cấu trúc tổ chức hoạt động của ngân hàng nhà nước việt nam và cục dự trữ liên bang hoa kỳ - Pdf 30

Trang 1 /27
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ- LUẬT
  
TÊN ĐỀ TÀI: CẤU TRÚC, TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG
NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VÀ CỤC DỮ TRỮ LIÊN BANG HOA
KỲ(FED).
GVHD:
Nhóm sinh viên thực hiện đề tài: k12401_nhóm 2.
Lê Tuấn Anh K124010002
Đỗ Thị Bình K124010005
Lê Thị Quỳnh Chi K124010010
Nguyễn Thị Kim Hiếu K124010029
Nguyễn Hữu Hiệp K124012205

TP. Hồ Chí Minh, ngày 17 tháng 9 năm 2014
Trang 2 /27
Mục lục
Trang 3 /27
u
Như ta đã biết, thế kỷ 20, mở ra một bước ngoặt lớn trong lịch sử hình thành ngân
hàng trung ương. Năm 1920, Hội nghị Tài chính và Tiền tệ quốc tế lần đầu tiên được tổ chức
ở Brussels, nhấn mạnh rằng những quốc nào chưa có một ngân hàng trung ương giống ngân
hàng Anh và BDF thì nên sớm có một ngân hàng như thế, vì một ngân hàng trung ương
không những thực hiện tốt nhiệm vụ quản lí dự trữ quốc gia, cung ứng và điều tiết tiền tệ,
mà còn tạo nhiều thuận lợi trong quan hệ quốc tế về thương mại, hợp tác kinh tế.
Ngày nay, tất cả các quốc gia trên thế giới đều có một ngân hàng trung ương.
Phương thức tổ chức và hoạt động của mỗi ngân hàng trung ương có thể khác nhau khi so
sánh ngân hàng trung ương này với ngân hàng trung ương khác do đặc điểm tổ chức và mức
độ phát triển của mỗi nền kinh tế ở mỗi quốc gia. Trong từng giai đoạn phát triển của mình,
nền kinh tế thường đòi hỏi cơ cấu tổ chức và hoạt động thích hợp của các thiết chế có liên

ngân hàng trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngân hàng nhà nước
là pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sơ hữu nhà nước, có trụ sở chính tại thủ đô Hà Nội.
NHNN có các chức năng sau đây: thực hiện chức năng quản lí Nhà nước về tiền tệ
và hoạt động ngân hàng, phát hành tiền, cung cấp dịch vụ ngân hàng cho các tổ chức tín
dụng và làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ.
1.3. Tổ chức:
Ngân hàng nhà nước được tổ chức thành hệ thống tập trung, thống nhất, gồm bộ
máy điều hành và các đơn vị hoạt động nghiệp vụ tại trụ sở chính, chi nhánh của các tỉnh và
thành phố trực thuộc Trung ương, tại các văn phòng đại diện ở trong và ngoài nước.
Cơ cấu tổ chức của NHNN do Chính phủ qui định.
Trang 5 /27
Cơ cấu, tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn các đơn vị thuộc NHNN do Thống đốc
NHNN quy định, trừ qui định tại khoản 2 Điều 49 Luật NHNN.
Thống đốc NHNN quyết định thành lập, chấm dứt hoạt động của chi nhánh văn
phòng đại diện, các ban, hội đồng tư vấn về các vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ
của NHNN; quyết định thành lập, chấm dứt hoạt động theo thẩm quyền các đơn vị trực
thuộc NHNN hoạt động trong các lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ ngân hàng, nghiên
cứu thông tin, lí luận khoa học ngân hàng, cung cấp dịch vụ liên quan đến hoạt động kho
quỹ, dịch vụ công nghệ tin học ngân hàng và thanh toán, dịch vụ thông tin tín dụng
Thống đốc NHNN là người chịu trách nhiệm lãnh đạo và điều hành NHNN. Giúp
việc cho Thống đốc NHNN có các Phó Thống đốc và các giám đốc chi nhánh NHNN các
tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương.
1.4. Cấu trúc:
Về cơ cấu tổ chức, theo Nghị định 156/2013/NĐ-CP, Ngân hàng Nhà nước có 27
đơn vị trực thuộc, trong đó 20 đơn vị giúp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức
năng quản lý nhà nước và chức năng Ngân hàng trung ương, 7 đơn vị là tổ chức sự nghiệp.
Trang 6 /27
Hình 1: Sơ đồ tổ chức NHNNVN.(Nguồn: NHNNVN).
Trên cơ sở Nghị định 156/2013/NĐ-CP, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban
hành các Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các

thi đua, khen thưởng trong ngành Ngân hàng theo quy định của pháp luật.
Văn phòng: Tham mưu, giúp Thống đốc chỉ đạo và điều hành hoạt động ngân hàng;
thực hiện công tác cải cách hành chính của NHNN; quản lý hoạt động thông tin, tuyên
truyền, báo chí, văn thư, lưu trữ của ngành Ngân hàng theo quy định của pháp luật; thực hiện
công tác hành chính, lễ tân, văn thư, lưu trữ tại trụ sở chính NHNN.
Cục Công nghệ tin học: Tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện nhiệm vụ quản lý
Nhà nước chuyên ngành về lĩnh vực công nghệ tin học trong phạm vi toàn ngành Ngân
hàng.
Trang 8 /27
Cục Phát hành và kho quỹ: Tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện chức năng quản lý
Nhà nước và chức năng Ngân hàng Trung ương về lĩnh vực phát hành và kho quỹ theo quy
định của pháp luật.
Cục Quản trị: Giúp Thống đốc quản lý tài sản, tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật, hậu
cần, bảo vệ, an ninh trật tự, an toàn cơ quan, chăm lo đời sống, sức khỏe cho cán bộ, công
chức, viên chức và người lao động thuộc trụ sở chính NHNN.
Sở Giao dịch: Tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện các nghiệp vụ Ngân hàng
Trung ương.
Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng: Cơ quan trực thuộc NHNN thực hiện chức
năng thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành và giám sát chuyên ngành về ngân hàng
trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của NHNN; Tham mưu, giúp Thống đốc
quản lý Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính quy mô nhỏ, hoạt động
ngân hàng của các tổ chức khác; thực hiện phòng, chống rửa tiền theo quy định của pháp
luật.
NHNN Chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Là các đơn vị phụ thuộc
của NHNN, chịu sự điều hành và lãnh đạo tập trung, thống nhất của Thống đốc NHNN; có
chức năng tham mưu, giúp Thống đốc quản lý Nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng
trên địa bàn và thực hiện một số nghiệp vụ Ngân hàng trung ương theo ủy quyền của Thống
đốc.
Văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh: Đơn vị phụ thuộc của NHNN, thực
hiện nhiệm vụ đại diện theo sự ủy quyền của Thống đốc NHNN.

NCKH ngân hàng với các tổ chức trong và ngoài nước theo quy định chung của Nhà nước.
Trang 10 /27
1.5. Hoạt động của NHNN.
NHNN có các hoạt động sau:
• Thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
• Phát hành tiền giấy và tiền kim loại.
• Hoạt động tín dụng.
• Mở tài khoản.
• Hoạt động thanh toán và gây quỹ.
• Quản lý ngoại hối và hoạt động ngoại hối.
• Hoạt động thông tin
1.5.1. Thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia:
Một là, chủ trì xây dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia và hàng năm trình chính
phủ kế hoạch cung ứng lượng tiền tệ bổ sung cho lưu thông.
Hai là, điều hành các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, thực hiện việc
đưa tiền ra lưu thông, rút tiền từ lưu thông về theo tín hiệu của thị trường trong phạm vi
lượng tiền cung ứng đã được chính phủ phê duyệt.
Ba là, báo cáo chính phủ và quốc hội kết quả thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
1.5.2. Phát hành tiền giấy và tiền kim loại.
NHNN là cơ quan duy nhất được phép phát hành tiền của nước Việt Nam bao gồm
tiền giấy và tiền kim loại. Hoạt động phát hành tiền của NHNN bao gồm:
Một là, xác định số lượng, cơ cấu tiền giấy và tiền kim loại đủ cung ứng cho nhu cầu
của nền kinh tế.
Hai là, quản lý dự trữ phát hành the quy định của chính phủ.
Ba là, in, đúc, bảo quản, vận chuyển, phát hành và tiêu hủy tiền.
Bốn là, Xử lý tiền rách nát, hư hỏng, thu hồi thay thế tiền.
Trang 11 /27
Năm là, ban hành và kiểm tra, giám sát thực hiện quy chế nghiệp vụ phát hành tiền.
Sáu là, nghiêm cấm các hành vi làm tièn giả, vận chuyển, tàng trữ và lưu hành tiền
giả, hủy hoại tiền, từ chối nhận và lưu hành đồng tiền do NHNN phát hành.

ở nước ngoài, các giấy tờ có giá trị ngoại tệ, vàng và các loại ngoại hối khác.
Bảy là, thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn khác về quản lý ngoại hối theo quy định
của pháp luật.
Hoạt động ngoại hối.
NHNN thực hiện mua bán ngoại hối trên thị trường trong nước nhằm thực hiện mục
tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia, mua bán ngoại hối trên thị trường quốc tế và thực hiện
các giao dịch ngoại hối khác theo quy định của chính phủ.
1.5.7. Hoạt động thông tin.
NHNN tổ chức thu nhập, phân tích và dự báo, công bố thông tin trong và ngoài
nước kinh tế, tài chính, tiền tệ và hoạt động ngân hàng nhằm phục vụ việc xây dựng và điều
hành chính sách tiền tệ quốc gia.
Trang 13 /27
CHƯƠNG 2: Cấu trúc, tổ chức, hoạt động của FED Mỹ ( Federal
Reserve System – Fed)
2.1. Lịch sử:
FED ( Federal Reserve System – Fed) cũng như các NHTW trên thế giới thường
được coi là ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng của nhà nước hay chính phủ, cỗ máy
“in tiền”… Đạo luật Dự trữ Liên bang đã giúp FED ra đời năm 1913 ngay trước Chiến tranh
thế giới thứ nhất (1914 - 1918) và sau nhiều biến động kinh tế - tài chính trong nhiều thập
niên trước đó. Hoa Kỳ khi đó đã có Đạo luật về Ngân hàng, quy định chặt chẽ các hoạt động
và mối tương quan giữa các ngân hàng thương mại. FED đi vào hoạt động năm 1915 ngay
giữa Chiến tranh thế giới thứ nhất với chủ trương của Chính phủ Hoa Kỳ là giúp điều hành
và tài trợ cho các hoạt động quân sự của Hoa Kỳ và các đồng minh.
Hoa Kỳ là một nước còn non trẻ, với lịch sử lập quốc bắt đầu từ cuộc di dân từ Anh
quốc và châu Âu nên FED đã học được rất nhiều bài học kinh nghiệm về cơ cấu và hoạt
động của các ngân hàng Anh quốc và châu Âu.
2.2. Vị trí:
FED là tổ chức độc lập với Chính phủ và Quốc hội Mỹ. Trụ sở chính của FED hiện
nay là Washington D.C.
2.3. Tổ chức

(Nguồn: Mishkin, The Economics of Money, Banking and Financial Markets 7th Edition)
2.4. Những hoạt động của FED
2.4.1. Kiểm soát cung ứng tiền tệ
FED kiểm soát quy mô nguồn cung ứng tiền tệ bằng các hoạt động thị trường mà
qua đó FED mua hoặc cho mượn các loại trái phiếu, giấy tờ có giá. Những tổ chức tham gia
mua bán với Fed gọi là người giao dịch ưu tiên (primary dealers). Tất cả hoạt động thị
trường của FED ở Hoa Kỳ đều tiến hành tại bàn giao dịch thị trường của Ngân hàng dự trữ
liên bang khu vực New York với mục đích là đạt được tỷ lệ lãi suất trái phiếu liên bang gần
mới tỷ lệ mục tiêu.
Trang 16 /27
2.4.2. Thỏa thuận mua lại
Thực chất của hoạt động này là cho vay hoặc đi vay có thế chấp. Để đảm bảo những
thay đổi nguồn cung tiền tệ theo chu kỳ hoặc tạm thời, bàn giao dịch thị trường của Ngân
hàng dự trữ liên bang New York tham gia các thỏa thuận mua lại với những nhà giao dịch
ưu tiền. Các mua bán chủ yếu là các khoản cho vay ngắn hạn, có đảm bảo của FED. Trong
ngày giao dịch, FED sẽ đặt tiền vào tài khoản của người giao dịch và nhận thế chấp (là các
giấy tờ chứng nhận sở hữu như cổ phiếu, trái phiếu, v.v ). Khi hết hạn giao dịch, quá trình
diễn ra ngược lại FED hoàn lại chứng khoán và nhận lại tiền cùng lãi. Thời hạn giao dịch có
thể thay đổi từ 1 ngày (cho vay qua đêm) tới 65 ngày, phần lớn giao dịch là cho vay qua đêm
và 14 ngày.
Bởi các giao dịch làm tăng quỹ dự trữ của ngân hàng trong thời gian ngắn, chúng
tăng nguồn cung tiền tệ. Hiệu quả của hoạt động này là tạm thời bởi các giao dịch sẽ đáo
hạn, tác động dài hạn là dự trữ ngân hàng giảm đi bởi lãi suất của giao dịch (lãi suất một
ngày của tỷ lệ 4,5%/năm là 0,0121%). FED tiến hành giao dịch này hàng ngày trong 2004-
2005, ngoài ra giao dịch thu hút vốn cũng tiến hành nhằm tạm thời giảm nguồn cung tiền tệ.
Trong giao dịch thỏa thuận bán lại (reverse repo), Fed sẽ vay tiền từ các người giao
dịch ưu tiên bằng cách đặt cọc các chứng khoán chính phủ. Khi giao dịch đáo hạn, FED sẽ
hoàn trả tiền và các khoản lãi.
2.4.3. Giao dịch mua đứt
Một công cụ khác của bàn giao dịch thị trường là mua đứt. Trong giao dịch này,

cách lựa chọn này là việc vay tiền từ FED mang tính công khai rộng rãi, nó sẽ đưa đến chú ý
của công chúng về khả năng thanh khoản và mức độ tin cậy của ngân hàng đang đi vay.
Trang 18 /27
Cả hai tỷ lệ trên chi phối lãi suất ưu đãi, là tỷ lệ thường cao hơn 3% so với “lãi suất
quỹ vốn tại FED”. Lãi suất ưu đãi là tỷ lệ mà các ngân hàng tính lãi đối với khoản vay của
những khách hàng tin cậy nhất.
Ở mức lãi suất thấp, các hoạt động kinh tế được thúc đẩy vì chi phí đi vay thấp, do
đó mà người tiêu dùng và các doanh nghiệp tăng cường mua bán. Ngược lại, lãi suất cao đưa
đến kìm hãm kinh tế vì chi phí đi vay cao hơn.
FED thường điều chỉnh “lãi suất quỹ vốn tại FED” mỗi lần ở mức 0,25% hoặc 0,5%.
Từ năm 2001 đến giữa năm 2003, FED hạ lãi suất 13 lần, từ 6,25% xuống 1% nhằm chống
lại xu hướng suy thoái kinh tế. Tháng 11 năm 2002, lãi suất do FED điều chỉnh chỉ còn
1,75% và nhiều mức thấp hơn cả tỷ lệ lạm phát. Ngày 25/03/2003, “lãi suất quỹ vốn tại
FED” tụt xuống mức 1%, con số thấp nhất kể từ tháng 07 năm 1958 – 0,68%. Bắt đầu từ
giữa tháng 06/2004, FED bắt đầu nâng lãi suất định hướng 17 lần liên tục lên 5,25% ngày
08/08/2006.
Có thể, FED cũng đã nỗ lực các hoạt động mua bán trên thị trường nhằm thay đổi tỷ
lệ cho vay dài hạn, tuy nhiên năng lực của nó yếu hơn rất nhiều các định chế tài chính tư
nhân.
Cổ tức được trả dưới dạng khoản bù vào lãi suất cho phần dự trữ thiếu hụt được giữ
tại Fed. Theo quy định của luật pháp, mỗi ngân hàng phải duy trì tỷ lệ dự trữ bắt buộc mà
phần lớn đặt tại FED. FED không trả lãi suất cho các khoản dự trữ này.
2.4.6. Quy định về tỷ lệ dự trữ
FED ấn định tỷ lệ dự trữ – phần trăm số tiền ký gửi tại ngân hàng mà ngân hàng
phải giữ lại hoặc gửi tại Fed để sẵn sàng chi trả các nhu cầu rút tiền. Quy định này trực tiếp
giới hạn khả năng cho vay của các ngân hàng vì khoản dự trữ này phải luôn được duy trì.
Trong trường hợp khoản dự trữ này tụt xuống, ngân hàng phải tiến hành vay lẫn nhau hoặc
vay của FED để đảm bảo tỷ lệ dự trữ.
Trang 19 /27
Trong thực tế, khi tỉ lệ dự trữ bắt buộc thay đổi ảnh hưởng tất cả đến ngân hàng

thị trường, các ngân hàng của
FED và các ngân hàng địa
phương.
-Vừa là tư nhân, vừa là nhà
nước.
Tính độc lập (bao gồm ngân
sách hoạt động)
“Thấp” do trực thuộc và phải
nhận chỉ thị từ Chính phủ,
“Cao” do độc lập với Chính
phủ, các lãnh đạo có nhiệm
Trang 21 /27
ngân sách hoạt động do
Chính phủ xét duyệt. Được
sử dụng các khoản thu để
trang trải chi phí hoạt động,
chênh lệch chi thu sau khi
trích quỹ được gộp vào ngân
sách nhà nước.
kỳ và không được tái cử,
ngân sách hoạt động độc lập.
Doanh thu đến từ tiền lãi của
các tài sản nắm giữ.
Các ngân hàng thành viên Ngân hàng nhà nước Việt
Nam và các chi nhánh tỉnh
thành phố.
12 ngân hàng địa phương và
25 chi nhánh khắp nước Mỹ,
đây như là một hệ thống
ngân hàng trung ương chứ

nhau. Ngay cả trong trường hợp NHNN muốn rút tiền về thì tăng dự trữ bắt buộc sẽ gặp trở
ngại do một số ngân hàng khó khăn trong thanh khoản.
4.1.4. Hoạt động thị trường mở: NHNN bơm tiền qua kênh tín phiếu.
Theo công bố bởi Reuters, trong 6 tháng đầu năm, NHNN bơm ra gần 16.000 tỷ
đồng nhằm hỗ trợ thanh khoản cho thị trường, trong đó tín phiếu đáo hạn là 144.000 tỷ đồng.
Thanh khoản tốt trên thị trường liên ngân hàng khiến cho hoạt động thị trường mở
rất ổn định và giao dịch ở mức thấp. Trong năm 2013, mặc dù lãi suất trên thị trường mở ghi
Trang 23 /27
nhận ở mức thấp nhưng do lãi suất trên thị trường liên ngân hàng cũng giao dịch ở mức thấp
kỉ lục (lãi suất kỳ hạn 1 tuần 1-1.2%/năm), đây chính là lí do khiến cho tiếp cận vốn trên thị
trường mở trên nên không hấp dẫn.
4.1.5. Gói tín dụng 30.000 tỷ đồng
Đây là một hoạt động hỗ trợ kinh tế: nhằm cho vay hỗ trợ nhà ở cho người nghèo,
hỗ trợ cho các công ty bất động sản nhằm tăng nguồn cung về nhà ở cho người nghèo. Tuy
nhiên, điều này đang được bàn cãi có thể giúp cho thị trường bất động sản hồi phục hay
không?, cái khó là ở ngân hàng, khi người nghèo không có tài sản thế chấp thì khó có thể
cho vay ra. Còn nếu thế chấp chính ngôi nhà hiện có thì lại không tốt do nhà ở xã hội không
được giao dịch, mua bán trong một thời gian nhất định.
4.2. Nhận định FED có phù hợp với mô hình NHNNVN.
Qua hoạt động của NHNNVN, nhận thấy những yếu điểm của NHNNVN và Chính
phủ trong việc không đồng nhất trong chính sách và thực tiễn. Cụ thể, trước năm 2011, sở dĩ
tăng trưởng cung tiền tăng liên tục, lạm phát dai dẳng là do tham vọng tăng trưởng của
Chính phủ. NHNN chỉ là một cơ quan trực thuộc Chính phủ và phải điều hành chính sách
tiền tệ trong chừng mực nào đó theo tham vọng này.
Qua bài học trên, ta có thể nghiên cứu, ứng dụng một số yếu tố của FED trong mô
hình NHNNVN như:
Thứ nhất, FED, có tính độc lập, tự chủ cao nhưng vẫn giữ được mối liên kết chặt
chẽ với các định chế tài chính, ngân hàng trong toàn ngành và thị trường. Với điều này, giúp
NHNNVN có những quyết định độc lập, không chịu nhiều áp lực từ chỉ thị của hệ thống
chính trị có thể làm suy giảm hiệu quả của chính sách tiền tệ, tránh gây lạm phát, sử dụng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status