BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Trần Thị Thắm TRUYỆN NGẮN THẠCH LAM – TRUYỆN NGẮN
PAUXTỐPXKI: SỰ GẶP GỠ CỦA PHONG CÁCH
NGHỆ THUẬT
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Trần Thị Thắm
DẪN NHẬP
1. Lí do chọn đề tài
Quá trình toàn cầu hóa diễn ra từ cuối thế kỉ XX, đồng đều ở mọi lĩnh vực, hầu như đã
xóa bỏ sự ngăn cách giữa các nước, làm cho các dân tộc trên thế giới xích lại gần nhau
hơn. Trong bối cảnh ấy, văn học so sánh ra đời nhằm khám phá mối liên hệ văn học giữa
các quốc gia, bổ sung quan trọng cho hướng nghiên cứu văn học dân tộc biệt lập từ
trước
đến nay.
Quả thật, ngôn ngữ và văn hóa của các dân tộc trên thế giới là khác nhau, nhưng tư
duy, tình cảm, tâm lí, thẩm mĩ lại có nhiều điểm tương đồng. Nghiên cứu văn học Việt
Nam trong mối tương quan với văn học thế giới giúp chúng ta ý thức về vị thế, thân phận,
tư cách của văn học dân tộc mình trong cộng đồng nhân loại. Đó còn là con đường khám
phá bả
n sắc dân tộc.
Một điều không thể phủ nhận là mặc dù cách xa nhau hơn “nửa vòng trái đất” nhưng
Việt – Nga có quan hệ “thâm tình”, gắn bó. Văn hóa của hai nước phương Đông –
phương Tây này có nhiều điểm tương đồng. Hơn nữa, cả hai dân tộc đều có số phận lịch
sử thật lắm thăng trầm: từng chịu nhiều khổ đau, mất mát, từng trải qua nhi
ều cuộc chiến
tranh để bảo vệ độc lập chủ quyền và cũng từng lập nên nhiều chiến thắng vẻ vang, ghi
dấu son chói lọi trong trang sử hào hùng của mỗi dân tộc. Vì thế mà mặc dù đến Việt
Nam muộn hơn văn học Trung Quốc và văn học Pháp, song văn học Nga vừa gặp đã trở
nên gắn bó, thân quen.
Trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam hiện
đại, Thạch Lam đóng góp ở
nhiều thể loại. Mặc dù ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, với một số lượng tác phẩm chưa đạt
đến mức “đồ sộ”, nhưng nhà văn đã sớm xác lập cho mình vị trí của một cây bút văn xuôi
truyện ngắn xuất sắc bậc nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại. Từ th
ập niên 50, qua các
bản dịch của Vũ Minh Thiều, Bửu Kế, Cẩm Tâm, Kim Ân, Mộng Quỳnh, Phan Hồng
Giang…, bạn đọc Việt Nam biết đến Pauxtốpxki như một tài năng đoản thiên tự sự, làm
không ít người bất giác liên tưởng đến Thạch Lam.
Một thực tế rằng ở Việt Nam, từ trước 1945 đến nay, các công trình, bài nghiên cứu về
Thạch Lam khá đồ sộ. Khoảng mười năm trở l
ại đây, có nhiều công trình có quy mô, tầm cỡ
nghiên cứu về đặc trưng truyện ngắn của Thạch Lam. Truyện ngắn của ông đã được khám
phá từ mọi giác độ, mọi bình diện: tư tưởng, quan điểm của tác giả, nội dung phản ánh, nghệ
thuật thể hiện, phong cách văn xuôi nghệ thuật… Số lượng công trình, bài viết về
Pauxtốpxki, so với Thạch Lam, “mỏng” hơn nhiều. Nhữ
ng vấn đề liên quan đến đặc trưng
phong cách nghệ thuật Pauxtôpxki không phải là quá mới mẻ, ở những bài giới thiệu khái
quát, hầu hết các dịch giả trên đều đề cập đến. Riêng việc nghiên cứu truyện ngắn Thạch
1
Thơ Bằng Việt
Lam trong thế đối sánh với truyện ngắn Pauxtốpxki thì vẫn còn bỏ ngỏ. Chúng tôi xem vấn
đề này là một mảnh đất trống đầy hấp lực và thách thức trong việc tìm hiểu, khám phá nó.
Vì tránh sự trùng lặp không cần thiết với công việc nhiều nhà nghiên cứu đã làm, ở
đây chúng tôi xin phép không bàn đến những công trình nghiên cứu về truyện ngắn ở mỗi tác
giả (Thạch Lam hoặc Pauxtốpxki) mà chỉ quan tâm đến các tài liệu trực tiế
p đề cập đến đề
tài.
Phan Hồng Giang, một trong những dịch giả có đóng góp rất lớn với việc đưa tác
phẩm của Pauxtốpxki đến với người đọc Việt Nam, trong bản dịch của tập tiểu luận Một
mình với mùa thu, đã có những nhận xét rất xác đáng về Pauxtốpxki: “Có thể coi là một tấm
gương cùng soi chung của tâm hồn hai dân tộc Nga – Việ
t. Ông đã là biểu hiện cụ thể cho
tập “Bông hồng vàng” và “Bình minh mưa”. Giữa các ấn phẩm của Thạch Lam và
Pauxtốpxki, chúng tôi tin tưởng chọn hai cuốn: Thạch Lam – 33 truyện ngắn, Nxb. Văn học,
2009 và cuốn Pauxtốpxki , Bông hồng vàng và Bình minh mưa (dịch giả Kim Ân và Mộng
Quỳnh dịch), Nxb Văn học, 2003 làm tư liệu khảo sát chính.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Bằng kết quả khảo sát, phân tích, người viết mong chỉ ra những
nét đặc sắc trong phong cách truyện ngắn ở hai tác giả, đặc biệt nhấn mạnh những chỗ tương
đồng và dị biệt, phần nào chỉ ra nguyên nhân và lí giải chúng. Luận văn cũng đặt ra một
hướng đi mới mẻ trong việc tiếp cận truyện ngắn Thạch Lam và truyện ngắn Pauxtốpxki
cũng nh
ư cung cấp một số kiến thức bổ ích về văn hóa của nước ta và nước bạn.
Ý nghĩa thực tiễn: Thêm một tiếng nói khiêm nhường đưa truyện ngắn của hai nhà
văn đến gần hơn với độc giả, góp phần vào việc tìm hiểu cũng như giảng dạy truyện ngắn
Thạch Lam và truyện ngắn Pauxtốpxki trong trường phổ thông và đại học.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng tổng hợp các phương pháp sau:
– Phương pháp so sánh: đặt truyện ngắn của Thạch Lam và Pauxtốpxki trong cái
nhìn tương quan để tìm ra những nét tương đồng, dị biệt. Vì không tìm thấy mối quan hệ trực
tiếp giữa hai tác giả, chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp so sánh loại hình, lí giải các
tương đồng, dị biệt từ các hiểu biết về tiểu sử nhà văn c
ũng như đặc điểm xã hội, môi trường
văn hóa mà nhà văn sống. Bên cạnh đó, chúng tôi đặt hai tác giả này trong mối quan hệ với
một số nhà văn xuất hiện cùng thời hoặc trước và sau họ để thấy nét độc đáo trên cái nền
chung của thời đại cũng như trong tiến trình lịch sử văn học.
– Phương pháp thống kê, phân loại: dùng để thống kê các câu văn, các chi tiế
t nghệ
thuật, biện pháp tu từ thể hiện rõ đặc trưng thẩm mĩ trong truyện ngắn Thạch Lam và
Pauxtốpxki, sau đó hệ thống hóa, đặt chúng vào các nội dung chung phục vụ cho mục đích
nghiên cứu.
Chương 1:
THẠCH LAM – PAUXTỐPXKI: CON NGƯỜI VÀ QUAN NIỆM NGHỆ
THUẬT
1.1. Thạch Lam – Pauxtốpxki: Con người
Thạch Lam (1910 – 1942) tên thật là Nguyễn Tường Vinh, sau đổi là Nguyễn Tường
Lân. Ông sinh ra tại Hà Nội, trong một gia đình công chức quê gốc ở Quảng Nam. Còn
Kônxtantin Pauxtôpxki (1892 – 1968) sinh ra tại Mátxcơva, trong một gia đình gốc Côdắc
miền Dapôrôgiê. Giữa hai nhà văn thuộc hai quốc gia, hai nền văn hóa khác nhau lại có
những điểm gặp gỡ tình cờ trên những chặng đường đời.
1.1.1. Hoài niệm tuổi thơ
Cả Thạch Lam và Pauxtốpxki cùng sinh tr
ưởng trong gia đình yêu thích văn chương
nghệ thuật. Cả hai trải qua những năm tháng tuổi thơ khá êm đềm bên những người thân yêu
trong gia đình, nơi đã vun trồng nên nhân cách và tài năng cho họ. Thủa nhỏ, cậu bé Nguyễn
Tường Vinh (tên thật của Thạch Lam), chịu ảnh hưởng tích cực từ hai người anh trai học
giỏi, ngoan ngoãn (sau này là hai nhà văn nổi tiếng Nhất Linh, Hoàng Đạo). Khi lên bảy,
Tường Vinh mất cha nên cậu bé lớn lên h
ầu như trong sự yêu thương, chăm lo của bà nội và
mẹ. Hình ảnh người bà hiền từ, rất mực yêu thương con cháu và người mẹ đảm đang, tháo
vát với nghề buôn gạo nuôi con đã chạm khắc vào trái tim nhà văn từ tấm bé. Còn
Pauxtốpxki lại chịu ảnh hưởng nhiều từ người cha lãng mạn và vui tính, vốn là một người
thích “xê dịch” và giàu mơ ước. Cụ không bao giờ ngồi yên một chỗ. Sau khi làm việ
c ở
Matxcơva, cụ xin đổi đi Vinnô, rồi Pơxcốp và cuối cùng mới định cư tương đối lâu dài ở
Kiép. Nhà cậu bé Kôchia đông người, đủ mọi tính nết khác nhau nhưng đều là những người
yêu nghệ thuật. Cậu lớn lên trong những tiếng hát, những bản dương cầm, các cuộc tranh
luận về âm nhạc, hội họa, văn chương.
Cả hai nhà văn đều thông minh, nhạy c
ngoài được một phen thót tim. Còn cậu bé Kôchia vốn là một đứa trẻ ưa khám phá. Cậu say
mê bản đồ địa lí đến mức có thể ngồi hàng tiếng đồng hồ liền với chúng. Chính Pauxtốpxki
từng bộc bạch:“Tôi nghiên cứu dòng chảy của những con sông chưa bao giờ biết tới, những
bờ biển kì cục, đi sâu vào rừng Taiga, nơi nh
ững trạm không tên tuổi chuyên mua da, lông
thú của những người đi săn được đánh dấu bằng những vòng tròn tí xíu, hoặc nhắc đi nhắc
lại những tên đất kêu như những vần thơ: Quả cầu Iugor, quần đảo Ebriđơ, Guađagama và
Invécnetxơ, Onhêga và Koócđie. Dần dần tất cả những vùng đất đó sống dậy trong trí tưởng
tượng của tôi rõ rệt đến nỗi tôi tưởng có thể
viết nổi những cuốn nhật kí hành trình bịa đặt
qua các lục địa và các xứ sở khác nhau.” [65, tr. 81].
1.1.2. Biến động cuộc đời
Cả Thạch Lam và Pauxtốpxki đều là chứng nhân của một thời đại bão táp gắn với
những sự kiện trọng đại của lịch sử, bao đổi thay lớn lao của dân tộc. Mà ta biết, mọi ba
động của đời tất thảy đều vang lên khác lạ trong tâm hồn nhạy cảm của người trí thức, nhất
là những trí thức nghệ sĩ như họ.
Thạch Lam sinh ra và lớn lên trong tình cả
nh “sự đã rồi” của đất nước. Sau khi tạm
“bình định” Việt Nam về mặt quân sự, từ đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp tiến hành khai thác
thuộc địa theo phương thức tư bản chủ nghĩa. Xã hội Việt Nam mặc nhiên phải chấp nhận
bao sự đổi thay, mà đổi thay lớn nhất là cuộc sống “buổi giao thời” dưới chế độ thực dân
thuộc địa. Bao làng quê yên ả, thanh bình v
ới cốt cách “dĩ nông vi dân” nay bỗng chốc “làng
xoay ra phố”, dung nạp thêm lối sống thị thành. Tư tưởng, văn hóa phương Tây hiện đại
ngày càng có ảnh hưởng sâu sắc đến mọi tầng lớp xã hội, đặc biệt là giới trí thức. Được đào
tạo bài bản như một trí thức Tây học, nhưng trước sau Thạch Lam vẫn là “một người Việt
Nam sâu xa, một người Việt Nam thành thực” [3, tr. 357]. Còn Pauxtố
pxki đến với cuộc đời
giữa lúc xã hội Nga đang trong bầu không khí sục sôi của đêm trước Cách mạng tháng Mười.
sống ở phố Hàng Bún, phố cầu Gỗ, rồi lần lượ
t chuyển đến Giám, Đỗ Hữu Vị, Hàng Bè,
Quán Thánh… Ông cũng có vài năm theo Hoàng Đạo vào sống ở Sài Gòn. Thế nhưng ông
sống và sáng tác chủ yếu ở một lớp nhà gỗ nhỏ ven Hồ Tây, có cây liễu rủ bóng thướt tha
ngoài cửa sổ và khóm tre xanh mát đầu nhà, mộc mạc như ở chốn quê. Còn dấu chân
Pauxtốpxki đã in khắp mọi miền Tổ quốc Nga, từ bán đảo Cônxki đến những sa mạc miền
Trung Á, từ các thành phố
băng tuyết miền cực Bắc đến bờ biển ấm áp vùng Krưm và những
khu rừng Taiga rậm rạp của Xibêri... Ông đã nghe giọng nói âm vang và du dương của người
Ôđétxa, ngỡ ngàng với những đêm trắng ở Karêli, uống nước của những hồ trong đầm lầy
đen kịt ở vùng Mêsora, rảo chân lang thang trên những nẻo đường vùng Mikhailốp… Giữa
những năm 50 của thế kỷ XX, Pauxtố
pxki đã mở rộng biên độ xê dịch ra nước ngoài như đến
thăm Tiệp Khắc, Ba Lan, Bungari, đi du lịch vòng quanh Châu Âu.
1.1.3. Sáng tạo nghệ thuật
Thạch Lam và Pauxtốpxki là hai nhà văn đồng đại. Cùng được nuôi dưỡng với nguồn
sữa nghệ thuật từ gia đình và mạch nguồn văn hóa dân tộc, các ông đã đến với văn chương
như quy luật tất yếu của tình yêu và đam mê. Năm 21 tu
ổi, sau khi đỗ tú tài I, Thạch Lam
thôi học, bắt đầu làm báo, viết truyện ngắn, luận thuyết văn học, thời đàm. Khi Nhất Linh
sáng lập nhóm “Tự lực văn đoàn”, một tổ chức văn học nổi tiếng thời bấy giờ, Thạch Lam
nhanh chóng trở thành một cây bút chủ chốt của báo Phong hóa, rồi Ngày nay (cơ quan ngôn
luận của nhóm). Tuy cầm bút sáng tác theo tuyên ngôn của “Tự lực văn đ
oàn”, ông vẫn lặng
lẽ kiếm tìm cho mình một lối đi riêng. Kết quả là sách của ông bán ế nhất bởi nó luôn đi bên
lề của “mốt thời thượng”. Tuy vậy, thời gian – thước đo công bằng, khách quan nhất – đã trả
lại cho văn chương ông giá trị đích thực vốn có. Ngày nay, những truyện ngắn của Thạch
1
còn có hai cuốn truyện viết cho thiếu nhi là Quyển sách, Hạt ngọc (1940), và một số truyện
dài còn đang ở d
ạng bản thảo như Thập niên đăng hỏa, Huyền… Đó là kết quả của một hành
trình miệt mài, cần mẫn chắt chiu cái đẹp bằng tất cả tấm lòng.
Cuộc hành trình chắt chiu từng mảy bụi vàng của Pauxtốpxki đã kết thành “trái ngọt
hoa thơm” – những tiểu thuyết, truyện dài, chân dung văn học, bút kí, tiểu luận, đặc biệt là
truyện ngắn. Ông để lại cho đờ
i một khối lượng tác phẩm đồ sộ: Những phác thảo biển khơi
(1925), Những đám mây lấp lánh (1929), Vịnh Kara – Bunga (1932), Số phận Sáclơ
Longxêvin (1933), Miền Cônkhiđa (1934), Hắc Hải (1936), Những ngày hè (1937), Ôrext
Kiprenxki (1937), Câu chuyện phương Bắc (1938), Miền rừng Mêsora (1939), Bông hồng
vàng (1955), Truyện cuộc đời (1967). Ở Việt Nam, những tác phẩm của Pauxtốpxki được
đông đảo bạn đọc biết đến qua các bản dịch: Bông hồng vàng (in 1961, tái bản 1982), tập
Truyện ngắn Pauxtốpxki (1962), Vịnh Mõm Đen (1978), Bình minh mưa (1982).
Những nét tương đồng giữa Thạch Lam và Pauxt
ốpxki ngoài đời là tiền đề cho cuộc
gặp gỡ thú vị trong nghệ thuật giữa họ mà chúng tôi sẽ trình bày trong phần tiếp theo của
luận văn.
1.2. Thạch Lam – Pauxtốpxki: Quan niệm nghệ thuật
Sáng tác văn học nghệ thuật thuộc lĩnh vực sản xuất tinh thần, theo phương thức “cá
thể”. Vì vậy, mỗi tác phẩm là một “chứng minh thư” tâm hồn của nhà văn, nó chịu sự chi
phối sâu sắc của quan niệm nghệ thuật của ông ta. Thuật ngữ quan niệm nghệ thuật có nội
hàm rộng, là “nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người vốn có của hình thức ngh
ệ thuật,
đảm bảo cho nó khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó” [25, tr.229]. Quan
niệm nghệ thuật của một nhà văn là một phương diện quan trọng góp phần định dạng phong
cách nghệ thuật của nhà văn ấy.
Ở Thạch Lam và Pauxtốpxki có sự gặp gỡ trong quan niệm nghệ thuật về tác phẩm
văn chương, về cái đẹp và vai trò của ngườ
chuyển tải hiện thực đó lên trang văn của mình với thái độ chia sẻ, cảm thương. Cái đói khổ,
túng quẫn của kẻ làm thuê; sự cay cực vì miếng ăn của người trí thức; việc mưu sinh khó
khăn của người lao
động nghèo… Tất cả hiện lên sống động, xác thực qua những truyện
ngắn như Nhà mẹ Lê, Cô hàng xén, Người bạn cũ, Đói, Người bạn trẻ… Không chỉ miêu tả
hiện thực đời sống con người, Thạch Lam còn đi sâu vào cái chân thật trong cảm xúc, tâm
trạng của họ. Đó là những tình cảm “phiền phức” nhưng hiện hữu ở con người: nỗi băn
khoăn khó hiểu khi lầ
n đầu làm cha (Đứa con đầu lòng); niềm hạnh phúc say sưa của cô gái
lần đầu biết đến men say tình yêu (Tình xưa); cảm giác ngỡ ngàng khi suýt nữa chạm tay vào
việc xấu (Sợi tóc), hay ân hận, dày vò vì đã trót làm điều ác (Một cơn giận)…
Cùng quan niệm với Thạch Lam, Pauxtốpxki cho rằng tác phẩm văn học nói chung,
truyện ngắn nói riêng cần phải có “sự thật và giản dị” [65, tr. 45]. Ông chia sẻ kinh nghiệ
m
viết truyện ngắn đầu tiên của mình: “Tôi vật lộn mãi với truyện ngắn này và không hiểu
được vì sao khi viết ra nó lại cứ khô héo và nhợt nhạt mặc dầu nội dung câu chuyện thật thê
thảm” [65, tr. 44]. Để có một truyện ngắn đích thực, tác giả đã viết lại “và ngạc nhiên vì
không sao đặt được vào trong truyện những từ cầu kì và đẹp” [65, tr. 45]. Pauxtốpxki nhấn
mạnh: “Tôi viết không phả
i vì tôi đã đặt ra cho mình nhiệm vụ ấy mà là vì tâm hồn, trái tim,
khối óc tôi đòi hỏi phải làm như vậy” [65, tr. 47]. Do vậy, ông đã mạnh dạn đưa “những cái
tưởng chừng như vặt vãnh” vào truyện ngắn của mình và chúng đã phát huy hết nội lực. Một
món quà, một cuộc gặp gỡ tình cờ, thoáng qua mà đầy dư âm dư vị… đã được diễn tả chân
thực, cảm động qua các truyệ
n ngắn Lẵng quả thông, Gió biển, Tuyết, Cây tường vi…
Mặt khác, cái đẹp được cảm thấy theo Thạch Lam và Pauxtốpxki là cái đẹp mới mẻ,
trong trẻo, thuần khiết như lần đầu được biết đến. Trong bài tiểu luận Chất thơ của văn xuôi,
Pauxtốpxki cho rằng người nghệ sĩ phát hiện ra cái đẹp ấy nhờ “khả năng nhìn cuộc sống lúc
nào cũng như mới, như lần đầu được thấy, trong tất cả dáng vẻ tươi nguyên và đầy ý nghĩa”
[64, tr. 10]. Trong truyện ngắn Thạch Lam, vẻ đẹp thanh tân, tràn đầy sức sống của các thiếu
trong một vũng nước đêm – tất cả những cái đó đều là những hạt rất nhỏ của bụi vàng” [65,
tr. 20]. Đó chính là cái đẹp khuất lấp, tiềm tàng trong đời sống hằng ngày.
Quan niệm trên của Thạch Lam và Pauxtốpxki đã mở ra nguồn “chất liệu” phong phú
và vô tận của tác phẩm vă
n chương. Quả thật, cái đẹp là một trong những hiện tượng thẩm
mĩ phong phú nhất và phạm vi bộc lộ rất rộng rãi. Có cái đẹp trong thiên nhiên, cái đẹp của
những sản phẩm do con người tạo ra, cái đẹp trong hoạt động của con người, cái đẹp của con
người và cái đẹp trong nghệ thuật. Những “mảy bụi vàng” ấy hiện diện quanh ta, kể cả
những nơi tưởng chừng khó tìm thấy nhất nhưng chúng vốn khuất lấp, ẩn chìm. Chúng đòi
hỏi người ngh
ệ sĩ phải có con mắt tinh tường, sự dấn thân để khám phá và tâm hồn tinh tế,
nhạy cảm để phát hiện, lĩnh hội. Thạch Lam và Pauxtốpxki đã đề cao việc phát hiện nhân tố
mới của cái đẹp, cái thẩm mĩ. Ngược lại, chúng cũng xác lập vị trí, yêu cầu đối với nghề văn
– một hình thái lao động đặc thù – là “phát hiện cái đẹp ở chỗ mà không ai ngờ tới, tìm cái
đẹp kín
đáo và che lấp của sự vật, cho người khác một bài học trông nhìn, thưởng thức”
(chúng tôi nhấn mạnh) [43, tr. 26], hay: “Nghề văn không phải là một nghề thủ công và cũng
không phải là một thứ công việc”, đó chính là “cái lao động tuyệt mĩ nhưng cay cực” [65, tr.
24]. Quan niệm về nghề văn của Thạch Lam và Pauxtốpxki gần gũi với quan niệm của Nam
Cao. Cây bút truyện ngắn xuất sắ
c bậc nhất của văn học hiện thực phê phán ở Việt Nam cho
rằng: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa
cho. Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những
nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có”.
1
Thạch Lam đã phát hiện cái đẹp trong cái nên thơ, bình dị, yên ả của những làng quê,
phố huyện nghèo ở Việt Nam (Hai đứa trẻ, Dưới bóng hoàng lan, Tình xưa, Nắng trong
vườn), còn Pauxtốpxki thiết tha với vẻ đơn sơ, trong lành mà đầy quyến rũ của các làng mạc,
tỉnh lị xa xôi trên đất Nga (Tuyết, Bình minh mưa, Cây tường vi, Bình nguyên tuyết phủ).
nhưng không ở đâu quy luật ấy lại bộc lộ rõ nét, không ở đâu việc tìm tòi và phát
hiện ra những nhân tố mới của cái đẹp lại chiếm một vị trí quan trọng đến như vậy trong
nghề văn. Những nhà văn tận tụy, tâm huyết với nghề sẽ biết cách chọn cho mình một đường
hướng phù hợp, tránh sa vào lối mòn và tạo ra “những đứa con tinh thần” xơ cứng, yể
u
mệnh. Và nghề văn sẽ dẫn dắt người nghệ sĩ đến với chân trời vô tận của cái đẹp nếu họ có
năng lực nhìn cuộc sống bằng cặp mắt “xanh non”.
1.2.3. Chắt chiu “bụi quý”, đúc “bông hồng vàng”
Sứ mệnh cao cả của nhà văn là nghệ thuật hóa cái đẹp mà mình đã khổ công chắt chiu,
gom góp trong đời sống thường nhật, biến chúng thành những “bông hồng vàng” (theo cách
nói hình tượ
ng của Pauxtốpxki). Một khi đã “tìm được hạt nhân tiêu biểu chứa đựng trong
từng điều vặt vãnh” [64, tr. 19], nhà văn làm đầy vốn sống của mình bằng sự cần mẫn chắt
chiu từng mảy “bụi vàng”. Với hoạt động sáng tạo nghệ thuật, chính họ đã làm cho cái đẹp
thăng hoa, bất tử. Bởi “nghệ thuật không phải là nơi độc quyền sản xuất ra cái
đẹp, nhưng
nó là hình thức chuyên nghiệp, chuyên môn hóa cao nhất, tập trung nhất, lãnh trách nhiệm
nặng nề nhất trong việc thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của xã hội” [48, tr. 155], nên vai trò, vị
trí và tư chất của người nghệ sĩ luôn được đưa lên hàng đầu.
Cả Thạch Lam và Pauxtốpxki đều nêu cao vai trò của nhà văn trong hành trình chiếm
lĩnh và sáng tạo cái đẹp. Dù Thạch Lam nêu ra trực tiếp: “Chúng ta không cần bắt chước ai
(mà công việc bắt chướ
c không phải là công việc sáng tác). Chúng ta cứ việc diễn tả tâm
hồn (An Nam) của chúng ta, những tư tưởng, những ý nghĩ mà chúng ta ấp ủ trong thâm
tâm” [43, tr. 318] hay Pauxtốpxki phát biểu gián tiếp bằng hình tượng: “Chúng ta, những
1
Chữ dùng của Mác, dẫn theo Lê Ngọc Trà [ 48, tr. 155]
nhà văn, chúng ta bòn đãi chúng (bụi vàng) trong hàng chục năm, hàng triệu những hạt cát
quan. Quan niệm trên của Thạch Lam và Pauxtốpxki có sự gặp gỡ với quan niệm L. Tônxtôi.
Đại văn hào Nga vĩ đại này từng cho rằng: “Khi ta đọc hoặc quan sát một tác phẩm nghệ
thuật của một tác giả mới, thì câu hỏi chủ yếu nảy ra trong lòng chúng ta bao giờ cũng là
như sau: nào, anh ta là con người thế nào đây nhỉ. Anh ta có gì khác với tất cả những người
mà tôi biết, và anh ta có thể nói cho tôi thêm một điều gì mới mẻ
về việc cần phải nhìn cuộc
sống chúng ta như thế nào” (dẫn theo Lê Ngọc Trà [48, tr. 204]).
Bên cạnh đó, hai nhà văn còn cho rằng sự sáng tạo trong nghệ thuật luôn song hành
với “tiếng gọi trái tim”. Bởi chỉ có dấn bước trên hành trình sáng tạo, trái tim người nghệ sĩ
mới đột khởi những tình cảm “phức tạp” trước những điều mới mẻ, kì lạ. Thạch Lam thường
lưu ý người cầm bút nên có thái độ quan tâm nhiều hơn đến những cảm giác và ý nghĩ của
mình. Còn Pauxtốpxki lí giải c
ụ thể “niềm xúc động” của nhà văn: “Lo âu và mừng vui – hai
tình cảm mạnh mẽ nhất ấy đã đi theo nhà văn trên suốt chặng đường” [64, tr. 54]. Nhà văn
lo âu “liệu có tìm ra được những từ ngữ rõ ràng, đầy sức thuyết phục để kể lại tất cả những
gì đã nhìn thấy, đã suy nghĩ, kể lại tất cả cho người dân, mà với nhà văn, thì anh luôn cảm
thấy nhân dân là b
ạn”, hay “cảm thấy niềm vui từ sự quan sát cuộc sống, từ những điều
nghiền ngẫm, từ tâm trạng căng thẳng và lặng lẽ đặc biệt bên trong vẫn thường thấy trước
khi cuốn sách ra đời” [64, tr. 55].
Với tư chất nghệ sĩ sẵn có, Thạch Lam và Pauxtốpxki đã mang đến cho người đọc cái
đẹp của sự sáng tạo từ quá trình lao động nghệ
thuật miệt mài, nghiêm túc. Với 32 năm
ngắn ngủi ở cõi đời, Thạch Lam đã khẳng định vị trí không thể thay thế của mình trong dòng
chảy của văn xuôi hiện đại Việt Nam, còn Pauxtốpxki cũng xác lập tên tuổi trên văn đàn bên
cạnh những trụ cột của dòng văn học Nga đương thời như M. Gorki, A. Tônxtôi, A. Fađêep,
M. Sôlôkhôp… Cuộc đời và hành trình nghệ thuật của hai nhà văn đã trở thành tấm g
ương
của người nghệ sĩ chân chính.
Cái đẹp của “sự thật và giản dị”, cái đẹp tiềm tàng khuất lấp, cái đẹp của sự sáng tạo
ọc, gồm trữ tình, tự sự,
kịch. Đây là quan niệm của Châu Âu, nguồn gốc từ Aristote, du nhập vào phương Đông
(Đông Á) và vào Việt Nam thời hiện đại, ngày nay trở thành “chuẩn” của lí thuyết văn học
thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng. Nhắc đến thuật ngữ này, người ta thường nghĩ ngay
đến một thể loại của “loại trữ tình” là thơ. Truyện ngắn trữ tình là thuật ng
ữ chỉ một thể loại
của “loại tự sự” (văn xuôi) có sự kết hợp hài hòa giữa tố chất “tự sự” và “trữ tình”. Theo
M.Khrapchencô, dấu ấn chủ quan và chất trữ tình đậm đặc là hai đặc điểm nổi bật của truyện
ngắn trữ tình. G.N.Pospelov chỉ ra bản chất của văn xuôi trữ tình (cũng là của truyện ngắn
trữ tình) là “tự sự m
ột cách trữ tình” [69, tr. 100]. Hoàng Ngọc Hiến cho rằng một trong
những đặc điểm quan trọng của truyện ngắn hiện đại là “gần với thơ” [30, tr. 113]. Phan
Quốc Lữ khẳng định sự ảnh hưởng của thơ với văn xuôi: “Tiến trình văn học hiện đại đã ghi
nhận sự thâm nhập của văn xuôi vào thơ ca và phá phách lãnh địa độc quyền của thơ ca.
Như
ng sự thâm nhập theo chiều ngược lại – tức là sự trộn hòa trở lại của thơ vào văn xuôi
cũng không phải là hiếm và điều này được xem như là một dấu hiệu biến đổi tất yếu của
truyện ngắn hiện đại” [46, tr. 51].
Mặt khác, tính chất “phi cốt truyện” ở truyện ngắn Thạch Lam và Pauxtốpxki quy định
sự thưa thoáng, gọn nhẹ, ít sự kiệ
n của câu chuyện. Mỗi truyện là một tâm tình, gây ấn tượng
mạnh bởi phong vị trữ tình và chất thơ bàng bạc, man mác tỏa ra từ những trang văn.
Khám phá truyện ngắn Thạch Lam và Pauxtốpxki, người đọc như bước vào địa hạt
của chất thực và chất thơ, giữa tự sự và trữ tình, hiện thực và lãng mạn. Việc phân định rạch
ròi đường biên của các trào lưu, phương pháp, thể loại là không đơn giản bởi chúng có sự
trộn lẫn, chuyển hóa và xuyên thấm vào nhau.
1.3.2. Khái quát về truyện ngắn của Thạch Lam và Pauxtốpxki
1.3.2.1. Về ch
ất thực
cảnh khổ về thân xác mà còn phải chịu sự đọa đày về tinh thần ở nhà chồng. Trong Hai đứa
trẻ, những mảnh đời lầm lụi như mẹ con chị Tý, chị em Liên, An, bác Siêu bán phở, bà cụ
Thi nghiện rượu hơi điên, gia đình bác xẩm… như ngọn đèn con trước cái tối tăm, mênh
mông của đất trời. Đọc truyện ngắn Thạch Lam, người ta không khỏi rùng mình, ám ảnh
trướ
c cái đói nghèo và thực trạng trì trệ, tối tăm của xã hội Việt Nam thời bấy giờ.
Cũng như Thạch Lam, Pauxtốpxki không né tránh thực tại mờ xám, đói nghèo của bao
cảnh đời trong xã hội. Sự tàn tạ, túng thiếu của ông lão (Ông lão trong quán điểm tâm ngoài
ga); cảnh sống và chết trong đơn chiếc, tủi buồn của bà cụ Katêrina (Bức điện); cuộc đời cô
đơn, thiếu thố
n, u buồn của Alan – một văn sĩ có tài (Bình nguyên tuyết phủ)… đã đi vào
trang văn của Pauxtốpxki thật chân thực, cảm động.(Trong văn học Xô Viết thời bấy giờ ít ai
đưa ra bức tranh hiện thực này). Thế nhưng, về nỗi khổ, niềm đau và sự bất hạnh của phận
người, Pauxtốpxki chỉ đề cập thưa thoáng, mờ nhạt trong một vài tác phẩm chứ
không dành
nhiều bút lực như Thạch Lam. Có thể nói gương mặt chiến tranh là một hiện thực rộng lớn,
bao trùm lên không khí thời đại trong những truyện ngắn của Pauxtốpxki. Ở Trái tim nhút
nhát, chiến tranh hiện ra với những mảng màu đậm đặc khói súng. Chiến tranh mở đầu với
việc ngụy trang: “lấy bùn nâu màu đất chung quanh nhà để quét lên tường” [65, tr. 266];
tiếp diễn trong tâm trạng hoang mang, lo sợ của người dân: “lạnh toát ng
ười khi nhìn thấy
những con chim sắt khổng lồ gầm thét, lượn đi lượn lại trên thành phố và ở dưới chân
chúng, trên mặt đất bùng lên những cột lửa vàng” [65, tr. 268]. Bức tranh chiến sự có đầy đủ
cái ác liệt trong một trận đối đầu đầy căng thẳng giữa những chiếc phi cơ Xô Viết và trọng
pháo của quân Đức: “Đất rung chuyển theo mỗi tiếng nổ. Ngói rơi lả tả
. Bụi bốc lên thành
những đám mây lớn bên trên thành phố. Súng cao xạ gầm thét hết giọng. Những cành da hợp
gẫy văng vào tường. Bọn lính mặc áo choàng xám xịt và chạy đi chạy lại, những mảnh bom
rú rít, những ngọn lửa của trận bom nhấp nhoáng liên hồi trong những đám mây đen. Còn ở
ngoài cảng, lửa đã cháy phần phật trong những kho hàng, làm bung những tấm mái kẽm”
Pháp, xã hội Việt Nam bị phân hóa sâu sắc, cuộc sống người dân rơi vào thảm họa đói
nghèo, nhất là ở làng quê, tỉnh lẻ. Thực tại ấy đã phả vào truyện ngắn Thạch Lam tính chất
“âm âm, u u” của những số phận, kiếp người. Còn hiện thực mà Pauxtốpxki đắm mình trong
đó là những sự kiện long trời lở đất: chiến tranh thế giới, cách mạng, nội chiến, chiế
n tranh
vệ quốc. Đề tài chiến tranh trở thành đề tài quán xuyến toàn bộ văn học Xô Viết thời bấy giờ.
Do vậy, những trang viết của ông, dù ít dù nhiều, không thể thiếu mùi “khói súng”.
Tuy nhiên, Thạch Lam và Pauxtốpxki đều không chiếm lĩnh và đồng hóa hiện thực với
cái nhìn nghiêm nhặt, tỉnh táo như các cây bút của chủ nghĩa hiện thực cùng thời. Viết về
chiến tranh, Sôlôkhốp đã đào sâu tận cùng nỗi đ
au, sự mất mát của những con người chịu
nạn. Chất thực trong truyện ngắn Số phận con người của ông thật đậm đặc, xù xì với bi kịch
của người lính Anđrây Xôcôlốp và cậu bé Vanhia. Chiến tranh đã cướp đi của họ mái ấm gia
đình và tất cả những người thân, để lại cho họ sự cô đơn, trơ trọi với khoảng trống hun hút
trong tâm hồ
n. Còn chất thực trong truyện ngắn của Pauxtốpxki đã được giảm bớt chất “thô
mộc” của nó. Cùng viết về cuộc sống bế tắc của người dân nghèo trong xã hội thực dân bán
phong kiến, nếu Thạch Lam có phần “nâng đỡ” các nhân vật về đạo đức, phẩm chất thì Nam
Cao lạnh lùng phanh phui, mổ xẻ tính cách lưu manh hóa ở họ. Nhân vật Chí Phèo trong
truyện ngắn cùng tên của ông là một điển hình cho lớp người nông dân bị dồn đến bước
đường cùng, bị biến dạng về nhân hình (quỷ dữ), méo mó về nhân tính (lưu manh), rơi vào bi
kịch bị cự tuyệt quyền làm người và phải tìm đến cái chết như một hướng giải thoát duy
nhất. Cả Thạch Lam và Pauxtốpxki đều lấy cuộ
c đời thường nhật làm điểm xuất phát để
vươn tỏa đến những ước mơ, khát vọng tươi sáng, điểm tô thêm cho những tin yêu, mong
mỏi ở lòng tốt, điều thiện của con người. Đó là cái nhìn hiện thực theo phương thức nội
cảm hóa. Tố chất hiện thực trong truyện ngắn Thạch Lam, Pauxtốpxki có màu sắc riêng bởi
nó được khúc xạ qua tâm hồn tinh tế, nh
ạy cảm của tác giả với cái nhìn thương yêu, trìu
mến. Tuy chiều rộng của hiện thực có phần co lại nhưng chiều sâu và sức gợi của nó thì
cũ… Thạch Lam đã đánh thức ở ng
ười đọc nỗi niềm xao xác, da diết trước những số phận
mờ xám, tối mịt như bóng đêm.
Cùng lối khám phá đầy rung cảm, xôn xao trước thực tại, Pauxtốpxki đã tìm thấy chất
thơ từ những cuộc gặp gỡ vô tình mà như định mệnh giữa cõi đời. Mặc dù họ gặp nhau rồi
chia xa mãi mãi hay hứa hẹn cuộc hội ngộ đầy hạnh phúc về sau, thì cuộc đờ
i của mỗi người
dường như đẹp hơn, có ý nghĩa hơn từ lần gặp ấy. Cuộc hội ngộ trong Bình minh mưa, Tuyết,
Gió biển, Chú bé chăn bò, Suối cá hương tựa như luồng gió lạ, làm dịu đi cái ác liệt, căng
thẳng của chiến tranh, thổi vào tâm hồn con người niềm tin yêu mãnh liệt vào ngày mai.
Chiến tranh dữ dội, mất mát là thế, nhưng Pauxtốpxki đã khéo léo khơi cái ph
ần thi vị, nồng
ấm bị nhòe lẫn, khuất lấp trong đó, mang đến chất “tráng” cho những trang văn.
Một trong những ưu thế nổi trội, làm nên thế mạnh của ngòi bút Thạch Lam,
Pauxtốpxki chính là việc khám phá chất thơ của tâm hồn con người với tất cả chiều sâu, sự
tinh tế, vẻ phong phú vô tận của nó. Trước hết, đó là thái độ, cách nhìn đời đầy trân trọng,
nâng niu, soi chiếu tâm hồn giàu cả
m xúc, nhân hậu của nhà văn. Các ông như trải lòng mình
lên những trang văn, những gì viết ra đều thấm đượm cái nhìn, nếp nghĩ và không ít máu thịt
của nhà văn trong đó. Ngoài ra, chất thơ còn được lắng lọc qua tâm hồn của nhân vật. Thạch
Lam bước vào tâm hồn trẻ thơ để khám phá lòng tốt thuần khiết, vô tư (Gió lạnh đầu mùa);
nỗi buồn thơ ngây (Hai đứa trẻ). Ông phát hiện những rung động khẽ
khàng, tế vi trong tâm
hồn người con gái đang yêu (Bắt đầu, Tình xưa, Nắng trong vườn), hay vẻ đẹp ngời sáng của
đức hi sinh, lòng nhân hậu, vị tha của người phụ nữ Việt Nam (Nhà mẹ Lê, Hai lần chết, Một
đời người)…
Vẻ đẹp của lòng nhân ái là ngọn nguồn trong lành làm tuôn chảy chất thơ ngọt ngào,
tươi mát cho những trang viết của Pauxtốpxki. Qua những truyện ngắn như Lẵng qu
ả thông,
Âm nhạc Vécđi, Bông hồng vàng, Người đầu bếp già, Chiếc nhẫn bằng thép… người đọc bắt