phi hòa bình như sử dụng vũ lực hoặc đe
dọa dung vũ lực, can thiệp bằng quân sự, chính trị, kinh tế để gây sức ép đến những chủ thể
mà mình đang có mâu thuẫn.
Thứ hai, Luật quốc tế thiết lập cơ chế pháp lý thông qua việc thành lập các thiết chế
tài phán quốc tế như: Tòa án Công lý quốc tế, Trung tâm trọng tài thương mại, Tòa án về
Luật biển…. và bảo đảm cho các cơ quan tài phán quốc tế này thực thi chức năng giải quyết
tranh chấp quốc tế của mình, bao gồm cả việc xây dựng các cơ chế bảo đảm thực thi kết quả
giải quyết tranh chấp.
Tóm lại, vai trò giải quyết tranh chấp của Luật quốc tế đều nhằm mục đích thúc đẩy
các chủ thể của Luật quốc tế thực thi, tuân thủ triệt để luật quốc tế cũng như thực hiện sứ
mệnh bảo vệ, duy trì hòa bình và an ninh quốc tế.
19

1% 3.$456$"#$
Thứ nhất, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX văn bản ghi nhận việc giải quyết tranh chấp
quốc tế là Công ước Lahaye 1899, Công ước Lahaye số 1 về giải quyết hòa bình các tranh
chấp quốc tế ngày 18/10/1907. Công ước này quy định trình tự, thủ tục áp dụng các biện

QUỐC TẾ
1. Định nghĩa
Các biện pháp hoà bình để giải quyết tranh chấp quốc tế được hiểu là các phương
tiện, cách thức mà các chủ thể của Luật Quốc tế có nghĩa vụ phải dùng để giải quyết tranh
chấp bất đồng dựa trên cơ sở các nguyên tắc hoà bình giải quyết tranh chấp quốc tế để duy
trì hoà bình an ninh quốc tế phát triển quan hệ hợp tác giữa các quốc gia.
Giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia bằng các biện pháp hòa bình là xu hướng
tất yếu không thể phủ nhận và được tuyệt đại đa số các nước trên thế giới ủng hộ.
2. Phân loại các biện pháp hoà bình giải quyết tranh chấp
% 6$"#787 ##/0/
 P/0)-
Đàm phán trực tiếp thường được hiểu là sự trao đổi có tính chất đề xuất, thương
lượng, bàn bạc theo hình thức song phương, đa phương về các vấn đề nảy sinh tranh chấp
diễn ra giữa các bên liên quan, trong khuôn khổ một hội nghị hoặc cuộc gặp song phương.
Theo đó, các bên trong tranh chấp tiến hánh bàn bạc, thoả thuận, đấu tranh, thương lượng,
nhượng bộ lẫn nhau trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng để đi đến thống nhất cách giải
quyết tranh chấp.
Ưu điểm của phương pháp này là tranh chấp có thể được giải quyết một cách nhanh
chóng vì đàm phán có thể xúc tiến bất cứ lúc nào, không bị khống chế về thời gian, bên
cạnh đó, sự tự nguyện thỏa thuận giải quyết giữa các bên nên có thể dễ dàng loại bỏ được
những bất đồng, thỏa mãn những tâm tư nguyện vọng, không bị khống chế hay gây áp lực từ
phía bên thứ ba, cũng nhờ vậy mà những tranh chấp có tính chất bí mật không bị tiết lộ ra
21

bên ngoài từ đó mà các bên trong tranh chấp cững giữ vững được uy tín trên trường quốc tế.
Ngoài ra, các bên còn tiết kiệm được chi phí giải quyết tranh chấp.
Bên cạnh những ưu điểm, hình thức đàm phán cũng tồn tại một số nhược điểm là
không đảm bảo tranh chấp được giải quyết một cách hoàn toàn vì nó còn phụ thuộc rất lớn
vào thiện chí giữa các bên.
 P/Q

Biện pháp này cũng có sự tham gia của bên thứ ba là quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc
khu vực hoặc có thể là cá nhân có uy tín trên trường quốc tế, tuy nhiên sự tham gia tích cực
và năng động hơn và có sự can thiệp sâu hơn. Bên thứ ba trực tiếp tham gia vào cuộc đàm
phán với tư cách là chủ toạ đồng thời đưa ra dự thảo giải quyết tranh chấp để các bên tham
khảo. Theo đó, bên thứ ba tham gia đàm phán từ lúc bắt đầu cho đến lúc kết thúc, dung hòa
yêu sách của các bên tranh chấp, có thể đưa ra các kiến nghị hoặc đề nghị các bên thay một
phần yêu cầu của mình nhằm đạt được sự thỏa thuận, tuy nhiên những kiến nghị này cũng
không có tính chất bắt buộc đối với các bên.
Việc hòa giải được coi là kết thúc trong 3 trường hợp sau:
− Vụ tranh chấp đã kết thúc khi đạt được sự thỏa thuận giữa các bên.
− Các bên tranh chấp chấp nhận các kết luận, kiến nghị của bên hòa giải
− Các bên tranh chấp bác bỏ những kết luận, kiến nghị của bên hòa giải.
Ưu điểm của hình thức này là do các bên nỗ lực hòa giải thông qua việc chọn bên thứ
ba hoà giải nên tỉ lệ thành công cao hơn so với biện phán đàm phán và biện pháp thông qua
trung gian.
Bên cạnh đó, biện pháp này tồn tại những nhược điểm là số lượng tranh chấp giải
quyết bằng phương pháp này còn hạn chế, khi hòa giải kết thúc thì chưa chắc tranh chấp
được giải quyết; có sự can thiệp quá sâu của bên thứ ba nên không đảm bảo được lợi ích một
cách tuyệt đối và không đảm bảo được bí mật, dễ mất uy tín trên trường quốc tế. Ngoài ra,
23

khi có sự can thiệp của bên thứ ba thì các bên trong tranh chấp không được tự chủ về thời
gian, địa điểm mà còn phải tốn thêm chi phí hòa giải.
 P/Q;R'!S.
Theo biện pháp này, các quốc gia là thành viên của tổ chức quốc tế Liên Chính phủ
khi có tranh chấp phát sinh sẽ tuân thủ theo quy trình giải quyết tranh chấp của tổ chức quốc
tế Liên Chính phủ được quy định trong các Điều ước quốc tế mà các chủ thể trong tranh
chấp đã ký kết.
Biện pháp giải quyết tranh chấp này có tỷ lệ thành công cao vì các bên tranh chấp sẽ
nỗ lực thực hiện giải quyết tranh chấp do những ràng buộc pháp lý với cùng một tổ chức

Ủy ban hòa giải được thành lập khi có yêu cầu của một bên tranh chấp hoặc cả hai
bên, số lượng thành viên thường là số lẻ, có cả công dân của các bên có tranh chấp và bên
thứ 3, với tư cách là cá nhân, thông qua kế luận hoặc khuyến nghị với đa số phiếu. Uỷ ban
hoà giải thường tập hợp những cá nhân, tổ chức có chuyên môn trong lĩnh vực mà các chủ
thể đang tranh chấp, Uỷ ban hoà giải sẽ tìm hiểu nguyên nhân của tranh chấp và đưa ra biện
pháp giải quyết. Báo cáo của bên hòa giải chỉ là những khuyến cáo để các bên dễ dàng đưa
đến kết luận giải quyết tranh chấp mà không có giá trị pháp lý ràng buộc.
Uỷ ban hoà giải thường có những chuyên gia làm việc một cách khách quan nên kết
quả hòa giải sẽ có lợi và thỏa mãn cho các bên dẫn đến tỉ lệ thành công cao.
Tuy nhiên, biện pháp này dễ dẫn đến vấn đề không giữ được bí mật, uy tín, ủy ban có
thể can thiệp quá sâu vào tranh chấp và các bên sẽ tốn một khoản chi phí rất lớn để trả cho
những chuyên gia hòa giải.
25

Trích đoạn Thẩm quyền và Nguyên tắc hoạt động Thủ tục tranh chấp và kết luận tư vấn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status