Luận văn ths luật sự lựa chọn mô hình bảo hiếm ở việt nam - Pdf 30


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT BÙI HẢI ĐƯỜNG
SỰ LỰA CHỌN MÔ HÌNH BẢO HIẾN
Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT


đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật -
Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có
thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ
Bùi Hải Đường

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC
MÔ HÌNH BẢO HIẾN TRÊN THẾ GIỚI 8
1.1. Khái niệm, vị trí vai trò của bảo hiến 8
1.1.1 Khái niệm bảo hiến 8
1.1.2. Vị trí, vai trò bảo hiến 11
1.2. Sự hình thành và phát triển của các mô hình bảo hiến điển hình
trên thế giới. 13
1.2.1. Mô hình hội đồng Hiến pháp ở Cộng hòa Pháp 13

3.3. Đánh giá sự phù hợp của các mô hình bảo hiến ở Việt Nam 66
3.4. Đề xuất mô hình hội đồng Hiến pháp ở Việt Nam 73
3.4.1. Mô hình hội đồng Hiến pháp ở Việt Nam 75
3.4.2. Cách thức tổ chức hội đồng Hiến pháp 78
3.4.3. Chức năng của hội đồng Hiến pháp 79
3.4.4.Trình tự, thủ tục hoạt động của hội đồng Hiến pháp 83
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

1

PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử pháp lý thế giới đã ghi nhận Hiến pháp xuất hiện nhằm mục
đích tạo sự cân bằng, kiểm soát quyền lực nhà nước, đặt ra một phạm vi
giới hạn mà nhà nước buộc phải tuân thủ để bảo vệ quyền công dân. Hiến
pháp đại diện cho nền dân chủ đối với mỗi quốc gia, thể hiện ý chí và
quyền lực nhân dân. Tuy nhiên, Hiến pháp ở nhiều quốc gia chưa được coi
trọng đúng giá trị. Khi Hiến pháp không được bảo vệ giá trị pháp lý tối cao,
không được ghi nhận là đạo luật nền tảng cho hệ thống pháp luật quốc gia
thì nhu cầu về cơ chế bảo vệ Hiến pháp xuất hiện. Cơ chế bảo vệ Hiến pháp
nhằm mục đích bảo vệ Hiến pháp đồng thời bảo vệ nền dân chủ, bảo vệ
quyền lực mà nhân dân đã trao cho nhà nước. Hiến pháp và cơ chế bảo hiến
trở thành công cụ thiết yếu để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân trong bất cứ một mô hình nhà nước dân chủ ở mọi giai đoạn của lịch sử
nhân loại.
Xây dựng mô hình bảo hiến nhằm bảo vệ giá trị pháp lý tối cao của
Hiến pháp là một trong những nội dung quan trọng để hướng tới xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Đường lối và
chính sách của nhà nước nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật đã chỉ rõ mục

cho việc thực hiện công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ đi lên chủ
nghĩa xã hội. Hiến pháp năm 2013 sẽ tiếp tục sứ mệnh lịch sử của mình:
Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh [3].
Hiện nay bối cảnh tình hình thế giới đã có nhiều biến chuyển sâu sắc;
trong khi đó ở Việt Nam quan điểm tôn trọng và tuân thủ tuyệt đối pháp
luật vẫn chưa tồn tại trên thực tế. Đối với hầu hết những công dân, người
được Hiến pháp trực tiếp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thì đều không
3

hiểu hết tầm quan trọng của Hiến pháp và nhu cầu cần hạn chế sự vi phạm
Hiến pháp.
Thực tế cho thấy, các hành vi bị nhận định vi hiến thường xuyên đến
từ phía cơ quan nhà nước, đơn cử trong lĩnh vực rõ ràng nhất là việc ban
hành các văn bản pháp luật. Hiến pháp 2013 không ghi nhận mô hình bảo
hiến chuyên trách khiến cho việc hạn chế, xử lý các hành vi hiến gặp nhiều
khó khăn. Thực trạng hiện nay, cần tìm ra mô hình bảo hiến chuyên trách
phù hợp cho Việt Nam nhằm đề xuất vào các bản Hiến pháp trong tương
lai. Theo Hiến pháp 2013, Việt Nam cũng đã có cơ chế bảo vệ Hiến pháp
thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan nhà nước, giữa
công dân với cơ quan nhà nước tuy nhiên cơ chế trên thực tế vừa không
đầy đủ, vừa yếu, lại không thống nhất, không đồng bộ, thiếu thủ tục trình tự
dẫn đến việc tuyên bố một quyết định vi hiến ở Việt Nam là một việc nằm
ngoài phạm vi thẩm quyền của cơ quan nhà nước. Trong bối cảnh hiện tại,
việc xây dựng một Hiến pháp tốt và xây dựng một cơ chế để bảo vệ Hiến
pháp hiệu quả là một nhu cầu chính đáng. "Lịch sử không ban tặng cho một
quốc gia nhiều cơ hội như thế và khi cơ hội đến, phải vượt qua các thách
thức vì tương lai của quốc gia bị đe dọa”[4]. Mô hình bảo hiến nào thực sự
cần thiết với Việt Nam, các quốc gia trên thế giới đã lựa chọn mô hình bảo
hiến thông qua những yếu tố như thế nào. Nghiên cứu nhằm đánh giá mô

Sách chuyên khảo Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khoa luật - Đại
học Quốc gia Hà Nội, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011.
Tài liệu tham khảo Kỷ yếu Hội thảo quốc tế về bảo hiến, Văn phòng
Quốc hội, nhà xuất bản Thời đại, năm 2009.
Một số đề tài nghiên cứu thạc sỹ, tiến sĩ liên quan về đề tài bảo vệ
Hiến pháp như:
5

Luận án tiến sĩ chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp
luật “Bảo hiến trong nhà nước pháp quyền” của tác giả Nguyễn Mậu Tuân,
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011.
Luận án tiến sĩ chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp
luật “Cơ chế bảo hiến trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” tác giả
Tào Thị Quyên, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh,
năm 2012.
Luận văn thạc sỹ chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp
luật: Cơ chế bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam của tác giả Bùi Thanh Cương,
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014.
Các công trình khoa học nghiên cứu tập trung vào những vấn đề lý
luận chung về bảo hiến, khái niệm, vai trò bảo hiến, cung cấp những nền
tảng cơ bản về mô hình bảo hiến trên thế giới, mô hình bảo hiến hiện tại ở
Việt Nam đồng thời chỉ rõ ra những kinh nghiệm Việt Nam có thể tham
khảo, cũng như lựa chọn cho mình một mô hình bảo hiến phù hợp với đặc
thù quốc gia. Những nghiên cứu đã thể hiện những ưu điểm, hạn chế của
mô hình bảo hiến Việt Nam hiện tại đồng thời đề xuất khắc phục hạn chế
nhằm hoàn thiện cơ chế bảo hiến từ đó tạo nền tảng cho việc xây dựng cơ
quan bảo hiến chuyên trách ở nước ta. Những nghiên cứu khoa học trên là
nguồn tham khảo, vận dụng và học hỏi quan trọng để đề tài luận văn có thể
thực hiện hoàn chỉnh. Bên cạnh đó, luận văn nghiên cứu những vấn đề liên
quan đến lịch sử bảo hiến ở nước ta, các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn mô

của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu: đề tài vận dụng phương pháp của chủ
nghĩa duy vật biện chứng; đồng thời sử dụng một số phương pháp là so
sánh luật học, so sánh chính trị học

7

5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một đề tài luận văn thạc sỹ, tôi xác định phạm
vi của đề tài tập trung nghiên cứu giải quyết những vấn đề pháp lý liên
quan đến việc hình thành mô hình bảo hiến chuyên trách ở Việt Nam;
những thuận lợi và khó khăn, thách thức trong việc xây dựng mô hình bảo
hiến, trên cơ sở đó đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm xây dựng
có hiệu quả mô hình bảo hiến.
6. Tính mới của nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu trên nền tảng nhu cầu về mô hình bảo hiến
chuyên trách ở Việt Nam, đưa ra những luận điểm khoa học về sự cần thiết
phải tồn tại nhu cầu bảo hiến. Đồng thời, nghiên cứu những đặc điểm tác
động đến mô hình bảo hiến của một quốc gia, gắn với thực tiễn Việt Nam.
Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra đề xuất mô hình bảo hiến chuyên trách phù
hợp với yêu cầu trong hoàn cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa ở nước ta. Tác giả mong muốn luận văn có thể được sử dụng làm tài
liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu.
7. Kết cấu của luận văn
Về kết cấu, Luận văn bao gồm Phần mở đầu, Phần Kết luận và ba chương:
Chương I: Cơ sở hình thành và phát triển của các mô hình bảo hiến
trên thế giới.
Chương II: Sự hình thành và phát triển của bảo hiến ở Việt Nam.
Chương III: Đề xuất mô hình bảo hiến ở Việt Nam.



Hiện nay, trên thế giới chưa có một định nghĩa thống nhất, chính xác
nào về bảo hiến. Các thuật ngữ được dùng trong mỗi hoàn cảnh khác nhau
tùy thuộc vào hoàn cảnh quốc gia, điều kiện chính trị của quốc gia. Bảo
hiến hay cách gọi thông thường khác gọi là bảo vệ Hiến pháp hay tài phán
Hiến pháp có thể hiểu là cách thức đánh giá tính hợp hiến của các văn bản
pháp luật, các hành vi pháp lý của các cơ quan quyền lực nhà nước được
thực hiện bởi một cơ quan hiến định.
Theo nghĩa hẹp, bảo hiến được giải thích là bảo vệ tính hợp hiến của
các đạo luật, mục đích nhằm tìm ra sự phù hợp giữa Hiến pháp, đạo luật
gốc với những văn bản mang tính pháp lý khác, sự phù hợp ở đây không
mang tính khuyến cáo mà là sự chính xác. Mỗi văn bản có tính pháp lý
được ban hành ở bất kỳ cơ quan nào đều cần có sự tuân thủ tuyệt đối Hiến pháp.
Ở một góc độ theo nghĩa rộng hơn, bảo hiến là bảo vệ tinh thần và
nội dung của Hiến pháp. Tinh thần trong bản Hiến pháp mà các nhà lập
hiến đã truyền tải vảo bản Hiến pháp, bảo vệ mối liên hệ giữa hành pháp, tư
pháp và lập pháp, kiểm soát tính hợp hiến của các hành vi thực hiện bởi
thiết chế nhà nước được quy định trong Hiến pháp. Cơ chế bảo vệ Hiến
pháp chỉ cách thức tổ chức thực hiện bảo vệ Hiến pháp của một quốc gia
được thể hiện thông qua mô hình bảo hiến mà quốc gia đó lựa chọn. Cơ chế
bảo vệ Hiến pháp ở mỗi quốc gia thường không giống nhau nhưng vẫn có
điểm chung nhất định.
Nền móng của bảo hiến được cho là có thể xuất hiện vào thời Hy
Lạp cổ đại. Những hình thức sơ khai của mô hình bảo hiến xuất hiện ngày
càng nhiều ở châu Âu trung đại, các quốc gia bắt đầu có những điều luật
liên quan đến mô hình bảo hiến. Tuy không thành chế định bảo hiến cụ thể
nhưng lại có giá trị tham khảo rất lớn như: Đức, Pháp, Bồ Đầu Nha, Na Uy,
Đan Mạch, Hy Lạp, Áo, Rumani. Vương quốc Anh cũng có những đóng
góp nhất định vào sự phát triển của cơ chế bảo hiến. Anh quốc được coi là
10

11

Áo áp dụng công trình của hai nhà khoa học Hans Kelsen và Adolf Merkl
sáng tạo ra mô hình bảo hiến tập trung. Mô hình này đã mở đường cho
hàng loạt các Tòa án Hiến pháp ở Châu Âu. Hiến pháp năm 1920 ở Áo xác
nhận nền tảng của Tòa án Hiến pháp. Mô hình Tòa án Hiến pháp chịu trách
nhiệm cơ bản bảo hiến như là một nhiệm vụ độc lập đã được xác nhận ở
Áo và phổ biến ra nhiều quốc gia khác nhất là ở châu Âu, trở thành một
trong những mô hình cơ bản về cơ chế bảo hiến trên thế giới.
Sau giai đoạn này, rất nhiều các quốc gia ở khắp các khu vực trên
thế giới thành lập cơ quan bảo vệ Hiến pháp theo những mô hình khác
nhau như Nhật Bản, Thái Lan, Ấn Độ, Myanma, Italia [5]… Ngoài tòa án
(tòa án thường và tòa án Hiến pháp) như ở Mỹ và Áo, ở một số nước, pháp
luật còn giao quyền bảo hiến cho một số cơ quan khác với những tên gọi,
ví dụ như hội đồng Hiến pháp, các tòa đặc biệt thuộc Toà án tối cao, hoặc
cho bản thân Nghị viện. Mô hình hội đồng Hiến pháp của Pháp năm 1958
và mô hình bảo hiến Quốc hội - nghị viện của Liên Xô đã mở ra thêm
nhiều sự lựa chọn phù hợp hơn hoàn cảnh của mỗi quốc gia.
Các mô hình bảo hiến trên thế giới hiện nay đã được phát triển
nhanh chóng, được đa số các quốc gia trên thế giới ghi nhận là một trong
những chế định bắt buộc tồn tại trong hệ thống pháp luật quốc gia, được
quy định trong văn bản có giá trị pháp lý cao nhất của quốc gia đó ở dạng
thành văn hoặc bất thành văn. Tính đến nay theo những số liệu không
chính thức đã có ít nhất hơn 80% các quốc gia trên thế giới quy định về
vấn đề bảo vệ Hiến pháp dưới những hình thức khác nhau.
1.1.2. Vị trí, vai trò bảo hiến
Bảo hiến đóng góp rất lớn cho sự hoàn thiện của pháp luật, nền dân
chủ quốc gia cũng như sự phát triển của quốc gia. Mô hình bảo hiến ở mỗi
quốc gia tùy thuộc vào hoàn cảnh nên có những đặc điểm riêng biệt nhưng
12

hiến bảo vệ quyền và lợi ích của mình trước những văn bản vi hiến, hành vi
vi hiến của cơ quan quyền lực nhà nước hay của những cá nhân thẩm quyền.
Bảo hiến là điều kiện tiên quyết để có thể đưa Hiến pháp vào thực
tiễn cuộc sống, bảo đảm giá trị pháp lý của các quy phạm pháp luật, tạo
nên sự thống nhất trong toàn bộ quá trình xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống
pháp luật, khiến cho pháp luật có thể đi sâu vào thực tiễn. Bảo hiến xây
dựng một cơ chế cụ thể không chỉ bảo vệ tính pháp lý của Hiến pháp đồng
thời xây dựng cơ chế để công dân yêu cầu nhà nước xem xét tính hợp hiến
của một điều luật, một đạo luật hay một hành vi bất kỳ vi hiến xảy ra. Đối
tượng bảo vệ Hiến pháp ở hướng tới là những hành vi vi hiến và cả những
văn bản vi hiến.
1.2. Sự hình thành và phát triển của các mô hình bảo hiến điển
hình trên thế giới.
Mô hình bảo hiến trên thế giới có thể phân chia thành các kiểu mô
hình khác nhau. Nếu phân chia theo cách thức giám sát thì có mô hình giám
sát Hiến pháp tập trung và mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung. Cách
thức phân chia theo trình tự, thủ tục, thẩm quyền cơ quan bảo hiến thông
thường là cách phân chia được sử dụng nhiều nhất thì trên thế giới có bốn
mô hình bảo hiến điển hình được áp dụng như sau:
- Mô hình bảo hiến bằng tòa án Hiến pháp (điển hình tại Áo, Đức).
- Mô hình bảo hiến bằng tòa án tư pháp (điển hình tại Hoa Kỳ).
- Mô hình bảo hiến bằng hội đồng Hiến pháp (điển hình tại Pháp).
- Mô hình bảo hiến khác.
1.2.1. Mô hình hội đồng Hiến pháp ở Cộng hòa Pháp
Bối cảnh hình thành của mô hình: Cộng hòa Pháp là một quốc gia
có nền pháp luật dân chủ hàng đầu trên thế giới, mô hình tài phán Hiến
pháp cũng là một trong ba mô hình đặc thù được nhiều quốc gia lựa chọn
áp dụng.
14



định Hiến pháp không có giá trị thực tế để kiểm soát những đạo luật dễ gây
lên tình trạng vi hiến - vi phạm nghiêm trọng quyền về con người, gây lên
những ảnh hưởng xấu cho xã hội. Đến năm 1958, những mâu thuẫn bắt đầu
bùng nổ, xã hội Pháp trở nên vô cùng phức tạp, Pháp kiều ở Algieri liên lục
nổi dậy chống lại chính phủ Pháp. Chính phủ Pháp được sự ủng hộ của
nghị viện cũng không thể ổn định được tình hình xã hội. Giữa năm 1958,
chính phủ Pháp tuyên bố từ chức, nghị viện Pháp tìm mọi cách để thành lập
ra chính phủ mới nhưng đều không thành công. Bất ổn chính trị ở nước
Pháp kéo dài suốt từ sau chiến tranh thế giới thứ II đến thời điểm này khiến
cho lòng tin của nhân dân vào nghị viện và các Đảng phái chính trị hoàn
toàn không còn. Đứng trước hoàn cảnh khó khăn, nghị viện Pháp đã phải
thay đổi thể chế, hoàn thiện lại chế độ chính trị nhằm tìm ra lối thoát cho sự
khủng hoảng. Tháng 9 năm 1958, tướng Đờ Gôn được mời làm thủ tướng
cho một chính phủ mới, sự xuất hiện của anh hùng quốc gia với uy tín rất
cao đã khiến cho sự ủng hộ của nhân dân tăng cao cho chính phủ Pháp.
Hiến pháp năm 1958 [6] do tướng Đờ Gôn khởi xướng được thông qua đã
mở ra một thời kỳ mới cho cộng hòa Pháp đồng thời đầu cho một trong
những mô hình bảo hiến tiêu biểu trên thế giới được hình thành. Bản Hiến
pháp đã thiết lập nên một nền cộng hòa mới gắn liền với tướng Đờ gôn,
Hiến pháp 1958 ra đời đã tiến hành giải quyết hai vấn đề chủ chốt mà suốt
thời gian dài trước sức ép của nghị viện mà không thể tiến hành được
Thứ nhất, Hiến pháp 1958 đã tăng quyền hạn cho tổng thống, hạn
chế được sự tham gia của nghị viện vào mọi hoạt động của chính phủ.
Thứ hai, Hiến pháp 1958 đã quy định thành lập thành công hội đồng
Hiến pháp đúng nghĩa để có thể xem xét hoạt động lập pháp, vốn là hoạt
động quan trọng nhất của nghị viện. Nghị viện có rất nhiều quyền hạn vào
thời gian trước đã bị hạn chế thông qua bản Hiến pháp 1958 mang đậm
chất tổng thống Đờ gôn. Tại sao nước Pháp tại thời điểm đó lại lựa chọn
16


thống tòa án của cộng hòa Pháp không đủ khả năng để đảm nhận nhiệm vụ
bảo hiến khi gần như bị phụ thuộc hoàn toàn và nghị viện, tính độc lập của
tư pháp không tồn tại. Đồng thời, với truyền thống pháp lý lâu dài, nước
Pháp đã không cho phép mình rập khuôn mô hình nào khác mà lựa chọn
con đường khó khăn hơn rất nhiều là tự xây dựng cho mình mô hình bảo
hiến đặc thù, riêng biệt và phù hợp với hoàn cảnh quốc gia.
Đặc điểm của mô hình hội đồng Hiến pháp:
Mô hình hội đồng Hiến pháp mang tính đặc thù so với những mô
hình khác trên thế giới.
Thứ nhất, mô hình không chỉ mang bản chất đúng của tài phán Hiến
pháp, mà còn mang đậm yếu tố tổ chức chính trị ở trong đó. Mô hình hội
đồng Hiến pháp vận hành hoạt động theo một cơ chế đặc biệt không công
khai quy trình bảo hiến. Thành viên mô hình cũng không phải toàn bộ là
những nhà nghiên cứu pháp luật mà còn bao gồm những nhân vật được quy
định trong đó có cả những tổng thống đã hết nhiệm kỳ. Hội đồng Hiến pháp
thời gian đầu xây dựng chỉ có nhiệm vụ kiểm tra dự án luật chưa được
thông qua bởi nghị viện. Tuy nhiên, sau một thời gian dài nhận thấy việc
chỉ kiểm tra dự án đã làm mất đi tính thực tế của Hiến pháp. Nhiều vấn đề
pháp luật khi áp dụng và thực tiễn mới có thể phát hiện được sự vi hiến tồn
tại trong quy phạm pháp luật, đến khi sửa đổi Hiến pháp đã quy định đầy
đủ quyền hạn của hội đồng Hiến pháp trong việc thẩm tra những dự án luật
và cả những văn bản pháp luật đã được thông qua bởi nghị viện. Hội đồng
Hiến pháp sau khi thẩm tra được tuyên bố văn bản hay hành vi là vi hiến,
có thể hủy bỏ hoặc sửa đổi những văn bản hay hành vi pháp luật có sự vi
hiến. Khi mới đầu xây dựng, các nhà lập pháp đã không nhất quán ý tưởng,
cho rằng nhiều khả năng những quy định về hội đồng Hiến pháp mang tính
hình thức. Tuy nhiên, khi vận hành mô hình đã hoạt động mang lại sự hiệu
quả, trở thành mô hình tiêu biểu trong các mô hình bảo hiến.
18

có các quốc gia áp dụng mô hình hội đồng Hiến pháp bao gồm: Pháp,
Tuynidi, Eetiopia, Senegal, Bờ Biển Ngà, Iran, Campuchia, Li băng…
1.2.2. Mô hình bảo hiến bằng tòa án ở Hoa Kỳ
Mô hình bảo hiến Hoa Kỳ là mô hình bảo hiến được áp dụng phổ
biến, hiệu quả trên toàn thế giới. Mô hình bảo hiến bằng tòa án tư pháp
được đánh giá đã thể hiện được toàn bộ giá trị cần có của cơ chế bảo vệ
Hiến pháp hiệu quả.
Bối cảnh hình thành của mô hình: Hoàn cảnh ra đời của mô hình
bảo hiến kiểu Hoa Kỳ cũng mang đúng bản chất sử dụng án lệ là nguồn
luật của hệ thống pháp luật khi mô hình được xây dựng từ vụ án cụ thể.
Đầu thế kỷ 19, trong cuộc bầu cử tổng thống John Adams và đảng
Federalist của ông thất cử, Thomas Jefferson người của đảng Dân chủ và
Cộng hòa Hoa Kỳ trúng cử Tổng thống. Trước khi rời khỏi ghế tổng thống,
nhằm đảm bảo cho sự quyền lợi của mình sau khi rời vị trí, John Adams đã
bổ nhiệm hàng loạt thành viên của đảng Federalist vào chức vụ thẩm phán
và thẩm phán hòa giải. Khi Jefferson lên làm tổng thống, các quyết định
của John Adams đã được ký và đóng dấu nhưng lại chưa được chuyển đi
hết. Jefferson chỉ đạo cho James Madison, lúc đó là bộ trưởng bộ Ngoại
giao không chuyển quyết định mà Adams đã ký cho những người có tên để
họ không thể nhận chức vụ Thẩm phán.Trong số những người không nhận
được quyết định đó có William Marbury. Khi không nhận được quyết định,
William Marbury đã khởi kiện James Madison yêu cầu giải thích lý do tại
sao các quyết định lại không được chuyển cho mình; đồng thời Marbury
yêu cầu tòa án tối cao quyết định buộc trao quyết định để những người có
liên quan thực thi nhiệm vụ của mình. Chánh án lúc đó là John Marshall
lúc đó, vì những tình huống chính trị, đã rất khó khăn khi giải quyết vụ
việc này. John Marshall đã đưa ra phán quyết cho vụ việc này:

20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status