TÀI LIỆU ÔN THI LỊCH SỬ VIỆT NAM
QUỐC TẾ HỌC
CHỦ ĐỀ 1: VẤN ĐỀ CHUẨN BỊ CHO CÁCH MẠNG
THÁNG TÁM
Cách đây hơn 68 năm, mùa thu năm 1945, lần đầu tiên trong lịch
sử, toàn thể nhân dân Việt Nam thực sự được nắm trong tay
quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cấu hạnh phúc. Thắng lợi
của Cách mạng tháng Tám 1945 đã mở ra một kỷ nguyên mới,
một bước ngoặt ngoan mục cho lịch sử dân tộc.Tố Hữu, trong
những lời thơ của mình, đã không thể giấu được niềm sung sướng
ấy:
“Mặt trời đỏ huyền kỳ mọc lên ôi náo nức
Nhạc dân gian cuồn cuộn bốc hồng trần
Ta đi đây, là trăm vạn thiên thần
Chiều chiến thắng phá tan quân quỷ sứ
Ta đi dưới bốn nghìn năm lịch sử
Đêm nay tràn hoa đỏ nghị vàng tươi
Ta đi đây với thế kỉ hai mươi
Mạch suối trẻ trong dòng người vô định”
(Vui bất tuyệt – Tố hữu)
Đây được xem là móc son chói lọi trong lịch sử dân tộc, một sự
kiên mà toàn thể nhân dân Việt Nam và những người nước ngoài
quan tâm đến Việt Nam đều tường tận. Dưới gốc nhìn của sinh
viên ngành Quốc tế học, chúng em xin phép được tìm hiểu và
trình bày chủ đề này dựa trên những vấn đề nổi bật như sau:
• Vài nét về quá trình chuẩn bị Cách mạng
• Vấn đề thời cơ
• Diễn biến chính
• Vai trò của Đảng và Hồ Chí Minh
• Nguyên nhân thắng lợi và gía trị trường tồn của Cách Mạng
I. Vài nét về quá trình chuẩn bị Cách mạng
Đây là thời kì địch đã tiến hành khủng bố và đàn áp dã
man.Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân tiếp tục đấu
tranh chống khủng bố, phục hồi trong phong trào cách
mạng, chuẩn bị cho phong trào cách mạng mới.Qua phong
trào, Đảng và nhân dân đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm
thành công cũng như thất bại, khắc phục khó khăn và sai
lầm để Đảng chuẩn bị cho một cao trào cách mạng mới.
4. Cuộc vận động dân chủ 1936 - 1939 :
Trước sự thay đổi tình hình quốc tế và trong nước, Đảng
phát động một cao trào đấu tranh cách mạng của quần
chúng đòi hỏi các quyền tự do dân chủ cơm áo và hoà bình,
chống chiến tranh, chống bọn phản động thuộc địa và tay
sai. Cao trào đấu tranh dân chủ diễn ra sâu rộng với nhiều
hình thức đấu tranh phong phú.Cao trào đó đã giáo dục sâu
rộng chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối chủ trương cách
mạng của Đảng trong nhân dân, nâng cao uy tín và ảnh
hưởng của Đảng Cộng sản, hướng quần chúng đi theo ngọn
cờ cách mạng của Đảng, hình thành một đạo quân chính trị
hùng hậu cho các mạng, tiếp tục rèn luyện Đảng và quần
chúng trong thực tiễn cách mạng, tích luỹ thêm nhiều kinh
nghiệm mới. Phong trào dân chủ 1936 - 1939 là cuộc diễn
tập lần thứ hai, chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám thắng
lợi.
5. Cuộc vận động giải phóng dân tộc 1939 - 1945 :
6.
Cuộc tập dượt cuối cùng, toàn diện và trực tiếp đưa đến
thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945.
a Sự chuyển hướng về chiến lược và sách lược
của Đảng qua các Hội nghị lần 6 (11/1939) và Hội
nghị lần 8 (5/1941) của Ban chấp hành Trung ương
hậu bao gồm cả lực lượng quần chúng và lực lượng vũ trang, tạo
lực và thế cách mạng ở cả vùng nông thôn và đô thị, chờ đợi một
thời cơ ngàn năm có một.
II. Vấn đề thời cơ cách mạng
1. Thời cơ là gì?
Thời cơ là một hoàn cảnh thuận lợi đến trong một thời gian
ngắn, là tình thế xuất hiện trong thời điểm nhất định nhất,
có lợi nhất cho việc phát huy mọi sức mạnh, đảm bảo cho
một việc có thể tiến hành để giành thắng lợi. Chủ nghĩa
Mác - Lênin xem việc nắm vững thời cơ và kiên quyết hành
động khi có thời cơ là “nghệ thuật lãnh đạo cách mạng”
của Đảng và của giai cấp vô sản; nó thể hiện rõ tính chất,
phẩm chất, lòng trung thành, chủ nghĩa anh hùng cách
mạng, trình độ, tài nghệ của người cộng sản. Thời cơ là
nhân tố khách quan, xuất hiện khi tình thế cách mạng được
hình thành, song nhận thức đúng thời cơ là yếu tố chủ quan.
Trong mọi hành động của con người, khi nào thống nhất
được điều kiện khánh quan với nhận thức chủ quan thì sẽ
đạt được thành công. Một cuộc cách mạng muốn thành
công nhanh chóng và ít phải đổ máu thì ngoài việc chuẩn bị
chu đáo cần phải biết chớp thời cơ cách mạng.
Thời cơ cách mạng là là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa
điều kiện thuận lợi về khách quan và chủ quan; trong đó,
điều kiện chủ quan giữ vai trò quan trọng nhất.
Cũng theo Chủ Nghĩa Mác-Lênin, thời cơ bùng nổ và thắng
lợi của một cuộc cách mạng thì phải hội đủ 3 điều kiện sau
đây:
• Kẻ thù đã suy yếu đến mức không thể thống trị như
cũ được nữa
• Quần chúng bị thống trị họ không thể sống như cũ
thần dân tộc, kể cả một bộ phận trong giai cấp hữu sản
nhưng gần với quần chúng, nhận thức được xu thế lịch sử,
ngả về phía cách mạng. Tương quan lực lượng có lợi cho
phía cách mạng.
Thông qua quá trình chuẩn bị lâu dài vềlực lượng chính trị,
lực lượng vũ trang; đặc biệt thông qua khởi nghĩa từng
phần,các cao trào kháng Nhật cứu nước, quần chúng cách
mạng lúc này đã sẵn sàng nổi dậy giành chính quyền.
Đảng CSĐD đã chuẩn bị đầy đủ.Thông qua các Hội nghị
BCHTW 11/1939, 11/1940, 5/1941, Đảng giương cao ngọn
cờ GPDT lên hàng đầu. Đảng có quyết tâm cao, sẵn sàng
lãnh đạo quần chúng, chủ động chuẩn bị lực lượng cách
mạng chu đáo, xây dựng và mở rộng Mặt trận Việt Minh,
tận dụng tốt sự đoàn kết tin tưởng của nhân dân, góp phần
thúc đẩy thời cơ chin muồi .
• Thời cơ ngàn năm có một là vì:
Thời cơ cho cách mạng tháng Tám chỉ tồn tại trong
một khoảng thời gian rất ngắn (từ khi Nhật đầu hàng Đồng
minh (15/8) đến trước khi quân đồng minh kéo vào nước ta
(đầu tháng 09/1945)) => Tổng khởi nghĩa diễn ra một cách
nhanh chóng và ít phải đổ máu.Khi thời cơ cách mạng đến,
ta phải nhận thức đúng thời cơ và kiên quyết hành động
cách mạng.Nếu chúng ta không tiến hành khẩn trương thì
thời cơ sẽ đi qua.
Mặt khác, nếu tổng khởi nghĩa nổ ra sớm hơn, cách
mạng sẽ gặp khó khăn vì phát xít Nhật tuy yếu và đang
trong cơn giãy chết, nhưng nếu chúng tập hợp quân để phản
kháng thì cách mạng sẽ gặp nhiều tổn thất nặng nề, cách
mạng sẽ đổ nhiều xương máu. Nếu Tổng khởi nghĩa nổ ra
muộn hơn thì quân đồng minh Anh, Pháp, Trung Hoa dân
1. Qua thời kỳ thoái trào và cao trào, hãy cho biết vai trò của Đảng trong
giai đoạn đó?
2. Nội dung Luận cương tháng 10 và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của
Đảng?
3. Phong trào 1936-1939 đã đóng góp gì vào cuộc diễn tập thứ 2 chuẩn bị
cho thắng lợi của CMT8 sau này?
4. Hãy nêu nôi dung, mục tiêu, lực lượng tham gia trong Luận cương
tháng 10?
5. Vì sao nói cao trào 1930-1931 là cuộc diễn tập thứ nhất?
6. Việt Nam có cơ hội và thách thức trong giai đoạn 1929-1933 là gì?
Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nắm cơ hội như thế nào? Làm gì?
7. Luận cương tháng 10 có tiến bộ và hạn chế gì so với cách mạng Việt
Nam bấy giờ?
8. So sánh Luận cương tháng 10 của Trần Phú và Cương lĩnh chính trị của
Nguyễn Ái Quốc?
Trả lời:
1. Qua các thời kỳ cao trào và thoái trào, Đảng đã thể hiện vai trò như
sau:
a. Cao trào:
- Mở đầu cao trào ở Nghệ Tĩnh là cuộc biểu tình ngày 01/05/1930 do
Đảng bộ Nghệ An lãnh đạo.
- Tháng 10/1930, bộ máy chính quyền của đế quốc, phong kiến đã tan rã
ở nhiều nơi, tổ chức Đảng ở địa phương đã lãnh đạo nhân dân đứng ra
quản lý mọi mặt đời sống, chính trị - xã hội ở nông thôn.
- Các cuộc đấu tranh diễn ra liên tục vào ngày 1/8/1930, tháng 9 và 10
năm 1930 ở Nghệ Tĩnh.
b. Thoái trào:
- Các chi bộ Đảng trong nhà tù lãnh đạo phong trào đấu tranh, biến nhà
tù thành trường học cách mạng và tìm cách liên lạc với cơ sở bên
ngoài.
chủ nghĩa.
-Nhiệm vụ cách mạng: đánh đổ phong kiến và đế quốc là hai nhiệm vụ
có quan hệ khắng khít.
-Lực lượng cách mạng: giai cấp vô sản và nông dân.
-Lãnh đạo cách mạng: giai cấp vô sản và đội tiên phong là Đảng cộng
sản.
-Nêu rõ hình thức, biện pháp đấu tranh, quan hệ giữa cách mạng Đông
dương và cách mạng thế giới.
Hạn chế: chưa nêu rõ được mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Đông Dương,
không đưa ngọn cờ giải phóng dân tộc lên hang đầu, nặng về đấu tranh
giai cấp và cách mạng ruộng đất, đánh giá không đúng khả năng cách
mạng của tiểu tư sản, tư sản dân tộc, khả năng lôi kéo bộ phận trung
tiểu địa chủ tham gia mặt trận dân tộc thống nhất.
3. Sỡ dĩ nói phong trào 1936-1939 là cuộc diễn tập thứ 2 cho thành công
của CMT8 sau này là vì:
a. Về phía Đảng: Có sự trưởng thành trong chỉ đạo sách lược cách mạng.
b. Về phía Quần chúng: được tập hợp trong nhiều tổ chức, tiêu biểu nhất
là “mặt trận dân chủ Đông Dương”, hiểu rõ hơn về chủ nghĩa Mác-
Lenin, được rèn luyện trong những hình thức đấu tranh mới ( đấu tranh
chính trị công khai hợp pháp, bán công khai, nửa hợp pháp, bí mật và
nửa bí mật). Nhiều cán bộ cách mạng mới được đào tạo cùng với hơn
3000 chiến sĩ cách mạng cũ tạo thành đội ngũ đông đảo.
Phong trào 1936-1939 đã để lại nhiều bài học quý, nhất là về công tác vận
động tổ chức quần chúng, hình thức đấu tranh và khẩu hiệu đấu tranh.
4. Nội dung, mục tiêu, lực lượng tham gia được nêu trong Luận cương
tháng 10/1930 (Trần Phú):
•Luận cương tháng 10/1930:
-Tính chất: Cách mạng Đông Dương lúc đầu là cách mạng tư sản dân
quyền, sau đó tiến thẳng lên xã hội chủ nghĩa, bỏ qua thời kỳ tư bản
chủ nghĩa.
bỏ hoang, lúa gạo sụt giá; thương nghiệp xuất nhập khẩu đình đốn,
hàng hóa khan hiếm, giá cả đắt đỏ…) Cuộc khủng hoảng kinh tế ở Việt
Nam rất nặng nề so với các thuộc địa của Pháp cũng như các nước khác
trong khu vực.
Xã hội: Mâu thuẩn nảy sinh giữa nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp
do Công nhân thất nghiệp, nông dân bần cùng không lối thoát, tiểu
thương tiểu chủ làm ăn khó khăn, phá sản, tư sản dân tộc làm ăn khó
khăn, sinh viên ra trường không việc làm,… Chính những biến động
trong xã hội đã dẫn đến Mâu thuẫn giữa nhân dân ta với thực dân Pháp,
nông dân và địa chủ phong kiến ngày càng gay gắt.
Chính trị: Đầu 1930, khởi nghĩa Yên bái thất bại, Pháp tiến hành khủng
bố dã man những người yêu nước, làm căng thẳng những mâu thuẩn và
tình hình bất ổn trong xã hội dân cao.
b. Thời cơ: 02/1930, Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời kịp thời lãnh đạo
phong trào đấu tranh của công nông cả nước.
Dựa vào tình hình thời cơ và thách thức trên, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã
kịp thời lãnh đạo phong trào đấu tranh của công nông trong cả nước.
Phong trào trên toàn quốc: 02-04/1930, nhiều cuộc đấu tranh của công
nông diễn ra đòi tăng lương giảm giờ làm, giảm sưu thuế (công nhân đồn
điền Phú Riềng, Dầu Tiếng,…), nhân ngày quốc tế lao động 01/05 cả nước
bùng nổ nhiều cuộc đấu tranh, lần đầu tiên công nhân Việt Nam biểu tình
kỷ niệm ngày quốc tế lao động, đấu tranh đòi quyền lợi cho nhân dân lao
động trong cả nước, thể hiện tình đoàn kết cách mạng với nhân dân lao
động thế giới, từ tháng 06-08/1930 nhiều cuộc đấu tranh diễn ra trên toàn
quốc. Phong trào ở Nghệ Tĩnh: ngày 9/12/1930 cuộc biểu tình của 8000
nông dân Hưng nguyên đòi giảm sưu thuế, quần chúng kéo đến phá nhà
lao, đốt huyện đường, vây đồn lính khố xanh. Nhiều cấp ủy Đảng ở thôn
xã lãnh đạo nhân dân làm chủ vận mệnh, tự quản lý đời sống kinh tế chính
trị văn hóa xã hội ở địa phương, làm chức năng của chính quyền Xô Viết.
Đảng đã xây dựng mô hình Xô Viết tại Nghệ An và Hà Tĩnh.
2 mâu thuẫn:
-Mâu thuẫn dân tộc
-Mâu thuẫn giai cấp
(cơbản)
(cơ bản nhất)
-Mâu thuẫn giữa nông dân
với địa chủ phong kiến.
Tính chất
cách mạng
-Làm cách mạng tư sản
dân quyền + cách mạng
thổ địa, tiến lên chủ nghĩa
cộng sản
-Hai giai đoạn kế tiếp
không có bức tường ngăn
cách
-Cách mạng Đông Dương
là cách mạng tư sản dân
quyền qua giai đoạn
phát triển tư bản chủ
nghĩa
-Hoàn thành giai đoạn này
mới làm tiếp giai đoạn
khác
Kẻ thù của
cách mạng
Xác định: đế quốc Pháp,
vua quan phong kiến, tư
sản phản cách mạngkẻ
thù không phải toàn bộ
đề dân tộc và vấn đề giai
cấp, xác định đúng lực
lượng cách mạng.
thức, phương pháp đấu
tranh, mối quan hệ giữa
cách mạng Đông dương
và cách mạng thế giới
-Hạn chế:
+Chưa nêu được mâu
thuẫn chủ yếu của xã hội
Đông Dương
+Chưa xác định được kẻ
thù chủ yếu
+Nặng nề đấu tranh giai
cấp, cách mạng ruộng đất.
+Đánh giá không đúng
khả năng cách mạng của
tiểu tư sản, khả năng
chống đế quốc, phong
kiến của tư sản dân tộc,
khả năng lôi kéo trung
tiểu địa chủ tham gia CM
Phương pháp
cách mạng
Bạo lực cách mạng
Quan hệ
giữa cách
mạng VN
với thế giới
Liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản thế giới
trong nước nhằm mục đích tự cường hy vọng một cuộc đổi mới. Nhật Bản
lúc bấy giờ đối với các sĩ phu yêu nước tiến bộ của Việt Nam là một thế giới
mới lạ, đầy sức hấp dẫn.
Đồng thời học tập từ thất bại của cuộc cải cách của nhóm Lương Khải
Siêu và Khang Hữu Vi khởi xướng ở Trung Quốc.
Năm 1906, Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh tham quan Khánh Ứng nghĩa
thục tại Đông Kinh (Tokyo). Cuối năm 1906, qua cuộc họp “trù bị” tại làng
Nội Duệ (Bắc Ninh) đã quyết định thành lập Đông Kinh nghĩa thục tại Hà
Nội.
Tháng 3 năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục bắt đầu được khai giảng ở
phố Hàng Đào, Hà Nội.
*Bối cảnh trong nước:
Phong trào này vừa có tính cách chánh trị vừa có tính cách văn hóa, quy tụ
được đông đảo sĩ phu và quần chúng. Đông Kinh Nghĩa Thục có nguồn gốc
trong sạch hơn là nguồn gốc của Đông Dương tạp chí và Nam Phong, cả hai
đều do Tây sáng lập và được tiền trợ cấp của thực dân.
Đông Kinh Nghĩa Thục bắt chước theo Khanh Ứng Nghĩa Thục của Nhật
Bản nhằm mục đích cổ động duy tân và xây dựng Tân văn hóa.
Đây là một trường tư thục đầu tiên ở nước ta không thâu học phí mà lại còn
phát không sách, tập và bút giấy cho học trò. Nhà trường chánh ở Hà Nội
thành lập chưa được một năm mà đã đặt được chi nhánh ở hầu khắp các tỉnh
miền Bắc và có đà tiến triển vào Trung, Nam.
Đông Kinh nghĩa thục, đúng như tên gọi của nó, trước hết là một trường học,
một trường học tư và hoàn toàn bất vụ lợi, được lập ra vì một nghĩa lớn.
Nghĩa lớn ấy nằm chính trong tôn chỉ sáng láng của phong trào Duy Tân:
“Khai dân trí”, mở mang và nâng cao dân trí, để từ đó đi đến “Chấn dân khí”,
tạo nên sinh khí mới cho dân tộc, và “Hậu dân sinh”, đưa đất nước đến phát
triển phồn vinh cùng năm châu bốn biển.
Nói theo một cách nào đó và về thực chất, Đông Kinh nghĩa thục (và cả một
loạt nghĩa thục bắt đầu từ Quảng Nam và lan ra nhiều nơi khác trước đó, mà
nghĩa thục (1906) và nhen nhóm ý định thành lập một nghĩa thục – một
trường học kiểu mới, đến tháng 3 năm 1907, các sĩ phu yêu nước cùng
chí hướng với Phan Bội Châu như Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Lê
Đại, Hoàng Tăng Bí, Vũ Hoành, bắt đầu mở trường Đông Kinh nghĩa
thục.
- Vai trò chính: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Lương Văn Can (Thục
trưởng) và Nguyễn Quyền (Giám học). Ngoài ra, trường còn mời
Nguyễn Văn Vĩnh – nhà tân học, nhà báo, nhà văn, nhà phiên dịch Việt
Nam – được Pháp tin cậy để tránh sự dòm ngó của mật thám Pháp.
Phan Bội Châu (1867- 1940)
Phan Châu Trinh (1872-1926)
Lương Văn Can (1854-1927) tự là Hiếu Ôn và Ôn Như, hiệu
Sơn Lão, là một nhà cách mạng Việt Nam.
+ Quê quán tại làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông
+ Năm 1874, ông đỗ Cử nhân, triều đinh phân là Giáo thụ Phủ Hoài
nhưng ông từ chối
+ Chính phủ Pháp cử ông vào Hội đồng thành phố nhưng ông cũng
không nhận.
+ Năm 1879, ông mở trường dạy học tại nhà ( số 4 Hàng Đào)
+ Tháng 3.1907, ông liên kết với những người cùng chí hướng lập ra
trường Đông Kinh nghĩa thục.
+ Năm 1913, ông bị lưu đày sang Nam Vang.
Nguyễn Quyền ( 1869-1941) hiệu là Đông Đường, quê ở làng
Thượng Trì, Thượng Mão, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ông
là một chí sĩ yêu nước Việt Nam thời cận đại.
+ Do ông từng đỗ Tú tài khoa Tân Mão năm 1891, được bổ làm Huấn
đạo tỉnh Lạng Sơn, nên người đương thời thường gọi ông là Huấn
Quyền.
Nguyễn Quyền