Hiệu quả của một số chính sách hỗ trợ cho phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế - Pdf 30

Trang 1
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được đề tài nghiên cứu này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, chúng tôi
còn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ về nhiều mặt từ các thầy giáo, cô giáo trong khoa; của
Chính quyền, Hội LHPN và nhân dân xã Xuân Bình.
Chúng em xin chân thành cảm ơn Thầy giáo Ths. Nguyễn Đình Khoa đã hướng dẫn,
giúp đỡ chúng em. Nhờ có sự tận tình chỉ bảo của Thầy, chúng em đã vượt qua mọi khó
khăn, trở ngại để hoàn thành đề tài.
Chúng em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa TL – GD &
CTXH đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng em trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn chính quyền địa phương, Hội LHPN và nhân dân xã
Xuân Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ chúng tôi trong quá trình điều tra thu thập thông tin phục
vụ cho nghiên cứu.
Trong quá trình thực hiện đề tài, chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót.
Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô giáo và đọc giả để đề
tài được hoàn thiện hơn.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn !
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Đình Cơ
Phan Xuân Nhựt
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 2
HLHPN Hội liên hiệp phụ nữ
PTCĐ Phát triển cộng đồng
TCCĐ Tổ chức cộng đồng
CĐ Cộng đồng
NHNN Ngân hàng nông nghiệp
ANQP An ninh – Quốc phòng
GD – ĐT Giáo dục – Đào tạo
LĐ Lao động
THCS Trung học cơ sở

quả như mong muốn.
Với tất cả những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hiệu quả của một
số chính sách hỗ trợ cho phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế” nhằm tìm hiểu về thực trạng
của việc thực hiện chính sách, qua đó chỉ ra một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng và đề
xuất một số khuyến nghị góp phần nâng cao hiệu quả của các chính sách này.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi hướng tới việc tìm hiểu thực trạng về hiệu quả của một số
chính sách hỗ trợ cho phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế tại xã Xuân Bình, thị xã Sông Cầu,
tỉnh Phú Yên; đánh giá, phân tích chỉ ra nguyên nhân dẫn đến thực trạng; từ đó đề xuất một
số khuyến nghị góp phần nâng cao hiệu quả của các chính sách này.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về chính sách xã hội và phát triển cộng đồng.
- Tìm hiểu thực trạng về hiệu quả của một số chính sách hỗ trợ cho phụ nữ nông thôn
phát triển kinh tế tại xã Xuân Bình, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.
- Chỉ ra những nguyên nhân của thực trạng trên.
- Đề xuất những khuyến nghị góp phần thực hiện các chính sách hiệu quả hơn.
3. Đối tượng, phạm vi và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Trang 4
Hiệu quả của một số chính sách hỗ trợ cho phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế ở xã
Xuân Bình, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong điều kiện và khả năng nghiên cứu còn hạn chế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
về hiệu quả của một số chính sách hỗ trợ cho phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế ở 100 phụ
nữ ( ứng với 100 hộ gia đình) ở 05 thôn của xã Xuân Bình, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.
3.3. Khách thể nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên khách thể là 100 phụ nữ (ứng với 100 hộ gia
đình) của xã Xuân Bình, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.
Cụ thể số lượng như sau:

Trang 5
6. Ý nghĩa của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp thêm vào hệ thống cơ sở lý luận của khoa học Chính
sách xã hội. Đồng thời sẽ làm tài liệu góp phần phục vụ cho nhu cầu tham khảo, nghiên cứu
của sinh viên ngành Công tác xã hội sau này.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu góp phần giúp cho chúng ta có cái nhìn đầy đủ về thực trạng hiệu
quả của một số chính sách hỗ trợ cho phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế ở xã Xuân Bình.
Từ đó đề xuất những kiến nghị góp phần giúp cho chính quyền địa phương có những định
hướng và những giải pháp thực thi những chính sách này đạt
hiệu quả cao hơn.
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Khi nói về phụ nữ, người ta thường nhắc đến cuốn sách “Vai trò của phụ nữ trong
phát triển kinh tế” của Ester Boserup (1970). Theo nhà khoa học nữ này thì cho đến những
năm 1970, những nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù phụ nữ thường là những người có đóng góp
chính vào năng suất chủ yếu của cộng đồng, nhất là trong nông nghiệp, nhưng những đóng
Trang 6
góp của họ không được tính đến trong thống kê quốc dân cũng như trong kế hoạch hoá và
thực hiện các dự án phát triển. Cuốn sách của E. Boserup đã được coi là lần đầu tiên đặt lại
vấn đề trong cách đánh giá về vai trò của phụ nữ, qua cuốn sách của mình, bà đã chứng minh
vai trò kinh tế của phụ nữ thông qua nghiên cứu phụ nữ nông dân vùng Tây Sahara, châu
Phi. Một điều mà trước đây, các nhà tạo lập chính sách và trong giới nghiên cứu kể cả những
nhà khoa học nữ đã không thấy hết và do vậy không công nhận một cách đúng đắn vai trò
kinh tế rất quan trọng của phụ nữ.
Ở Việt Nam, công trình nghiên cứu về phụ nữ đầu tiên xuất bản được phát hành rộng
rãi và dịch ra nhiều thứ tiếng là cuốn “Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại” của Lê Thị Nhâm
Tuyết (1973, 1975). Trong cuốn sách, tác giả đã phân tích những nét cơ bản về các truyền

Từ những định nghĩa và phân tích khái niệm về xã hội và chính sách như trên ta có
thể đi đến cách tiếp cận sau về chính sách xã hội. “Cái xã hội” dùng trong chính sách xã hội
là “cái xã hội” theo nghĩa hẹp. Nó đang được nhiều nhà nghiên cứu thống nhất hiểu như mối
Trang 7
quan hệ của con người, của các cộng đồng người thể hiện trên nhiều mặt của đời sống xã hội
từ chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng.
Đứng trên nhiều góc độ khác nhau, nhiều nhà nghiên cứu có sự nhìn nhận khác nhau
về chính sách xã hội, cụ thể như sau:
+ Chính sách xã hội là công cụ quan trọng của Đảng và Nhà nước để thực hiện và
điều chỉnh những vấn đề xã hội đang được đặt ra đối với con người (con người ở đây được
xét theo góc độ con người xã hội, chứ không phải là con người kinh tế, hay con người kỹ
thuật…) để thỏa mãn hoặc phần nào đáp ứng các nhu cầu cuộc sống chính đáng của con
người, phù hợp với các đối tượng khác nhau, trong những trình độ kinh tế, văn hóa, xã hội
của các thời kỳ nhất định, nhằm bảo đảm sự ổn định và phát triển của xã hội…( Phạm Tất
Dong - Chính sách xã hội)
+ “Hiểu theo ý nghĩa khái quát nhất, chính sách xã hội là hệ thống các quan điểm, cơ
chế, giải pháp và biện pháp mà Đảng cầm quyền và Nhà nước đề ra tổ chức thực hiện trong
thực tiễn đời sống nhằm kiểm soát, điều tiết và giải quyết các vấn đề xã hội đặt ra trước xã
hội” (PGS.TS Phạm Hữu Nghị).
+ Chính sách xã hội là loại chính sách được thể chế bằng pháp luật của Nhà Nước
thành một hệ thống quan điểm, chủ trương, phương hướng và biện pháp để giải quyết những
vấn đề xã hội nhất định, trước hết là những vấn đề xã hội liên quan đến công bằng xã hội và
phát triển an sinh xã hội, nhằm góp phần ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội. (PGS.TS.Lê
Trung Nguyệt).
+ Chính sách xã hội trước hết là một khoa học, chính sách xã hội phải là thành tựu
của những sự nghiên cứu nghiêm túc của khoa học xã hội, trả lời những câu hỏi của cuộc
sống, ở dạng hoạt động thực tiễn của đặc thù này. Chính sách xã hội cần được xem xét như
một lĩnh vực khoa học đặc thù, bám chắc vào sự vận động của thực tiễn, khoa học nghiên
cứu về chính sách xã hội cần phải mạnh dạn trả lời những câu hỏi đặt ra từ thực trạng kinh tế
xã hội nước ta hiện nay. (GS. Phạm Như Cương).

Hiệu quả của chính sách xã hội là ổn định xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo
đảm công bằng xã hội. Để thực hiện chính sách xã hội đạt đúng các mục tiêu, đối tượng và
hiệu quả phải có những điều kiện đảm bảo ở mức cần thiết để chính sách đi vào cuộc sống.
Chính sách xã hội phải được kế hoạch hóa bằng các chương trình, dự án có mục tiêu, hình
thành các quỹ xã hội, phát triển hệ thống sự nghiệp hoặc dịch vụ xã hội, tăng cường lực
lượng cán sự xã hội.
Chính sách xã hội còn có đặt trưng quan trọng là tính kế thừa lịch sử. Ở Việt Nam,
một chính sách xã hội đi vào được lòng người, sát với dân là một chính sách mang bản sắc
dân tộc Việt Nam, kế thừa và phát huy được tryền thống đạo đức, nhân văn sâu sắc của dân
tộc ta. Đặc biệt là lòng yêu nước, cần cù chịu khó, tính cộng đồng cao, đùm bọc lẫn nhau,
uống nước nhớ nguồn…
- Phân loại chính sách xã hội:
Có thể phân chia chính sách xã hội theo những cách khác nhau, về cơ bản có hai loại
như sau:
* Hệ thống các chính sách tác động vào các nhóm xã hội đặt thù :
• Theo tuổi tác: có chính sách xã hội với người già, trẻ em, thanh niên;
• Theo giới tính: có chính sách đối với phụ nữ;
• Theo nghề nghiệp: có chính sách đối với thợ mỏ, giáo viên, công nhân, thợ thủ
công…
• Theo sắc tộc: có chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số, người Việt Nam
định cư ở nước ngoài;
• Theo tôn giáo: có chính sách đối với đồng bào theo đạo Thiên chúa, Tin lành, Phật
giáo, Cao đài, Hòa hảo…
• Theo trình độ học vấn: có chính sách xã hội đối với những người có trình độ học
vấn cao, những tài năng khoa học và những người còn đang ở trình độ học vấn
thấp.
* Hệ thống chính sách xã hội tác động vào quá trình sản xuất và tái sản xuất:
Đây là những công cụ trực tiếp điều chỉnh quan hệ lợi ích giữa người với người, giữa
các nhóm, các tập đoàn xã hội với nhau, bao gồm:
• Chính sách dân số: có tính quốc gia và tính toàn cầu vì mức tăng trưởng dân số,

tuổi lao động, bị chết hoặc bị tai nạn lao động, bị bệnh nghề nghiệp, mất việc làm,
gặp rủi ro hoặc các khó khăn khác. Ví dụ bảo hiểm lao động, bảo hiểm nghề
nghiệp; bảo hiểm kinh doanh; bảo hiểm y tế; bảo hiểm tài sản và phương tiện…
• Chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công: là truyền thống và đạo lý “ uống
nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam.
• Chính sách cứu trợ xã hội: hướng vào việc trợ giúp những người gặp phải rủi ro,
bất hạnh, thiệt thòi trong cuộc sống, đặc biệt là người già cô đơn, trẻ mồ côi,
người khuyết tật, người bị bệnh tâm thần, người gặp phải thiên tai bất trắc. Mục
đích của chính sách này là giúp họ khôi phục sản xuất, ổn định đời sống, giữ được
mức sinh hoạt tối thiểu cần thiết để vượt qua những khó khăn.
• Chính sách giáo dục: Giáo dục là ngành đặc biệt cung cấp nguồn nhân lực cho sự
phát triển kinh tế xã hội, nhất là trong giai đoạn cách mạng khoa học công nghệ
hiện nay. Vì vậy, chính sách xã hội không thể không ưu tiên cho giáo dục. Chính
sách đầu tư phát triển giáo dục (xây dựng trường sở, phòng nghiên cứu, thí
nghiệm…); chính sách tiền lương cho giáo viên, cấp học bổng cho sinh viên, học
sinh tài năng, trợ giúp học sinh nghèo vượt khó, chính sách giáo dục miền núi,…
2.2. Phát triển cộng đồng
Trang 10
- Định nghĩa:
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về phát triển cộng đồng ( PTCĐ )
Theo quan điểm của Liên hợp quốc năm 1956: “Những tiến trình qua đó nỗ lực của
dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội, văn
hóa của các cộng đồng và giúp các cộng đồng này hội nhập vào đời sống quốc gia gọi là
PTCĐ ”.
Còn theo Murray và Ross đã đưa ra định nghĩa PTCĐ như sau:“Tổ chức cộng đồng
(TCCĐ) là một tiến trình qua đó một cộng đồng nhận rõ nhu cầu, mục tiêu của mình, sắp xếp
các nhu cầu và mục tiêu này, phát huy sự tự tin và ý muốn thực hiện chúng, tìm đến tài
nguyên (bên trong hoặc bên ngoài) để giải quyết nhu cầu hay mục tiêu ấy.Thông qua đó sẽ
phát huy thái độ và kỹ năng hợp tác với nhau trong cộng đồng ”
Một định nghĩa gần đây phản ánh xu hướng mới nhất của PTCĐ là :

Phát
huy
tiềm
năng
Hình
thành
các
nhóm
liên kết
Tăng
cường
động
lực
Trang 11
+ Bước 1: Thức tỉnh cộng đồng
Trước tiên cộng đồng cần được giúp đỡ để tự tìm hiểu và phân tích nhằm biết rõ
những vấn đề của cộng đồng, những nguyên nhân và hậu quả do các vấn đề gây ra. Bên cạnh
đó người dân cũng tự nhận ra những tài nguyên, tiềm năng, khó khăn, thuận lợi từ cộng đồng
để có cơ sở giải quyết vấn đề. Điều quan trọng là cộng đồng cần nhận ra sự hợp tác của
chính mình là yếu tố quyết định trong việc thay đổi tình trạng yếu kém hiện tại.
+ Bước 2: Tăng năng lực cộng đồng
Cộng đồng nhận ra những gì mình có mà chưa sử dụng như đất đai, cơ sở vật chất,
nhân tài, kinh nghiệm, … và những nguồn hỗ trợ từ bên ngoài như kiến thức kỹ thuật,
chuyên môn, nguồn vốn vay, … Để sử dụng và quản lý những nguồn lực này cộng đồng cần
được hỗ trợ tăng khả năng, kiến thức để cùng hành động bằng các hình thức học tập, huấn
luyện…
+ Bước 3 : Cộng đồng tự lực
Mục đích cuối cùng của PTCĐ là thông qua các tác động từ bên ngoài, với nội lực
được phát huy và tăng cường, cộng đồng sẽ trở thành cộng đồng tự lực. Cộng đồng tự lực
không có nghĩa là mọi khó khăn, khủng hoảng không còn nữa mà mỗi lần gặp khó khăn cộng

- Khái niệm phát triển kinh tế nông thôn:
Phát triển kinh tế nông thôn là một quá trình tất yếu cải thiện một cách bền vững về
kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư nông
thôn. Quá trình này, trước hết chính là sự nổ lực người dân nông thôn với sự hỗ trợ của nhà
nước và các tổ chức xã hội khác.
- Khái niệm phát triển kinh tế hộ gia đình: Phát triển kinh tế hộ gia đình là việc hộ
gia đình áp dụng các kỹ thuật tiến bộ và học tập mô hình sản xuất giỏi hợp với khả năng lao
động và điều kiện đất đai hiện có của gia đình để sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập, cải
thiện đời sống vật chất, tinh thần, vươn lên thoát nghèo góp phần xây dựng quê hương đất
nước giàu đẹp.
3. Lý thuyết ứng dụng (Thuyết vai trò)
Thuyết vai trò được ra đời với sự đóng góp lớn của khoa học xã hội học và tâm lí học
( Trean, 1971; Davis, 1986). Thuyết vai trò được đánh giá là phương pháp tiếp cận hiệu quả
đối với việc hiểu biết về con người và xã hội, vì vậy, người ta đề cập tới nhiều khái niệm liên
quan. Đó là những khái niệm:
Mơ hồ trong vai trò: là hoàn cảnh một cá nhân gặp phải khó khăn khi quyết định vai
trò nào nên làm.
Xung đột vai trò: xảy ra khi một cá nhân đối phó với sự căng thẳng vì cá nhân đó
chưa đủ khả năng để thực hiện hoặc đáp ứng các đòi hỏi của vai trò đó.
Sợ hãi vai trò: nói đến những khó khăn có thể nhận thấy trong việc hoàn thành bổn
phận của vai trò, khi mà sự căng thẳng được cảm nhận giữa hai vai trò cạnh tranh nhau, sự
căng thẳng trong sợ hãi vai trò thường chỉ xuất hiện từ một vai trò.
Thuyết này cho rằng vì mỗi cá nhân thường chiếm giữ các vị trí nào đó trong xã hội
và tương ứng với các vị trí đó là các vai trò. Vai trò bao gồm một chuỗi các chuẩn mực như
là một bản kế hoạch để chỉ đạo hành vi. Những vai trò chỉ ra cụ thể cách thức nhằm đạt được
mục tiêu và hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời cũng chỉ ra những nội dung hoạt động cần thiết
đòi hỏi phải có trong một bối cảnh hoặc tình huống có sẵn. Thuyết cũng cho rằng, một phần
các hành vi xã hội hàng ngày quan sát được chỉ đơn giản là các việc mà con người phải thực
hiện trong vai trò của họ.
Ngoài ra, thuyết cũng khẳng định, hành vi con người chịu sự chỉ đạo của những mong

dẫn đến xu hướng là nữ giới tham gia nhiều hơn trong hoạt động nông nghiệp. Họ đóng góp
công sức trong việc thực hiện các hoạt động kinh tế tạo ra thu nhập của gia đình, ổn định
cuộc sống và góp phần vào sự phát triển của xã hội.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA PHỤ NỮ XÃ XUÂN BÌNH
1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Xuân Bình là xã nằm ở phía Bắc của thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Phía Bắc giáp xã
Xuân Lộc và đầm Cù Mông, Phía Nam giáp xã Xuân Cảnh, Phía Tây giáp xã Xuân Phương
và thị xã Sông Cầu, Phía Đông giáp xã Xuân Hoà, xã Xuân Cảnh và Đầm Cù Mông. Tổng
diện tích tự nhiên là 5105 ha, trong đó: đất sản xuất nông nghiệp: 3.222,47 ha, đất sản xuất
làm muối: 135,9 ha, đất phi nông nghiệp: 389,53 ha, đất chưa sử dụng: 1353,4 ha. Có tuyến
Quốc lộ 1A chạy dọc qua với chiều dài khoảng 6km và một đường liên xã đã được nâng cấp
trải mặt nhựa nên tương đối thuận lợi cho việc đi lại cho bà con nhân dân, ngoài ra mạng
lưới giao thông dần được nâng cấp với khoảng 6km bêtông giao thông nông thôn đã được
xây dựng với chương trình nhà nước và nhân dân cùng làm, đây cũng là điều kiện thuận lợi
để phục vụ nhu cầu đi lại và lưu thông hàng hoá giữa các xã và huyện.
Địa hình xã Xuân Bình tương đối phức tạp, phía Tây Nam là núi. Độ dốc trung bình
khoảng 4
o
và thấp dần từ Tây sang Đông với kiểu địa hình tương đối bằng phẳng, phía Đông
là đầm Cù Mông. Độ cao trung bình 50m; có khí hậu nhiệt đới gió mùa, hai mùa rõ rệt trong
Trang 14
năm, mùa khô từ tháng 01 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12, lượng mưa thường
tập trung vào mùa mưa (chiếm khoảng 76% tổng lượng mưa trong năm).
Toàn xã được chia thành 5 thôn với 2112 hộ dân và 9187 nhân khẩu, trong đó nam là
4128 nhân khẩu, nữ là 5059 nhân khẩu. UBND xã nằm ở thôn Bình Thạnh. Tổng số lao
động trên địa bàn có 4133 lao động (LĐ), trong đó nam có 2216 LĐ; nữ có 1917LĐ. Trong
đó có hơn 2/3 sống bằng nghề nông nghiệp, 1/3 còn lại hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp
– dịch vụ và một số lĩnh vực khác.
Công tác giáo dục – đào tạo nhằm nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực luôn được

Đến năm 2010, toàn xã có 1001 hộ tham gia trồng rừng phát triển nhất là khu vực
phía tây của xã với diện tích trồng rừng là 2200ha.
- Chăn nuôi:
Hiện nay, đàn heo toàn xã có 4000 con, 100% heo hướng nạc, đàn bò có 1400 con, bò
lai sind có 250 con chiếm tỷ lệ 19,26%, đàn gia cầm trên địa bàn xã phát triển ổn định không
có dịch cúm xảy ra.
Trang 15
- Sản xuất muối:
Thời tiết diển biến thất thường, trong 05 năm sản xuất hiệu quả chưa cao. Được nhà
nước đầu tư nâng cấp kết cấu hạ tầng làm các cống thoát lũ nhờ đó những năm sau các tuyến
đê bao không bị xói lỡ, chi phí đầu tư đầu vụ giảm rất nhiều, tiết kiệm cho Hợp tác xã muối
và nhân dân sản xuất muối khoảng 100 - 120 triệu đồng trên năm, năng suất sản lượng muối
cũng tăng lên. Tổng sản lượng hàng năm 15.000 tấn/ 17.000 tấn, đạt 88,5% hàng năm, giá
muối bình quân tương đối cao do vậy đời sống diêm dân có bước cải thiện và nâng lên.
- Nuôi trồng thủy hải sản:
Tổng diện tích ao nuôi tôm sú tại địa phương là 41ha. Năm 2009, thả nuôi 32,67/ 41
ha tổng sản lượng 20 tấn. Giá tôm sú không cao nên lợi nhuận từ nuôi tôm không hiệu quả,
nhân dân đang tận dụng các diện tích ao hồ có nguồn nước sâu nuôi một số loài thủy sản
khác như: cá mú, cá dìa, ghẹ…để hiệu quả kinh tế cao hơn. Vận động nhân dân nuôi tôm xen
canh trên một số diện tích sản xuất muối khi mãn vụ.
* Tiểu thủ công nghiệp - thương mại - dịch vụ:
Năm 2008, được sự hỗ trợ của vốn làng nghề cấp tỉnh, đầu tư xây dựng sân phơi, kho
phục vụ cho sản xuất thảm cước xơ dừa lúc đầu hoạt động có hướng phát triển, về sau sản
phẩm sản xuất tại địa phương không đảm bảo chất lượng cạnh tranh với thị trường bên ngoài
nên hiện nay đang tạm dừng sản xuất. Thực hiện chỉ đạo của cấp trên năm 2008 tiến hành
bàn giao hệ thống lưới điện tại địa phương cho ngành điện quản lý và đang chỉ đạo giải thể
hợp tác xã điện theo quy định.
Bên cạnh đó nhiều thành phần kinh tế khác bỏ vốn ra mở nhiều trại mộc dân dụng để
sản xuất đồ gỗ, đến nay toàn xã có 4 cơ sở sản xuất đồ gỗ dân dụng, đặc biệt là doanh nghiệp
sản xuất gỗ Long Biên sản xuất ổn định tạo việc làm cho trên 100 lao động tại địa phương có

xã nông nghiệp đã phát huy và tạo điều kiện cho nhân dân khám chữa bệnh kịp thời, do đó
chất lượng khám và chữa bệnh ngày càng được nâng lên. Khám chữa bệnh bằng Đông - Tây
y kết hợp của Hội đồng y khoa bước đầu có hiệu quả.
Công tác dân số - KHHGD có nhiều chuyển biến tích cực, số cặp vợ chồng trong độ
tuổi sinh đẻ áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, hiện tại đạt trên 85%. Do đó trong 5
năm tỷ lệ phát triển dân số của xã giảm dần và còn 1% năm 2010, tỷ lệ sinh con thứ 3 từ
20% giảm xuống còn 14,2%, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng 19,4 %. Triển khai tốt công tác và
thực hiện các chiến dịch chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) - KHHGĐ, các hoạt động y
tế quốc gia, các phong trào bảo vệ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho bà mẹ và trẻ em được chú
trọng.
- Công tác văn hóa - tuyên truyền thông tin, thể dục thể thao:
Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở
khu dân cư”. Đến nay toàn xã đã có 5/5 thôn là thôn văn hóa và xã đã được công nhận là xã
văn hóa năm 2008. Số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa ngày càng tăng bình quân hộ gia
đình đạt gia đình văn hóa hàng năm trên 85% so với số hộ toàn xã. Cụ thể cuối năm 2009 có
1704 hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa tăng 87,2%.
Nhờ làm tốt công tác vận động tuyên truyền trong nhân dân thực hiện phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Các biểu hiện mê tín dị đoan và các thủ tục
lạc hậu trong nhân dân được giảm dần. Đời sống văn hóa từng bước hình thành, đi vào cuộc
sống của nhân dân nhất là vấn đề ma chay, cưới hỏi…
Bên cạnh việc xây dựng đời sống văn hóa, các hoạt động thể dục thể thao dần dần
phát triển. Hàng năm vào diệp kỷ niệm các ngày lễ lớn, Đảng ủy chỉ đạo Ủy ban xã tổ chức
các giải bóng chuyền cấp xã, các thôn đều có các đội tham gia. Đồng thời xã cử các đoàn
văn nghệ, TDTT, vận động viên tham gia giải do thị xã tổ chức như: giải bóng chuyền cấp
thị xã, lễ hội sông nước Tam Giang, và các hoạt động thể dục thể thao khác do thị xã tổ
chức…Trong 5 năm xã đạt được nhiều giải thưởng của thị xã.
Đài truyền thanh của xã được đầu tư, nghiệm thu và đưa vào sử dụng tạo điều kiện
thuận lợi cho việc tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật nhà nước
tại địa phương.
- Giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa:

giấy khen phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc.
Công tác quốc phòng thường xuyên được cũng cố. Hằng năm Đảng ủy đã triển khai
nhiệm vụ công tác quốc phòng trong năm, UBND xã đã tổ chức triển khai thực hiện có hiệu
quả Nghị quyết.
Các phương án tác chiến trị an, phương án phòng chống cháy nổ, phòng chống bão
lụt, giảm nhẹ thiên tai thường xuyên được cũng cố và bổ sung. Năm 2008 diễn tập theo kế
hoạch CT 02 được Bộ chỉ huy quân sự thị xã đánh giá xếp loại khá.
Giao quân hàng năm đạt 100% chỉ tiêu thị xã giao.
2.4. Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội nhiệm kỳ 5 năm (2011 – 2015)
* Mục tiêu tổng quát:
Tập trung khai thác tiềm năng và lợi thế tại địa phương , phát huy nội lưc hiện có và
tranh thủ các nguồn lực hỗ trợ bên ngoài để đầu tư phát triển kinh tế, đưa Xuân Bình phát
triển bền vững.Trước mắt những năm đầu tiên phát triển nông nghiệp làm nền tảng cho
những năm tiếp theo, đẩy mạnh phát triển tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ theo hướng CNH-
HĐH nông nghiệp nông thôn. Đẩy mạnh các hoạt động xã hội hóa về giáo dục, y tế, văn
hóa- xã hôi, từng bước giải quyết có hiệu quả, nâng cao dân trí, chăm sóc sức khỏe, giải
quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo cho nhân dân và giải quyết các vấn đề bức xúc đang đặt
ra giữ vững ổn định và trật tự ổn định xã hội, tăng cường công tác quốc phòng. Tiếp tục cuộc
vận động chỉnh đốn Đảng và “ Học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, nâng
Trang 18
cao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, tăng cường hiệu lực quản lý điều hành của
UBND xã, đỏi mới phương thức hoạt động của Mặt trận và cac đoàn thể nhằm đáp ứng nhu
cầu nhiệm vụ đặt ra trong thời kỳ mới.
* Các chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2015:
- Thu nhập bình quân đầu người đến năm 2015 là 11 triệu đồng.
- Sản lượng muối đạt bình quân hàng năm là 17.000 tấn.
- Sản lượng tôm thịt hàng năm là 30 tấn.
- Thu ngân sách tăng bình quân hàng năm 10% đến 15%; đến năm 2015 đạt 750 triệu
đồng.
- Xây dựng đường bê tông dài 4,5 km.

nhiên, do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau dẫn đến trình độ học vấn của
người dân nói chung và của phụ nữ nói riêng chưa tiến bộ như mong muốn.
Bảng 2: Trình độ học vấn
Trang 19
tTrình độ học vấn Tỷ lệ (%)
Tốt nghiệp tiểu học 48
Tốt nghiệp THCS 10
Tốt nghiệp THPT 8
Tốt nghiệp TC – CĐ – ĐH 5
Ý kiến khác 29
Tổng 100
Qua bảng số liệu trên, ta thấy trình độ học vấn của lao động nữ ở xã Xuân Bình là quá
thấp. Lao động nữ ở đây chủ yếu có trình độ học vấn là tốt nghiệp tiểu học (48%), trung học
cơ sở là 10% còn tốt nghiệp trung học phổ thông và các bậc cao hơn là rất thấp. Ngoài ra còn
một số lượng không nhỏ lao động nữ qua điều tra cho thấy họ không được học và chưa tốt
nghiệp tiểu học (29%).
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, bên cạnh những nguyên nhân về kinh
tế thì các quan niệm, sự nhìn nhận chưa đúng về khả năng và vai trò của phụ nữ đối với sự
phát triển xã hội là một trong những yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề này. Đây sẽ là
một trong những trở ngại lớn để phụ nữ tiếp cận các chính sách của Nhà nước.
3.3. Cơ cấu nghề nghiệp của lao động nữ
Trong những năm trở lại đây, cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước thì
cơ cấu nghề nghiệp của xã Xuân Bình nói chung đã có nhiều sự thay đổi rõ rệt. Đặc biệt là
cơ cấu nghề nghiệp dành riêng cho lao động nữ. Nếu như trước đây, lao động nữ chủ yếu tập
trung vào những ngành nghề như nông nghiệp, những nghề thủ công truyền thống … thì giờ
đây, phụ nữ đã tham gia vào nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó có dịch vụ, công nghiệp,
hành chính nhà nước. Kết quả điều tra cho thấy:
Bảng 3: Cơ cấu nghề nghiệp lao động nữ
Nghề nghiệp Tỷ lệ (%)
Làm nông 40

làm nông, làm mướn lưu động, một bộ phận phụ nữ chưa có việc làm chỉ ở nhà lo nội trợ và
những phụ nữ có con nhỏ. Số phụ nữ có mức thu nhập từ 1 triệu đến dưới 2 triệu đồng chiếm
28%, đó là những phụ nữ làm công nhân và buôn bán nhỏ. Những phụ nữ có thu nhập từ 2
triệu đồng trở lên chiếm một tỷ lệ tương đối khiêm tốn 10%, chủ yếu ở những phụ nữ là cán
bộ – công chức, một số ít làm công nhân và những phụ nữ có sự kết hợp nhiều công việc
trong quá trình phát triển kinh tế (ví dụ như vừa làm ruộng vừa buôn bán, vừa buôn bán vừa
chăn nuôi…)
Với mức thu nhập như trên, rõ ràng nó chưa thể đáp ứng một cách đầy đủ cho đời
sống của chị em phụ nữ ở xã Xuân Bình hiện nay. Kết quả thu thập còn cho thấy: có 51%
phụ nữ cho rằng với mức thu nhập này thì việc trang trãi cuộc sống còn thiếu và rất thiếu
thốn, trong đó rất thiếu thốn chiếm 15%. Số người trả lời có mức sống vừa đủ và dư dả
chiếm tỷ lệ 49% (trong đó có 2% là dư dả). Tuy nhiên, qua ý kiến của đa số các phụ nữ,
chúng tôi nhận ra rằng mức sống của họ có được như thế chủ yếu phụ thuộc vào thu nhập
của chồng, con. Ví dụ như khi được hỏi về thu nhập và mức sống có phụ nữ cho biết: “Mình
có con nhỏ, đâu có thời gian làm gì ra tiền. Cũng nhờ ảnh (chồng) đi làm thợ vôi, tiền công
cũng được trên dưới 2 triệu nên đắp qua lại, chi tiêu cũng vừa đủ”. Hay: “ Cô ở nhà mở quán
Trang 21
cũng gọi là buôn bán cho vui, một ngày bán cũng được vài ba chai nước chứ không lời lãi gì
nhiều, phần lớn là thằng con trai nó chu cấp, nhờ đó mà cuộc sống cũng không thiếu thốn
gì!..” Cũng qua đó, chúng ta thấy, đời sống của phụ nữ nông thôn còn phụ thuộc nhiều, họ
không có nhiều điều kiện để phát triển, để vươn lên khẳng định mình.
4.2. Thời gian lao động chính của phụ nữ
Trải qua các giai đoạn lịch sử, dù ở chế độ xã hội nào phụ nữ cũng luôn có những
đóng góp nhất định cho sự phát triển chung của toàn xã hội. Trong thực tế, ở hầu hết những
công việc mà phụ nữ đang đảm nhận tốn khá nhiều thời gian và công sức. Tuy nhiên, xã hội
vẫn chưa nhìn nhận và trả công xứng đáng cho họ. Đây cũng chính là nguyên nhân cản trở sự
phát triển của phụ nữ nói chung và đặc biệt là phụ nữ nông thôn nói riêng. Là một xã thuần
nông với 77,7% lao động nông nghiệp nên phụ nữ xã Xuân Bình cũng có những đặc điểm
tương tự. Bên cạnh đó, do điều kiện kinh tế – xã hội của xã Xuân Bình còn khó khăn nên đòi
hỏi người phụ nữ phải đầu tư nhiều thời gian và công sức cho công việc của mình.

Trang 22
làm mang lại còn thấp. Điều đó đòi hỏi chính quyền địa phương cần có những quan tâm
thích hợp tạo điều kiện giúp phụ nữ nâng cao được hiệu quả kinh tế từ công việc của mình.
4.3. Những khó khăn gặp phải trong quá trình phát triển kinh tế
Trong quá trình phát triển kinh tế gia đình, ngoài những thuận lợi cơ bản như được
chính quyền quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ, sự hỗ trợ nhiều mặt từ các ban ngành đoàn thể
địa phương … phụ nữ ở xã Xuân Bình cũng gặp phải không ít những khó khăn, trở ngại.
Những khó khăn, trở ngại đó là: giá cả vật chất tăng cao, thiếu vốn, khó khăn do thiên tai –
thời tiết, thiếu kiến thức kỹ thuật, thiếu đất canh tác, thiếu người làm và một số khó khăn
khác. Kết quả điều tra cho thấy:
Bảng 6: Những khó khăn chủ yếu của phụ nữ nông thôn
Những khó khăn gặp phải Tỷ lệ (%)
Thiếu vốn đầu tư 70
Thiếu kiến thức - kỹ thuật 30
Khó khăn do thiên tai – thời tiết 51
Giá cả vật chất tăng cao 75
Thiếu người làm 20
Thiếu đất canh tác 33
Khó khăn khác 10
- Khó khăn do giá cả vật chất tăng cao: Cùng với sự biến động của thị trường hiện
nay, việc giá cả vật chất tăng cao ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của phụ nữ, 75% phụ nữ
cho rằng việc giá cả vật chất tăng cao không những gây khó khăn trong việc chi tiêu cho sinh
hoạt của gia đình mà còn là trở ngại nhiều cho hoạt động sản xuất.
- Khó khăn do thiếu vốn đầu tư sản xuất: Sau hơn 20 năm đổi mới, sản xuất nông
nghiệp của nước ta phát triển khá mạnh với sự phát triển của kinh tế hộ gia đình, kinh tế
trang trại. Tuy nhiên đến nay, vẫn còn nhiều hộ nông dân túng thiếu, đói nghèo đặc biệt là
những hộ mà phụ nữ làm chủ hộ. Kết quả điều tra cho thấy có 70% phụ nữ gặp khó khăn về
nguồn vốn cho phát triển kinh tế gia đình.
- Khó khăn do thiên tai - thời tiết: có 51% phụ nữ cho rằng hoạt động kinh tế cũng
như đời sống của họ có nhiều khó khăn do thiên tai – thời tiết. Tuy đã được tham gia các lớp

đó có 1917 LĐ nữ, người lao động có tính cần cù, chịu thương, chịu khó luôn muốn phấn
đấu vươn lên thoát cảnh nghèo khó lam lũ, nếu được tạo điều kiện để họ phát triển họ sẽ tiếp
nhận và thay đổi nhanh chóng. Đây được xem là nguồn lực cơ bản rất quan trọng của địa
phương.
Trang 24
- Vị trí địa lý xã Xuân Bình vừa có đầm Cù Mông tiếp giáp biển, vừa có các đồng
bằng nhỏ nằm trong các thung lũng, lại vừa có diện tích đồi núi rộng lớn ở phía Tây Nam.
Chính đặc điểm này là một nguồn lực tạo điều kiện thuận lợi cho địa phương phát triển đa
dạng ngành nghề, tạo công ăn việc làm cho người lao động nói chung và lao động nữ nói
riêng.
- Hồ chứa nước Xuân Bình: Hồ thủy lợi phục vụ cho việc tưới tiêu và ngăn lũ của cả
khu vực phía bắc thị xã Sông Cầu. Khai thác tốt nguồn lực này địa phương sẽ chủ động được
nước tưới tiêu tăng vụ, tăng năng xuất đồng thời tận dụng nguồn nước này để phát triển diện
tích ao nuôi thủy sản nước ngọt.
- Xã Xuân Bình có tuyến Quốc lộ 1A chạy ngang qua (khoảng 6 km), có tuyến đường
giao thông liên xã (Xuân Bình – Xuân Lộc – Xuân Hải) vừa được đầu tư nâng cấp, trong
tương lai sẽ trở thành con đường huyết mạch thông thương của khu vực cánh Bắc thị xã
Sông Cầu. Đó là điều kiện để địa phương đầu tư phát triển các ngành nghề thuộc lĩnh vực
dịch vụ, mở ra cơ hội việc làm cho không ít phụ nữ.
- Cánh đồng muối Tuyết Diêm nổi tiếng từ xưa đến nay với những hạt muối có vị mặn
mà khác với vị mặn chát của những vùng sản xuất khác. Tuy nhiên, với lối canh tác truyền
thống, phụ thuộc vào thời tiết nhiều và chất lượng hạt muối làm ra chưa ổn định nên giá trị
kinh tế mang lại còn thấp. Hiện nay, người diêm dân đang được hỗ trợ bạt trải ruộng, máy
bơm để sản xuất muối sạch, nếu khai thác tốt vấn đề này bà con diêm dân sẽ có nguồn thu
nhập khá hơn.
*Nguồn ngoại lực :
Một góc cánh đồng muối Tuyết Diêm
Hợp tác xã Muối Tuyết Diêm
Sự tham gia của phụ nữ vào quá trình sản xuất
Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status