mục lục
Trang
mở đầu 2
Chơng 1: một số vấn đề lý luận chung về hợp tác
quốc tế trong tố tụng hình sự
6
1.1. Khái niệm hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự và ý nghĩa
của việc ghi nhận chế định hợp tác quốc tế trong luật tố
tụng hình sự Việt Nam
7
1.2. Lợc khảo lịch sử hình thành và phát triển những quy định
về hợp tác quốc tế trong luật tố tụng hình sự Việt Nam trớc
khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 ra đời
8
1.3. Những quy định về hợp tác quốc tế trong pháp luật tố
tụng hình sự một số nớc trên thế giới
10
Chơng 2: những quy định của pháp luật tố tụng
hình sự hiện hành về hợp tác quốc tế và
thực tiễn áp dụng
11
2.1 Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành
về hợp tác quốc tế
11
2.2. Thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng
hình sự về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự ở Việt Nam
12
Chơng 3: các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp
dụng những quy định của pháp luật tố
tụng hình sự về hợp tác quốc tế
15
nặng nề về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Thậm chí tình hình tội
phạm có tính quốc tế còn tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tình báo
nớc ngoài lợi dụng tiến hành các hoạt động mua chuộc, thu thập tình báo,
phá hoại sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc.
Để đấu tranh phòng, chống tội phạm có tính quốc tế đạt hiệu quả
cao, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này trở thành vấn đề mang tính tất
yếu, phù hợp với xu thế chung của thời đại. Đáp ứng yêu cầu này, Bộ luật
tố tụng hình sự (sửa đổi) đợc Quốc hội nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa XI, thông qua tại kỳ họp thứ t, ngày 26-11-2003, đã dành
riêng Phần thứ tám quy định về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự. Tuy
nhiên, thực tiễn thi hành hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự cũng đã đặt
1 2
ra nhiều vấn đề vớng mắc đòi hỏi khoa học luật tố tụng hình sự phải
nghiên cứu giải quyết nh dẫn độ ngời phạm tội để truy cứu trách nhiệm
hình sự hoặc thi hành án, từ chối dẫn độ ngời phạm tội, việc chuyển giao
hồ sơ, tài liệu, vật chứng của vụ án... Trong khi đó, xét về mặt lý luận,
chế định hợp tác quốc tế cha đợc tập trung nghiên cứu một cách thỏa
đáng, và xung quanh chế định này, còn nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí
trái ngợc nhau.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Chế định hợp tác quốc tế trong luật
tố tụng hình sự Việt Nam" mang tính cấp thiết, không những về lý luận,
mà còn là đòi hỏi thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong
tố tụng hình sự ở Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu
Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự là vấn đề quan trọng và nhạy
cảm, đã đợc một số nhà luật học, cơ quan ở trong và ngoài nớc quan tâm
nghiên cứu. Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ T pháp có đề tài
nghiên cứu khoa học cấp bộ: "Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng pháp
lệnh tơng trợ t pháp quốc tế" (Bộ T pháp, Hà Nội, 2000); Tổng cục Cảnh
sát, Bộ Công an có đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: "Dẫn độ tội phạm
5) Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng các quy
định của pháp luật tố tụng hình sự về hợp tác quốc tế.
Đối tợng nghiên cứu của luận văn
Đối tợng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận về hợp tác
quốc tế, các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về hợp tác
quốc tế và thực tiễn hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự của Việt Nam
với các nớc trong khu vực và trên thế giới.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu đề tài này dới góc độ luật tố tụng hình sự.
1 2
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác -
Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng
Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì
dân, về chính sách hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm
của Đảng và Nhà nớc ta.
Luận văn đợc thực hiện trên cơ sở quán triệt các Chỉ thị, Nghị quyết
của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nớc về hợp tác quốc tế trong
đấu tranh phòng, chống tội phạm. Cơ sở thực tiễn của luận văn là các báo
cáo tổng kết, số liệu về hợp tác quốc tế của các cơ quan bảo vệ pháp luật.
Cơ sở phơng pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong khi thực hiện đề tài, các phơng pháp
hệ thống, phân tích, tổng hợp, lịch sử, lôgíc, thống kê, so sánh pháp luật,
xã hội học... đã đợc sử dụng để hoàn thành các nhiệm vụ mà tác giả luận
văn đã đặt ra.
5. Những đóng góp mới của luận văn
Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt
Nam ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học, nghiên cứu một cách tơng đối
toàn diện và tơng đối có hệ thống về chế định hợp tác quốc tế trong luật
tố tụng hình sự Việt Nam. Có thể xem những nội dung sau đây là những
Một số vấn đề lý luận chung
về Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
Trong chơng này, tác giả tập trung làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận
chung về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, ý nghĩa của việc ghi nhận
chế định hợp tác quốc tế trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, lợc khảo
lịch sử hình thành và phát triển những quy định về hợp tác quốc tế trong
luật tố tụng hình sự Việt Nam trớc khi Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam
1 2
năm 2003 ra đời, những quy định về hợp tác quốc tế trong pháp luật tố
tụng hình sự một số nớc trên thế giới.
1.1. Khái niệm hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự và ý nghĩa
của việc ghi nhận chế định hợp tác quốc tế trong luật tố tụng hình sự
Việt Nam
1.1.1. Khái niệm hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
Tác giả đã phân tích làm sáng tỏ khái niệm hợp tác quốc tế trong tố
tụng hình sự và đa ra định nghĩa khoa học của khái niệm này: Hợp tác
quốc tế trong tố tụng hình sự có thể đợc hiểu là sự trợ giúp qua lại lẫn
nhau giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, ngời có thẩm
quyền tiến hành tố tụng của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với
các cơ quan có thẩm quyền, ngời có thẩm quyền tơng ứng của nớc ngoài đ-
ợc thực hiện trên cơ sở nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình
đẳng cùng có lợi, phù hợp với Hiến pháp của nớc Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam và những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế. Trên
cơ sở khái niệm này, tác giả đã ra rút ra những đặc điểm của hợp tác quốc
tế trong tố tụng hình sự nh sau:
Thứ nhất, chủ thể của hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự là các cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam và các cơ quan có thẩm quyền tơng ứng của nớc ngoài.
Thứ hai, việc thực hiện hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự phải bảo
sự Việt Nam thời kỳ từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm
1975
Tác giả đã phân tích tình hình chính trị, kinh tế, xã hội ở nớc ta thời kỳ
này. Trong tình hình rất khó khăn, nhng Nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng
hòa đã chủ trơng việc thiết lập và phát triển các mối quan hệ chính trị, kinh
tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật với các nớc trên thế giới. Chủ trơng này đã
1 2
đặt nền móng cho sự ra đời và phát triển quan hệ hợp tác quốc tế trong
lĩnh vực pháp lý nói chung và trong hoạt động tố tụng hình sự nói riêng.
Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử, chỉ từ những năm năm mơi trở đi,
khi các nớc xã hội chủ nghĩa nh Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô
viết, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và một số nớc xã hội chủ nghĩa khác
thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam thì việc hợp tác quốc tế về
pháp luật và t pháp mới bắt đầu chính thức đợc thiết lập và thực hiện trên
thực tế. Giữa Việt Nam và các nớc cha ký kết Hiệp định tơng trợ t pháp,
do đó cha hình thành cơ sở pháp lý để điều chỉnh vấn đề hợp tác quốc tế
trong hoạt động tố tụng hình sự.
1.2.2. Những quy định về hợp tác quốc tế trong luật tố tụng hình
sự Việt Nam thời kỳ từ năm 1975 đến năm 1992
Với Đại thắng mùa Xuân năm 1975, miền Nam đợc hoàn toàn giải
phóng, nớc nhà đợc thống nhất, dới sự lãnh đạo của Đảng, cả nớc bớc vào
thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong thời kỳ này, Nhà nớc ta đã
ký 6 Hiệp định tơng trợ t pháp với các nớc xã hội chủ nghĩa anh em. Vấn
đề hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự đợc quy định trong các
hiệp định trên nh sau:
Một là, về dẫn độ ngời phạm tội.
Các hiệp định đều quy định chi tiết về các nghĩa vụ dẫn độ, các trờng
hợp từ chối dẫn độ, yêu cầu dẫn độ, hoãn dẫn độ, dẫn độ tạm thời, việc chuyển
giao ngời bị yêu cầu dẫn độ và vật chứng, tái dẫn độ, dẫn độ quá cảnh đến n-
ớc thứ ba. Riêng Hiệp định tơng trợ t pháp ký với Hung-ga-ri còn có quy
hòa Pháp không đề cập tơng trợ pháp lý về hình sự.
Thứ ba, pháp luật nớc ta và pháp luật các nớc ký Hiệp định tơng trợ t
pháp với ta cũng đã có nhiều thay đổi, nhằm đáp ứng yêu cầu của tình
hình mới.
1 2