Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG………………… Luận văn
Hiệu quả của một số chính sách hỗ trợ cho
phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế
Chính vì lẽ đó, nhu cầu được quan tâm, hỗ trợ để phát triển kinh tế gia đình của người dân
nói chung và của phụ nữ nói riêng là rất lớn. Trong những năm qua, chính quyền xã và trực
tiếp là Hội liên hiệp phụ nữ xã đã triển khai thực hiện một số chính sách của Nhà nước
nhằm hỗ trợ, khuyến khích phụ nữ phát triển kinh tế gia đình, ổn định cuộc sống và tham
gia hoạt động xã hội. Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện một số chính sách hỗ trợ phụ nữ
vẫn chưa đem lại kết quả như mong muốn.
Với tất cả những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hiệu quả của
một số chính sách hỗ trợ cho phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế” nhằm tìm hiểu về thực
trạng của việc thực hiện chính sách, qua đó chỉ ra một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng
và đề xuất một số khuyến nghị góp phần nâng cao hiệu quả của các chính sách này.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi hướng tới việc tìm hiểu thực trạng về hiệu quả của một số
chính sách hỗ trợ cho phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế tại xã Xuân Bình, thị xã Sông
Cầu, tỉnh Phú Yên; đánh giá, phân tích chỉ ra nguyên nhân dẫn đến thực trạng; từ đó đề
xuất một số khuyến nghị góp phần nâng cao hiệu quả của các chính sách này.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về chính sách xã hội và phát triển cộng đồng.
- Tìm hiểu thực trạng về hiệu quả của một số chính sách hỗ trợ cho phụ nữ nông
thôn phát triển kinh tế tại xã Xuân Bình, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.
Trang 3
- Chỉ ra những nguyên nhân của thực trạng trên.
- Đề xuất những khuyến nghị góp phần thực hiện các chính sách hiệu quả hơn.
3. Đối tượng, phạm vi và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Hiệu quả của một số chính sách hỗ trợ cho phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế ở xã
Xuân Bình, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong điều kiện và khả năng nghiên cứu còn hạn chế, chúng tôi tiến hành nghiên
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng phương pháp luận Chủ nghĩa duy vật
biện chứng, phương pháp luận Chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đồng thời, chúng tôi còn sử dụng
các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp trưng cầu ý kiến.
- Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu.
Trang 4
- Phương pháp phỏng vấn.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp lân la trò chuyện với người dân.
- Phương pháp thống kê toán học, đánh giá qua kết quả thực tế điều tra.
6. Ý nghĩa của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp thêm vào hệ thống cơ sở lý luận của khoa học
Chính sách xã hội. Đồng thời sẽ làm tài liệu góp phần phục vụ cho nhu cầu tham khảo,
nghiên cứu của sinh viên ngành Công tác xã hội sau này.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu góp phần giúp cho chúng ta có cái nhìn đầy đủ về thực trạng
hiệu quả của một số chính sách hỗ trợ cho phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế ở xã Xuân
Bình. Từ đó đề xuất những kiến nghị góp phần giúp cho chính quyền địa phương có những
định hướng và những giải pháp thực thi những chính sách này đạt
hiệu quả cao hơn.
chứng minh vai trò kinh tế của phụ nữ thông qua nghiên cứu phụ nữ nông dân vùng Tây
Sahara, châu Phi. Một điều mà trước đây, các nhà tạo lập chính sách và trong giới nghiên
cứu kể cả những nhà khoa học nữ đã không thấy hết và do vậy không công nhận một cách
đúng đắn vai trò kinh tế rất quan trọng của phụ nữ.
Ở Việt Nam, công trình nghiên cứu về phụ nữ đầu tiên xuất bản được phát hành
rộng rãi và dịch ra nhiều thứ tiếng là cuốn “Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại” của Lê Thị
Nhâm Tuyết (1973, 1975). Trong cuốn sách, tác giả đã phân tích những nét cơ bản về các
truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Đặc biệt về vai trò
truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong sản xuất nông nghiệp. Cuốn sách đã trình bày
nhiều tư liệu có giá trị khoa học, gây tiếng vang trong giới nghiên cứu. Sau gần một phần
tư thế kỷ, tác giả cuốn sách “Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại” lại cho xuất bản cuốn
“Hình ảnh Phụ nữ Việt Nam trước thềm thế kỷ XXI”. Như lời giới thiệu cuốn sách của GS.
Vũ Khiêu: Cuốn sách này đã thu thập những ý kiến khác nhau xung quanh những vấn đề
lớn của người phụ nữ Việt Nam và đặc biệt là giới thiệu các kết quả thu được qua các cuộc
điều tra khoa học. Cuốn sách tập trung vào những đặc trưng của người phụ nữ Việt Nam
trong lịch sử, trong lao động nghề nghiệp, trong gia đình, trong quản lý xã hội.
Từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, có nhiều cuốn sách xuất bản với nội
dung đề cập đến vấn đề phụ nữ với phát triển kinh tế hoặc bàn về phụ nữ với phát triển
nông nghiệp, nông thôn. Để tiện theo dõi, chúng tôi chia theo một số chủ đề như sau:
Phụ nữ và phân công lao động theo giới:
Phân công lao động theo giới trong gia đình nông dân (Lê Ngọc Văn, 1999); Phân
công lao động trong kinh tế hộ gia đình nông thôn - vấn đề giới trong cơ chế thị trường (Vũ
Tuấn Huy, 1997); Phân công lao động nội trợ trong gia đình (Vũ Tuấn Huy và Deborah
Carr, 2000).
Phụ nữ với phát triển ngành, nghề:
Tìm hiểu cơ cấu kinh tế và khả năng phát triển ngành nghề của phụ nữ nông thôn
(Lê Ngọc Lân, 1997); Vấn đề ngành, nghề của phụ nữ nông thôn với quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn (Lê Thi, 1999); Phụ nữ nghèo nông thôn trong cơ
chế thị trường (Đỗ Thị Bình và Lê Ngọc Lân, 1996); Vấn đề tạo việc làm, tăng thu nhập,
nâng cao địa vị người phụ nữ hiện nay (Lê Thi, 1991); Lao động nữ di cư từ nông thôn ra
xã hội và phát triển an sinh xã hội, nhằm góp phần ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội.
(PGS.TS.Lê Trung Nguyệt).
+ Chính sách xã hội trước hết là một khoa học, chính sách xã hội phải là thành tựu
của những sự nghiên cứu nghiêm túc của khoa học xã hội, trả lời những câu hỏi của cuộc
sống, ở dạng hoạt động thực tiễn của đặc thù này. Chính sách xã hội cần được xem xét như
một lĩnh vực khoa học đặc thù, bám chắc vào sự vận động của thực tiễn, khoa học nghiên
cứu về chính sách xã hội cần phải mạnh dạn trả lời những câu hỏi đặt ra từ thực trạng kinh
tế xã hội nước ta hiện nay. (GS. Phạm Như Cương).
Từ định nghĩa về chính sách xã hội nêu trên có thể thấy rằng khái niệm chính sách
xã hội bao gồm những yếu tố cơ bản hợp thành sau đây:
Thứ nhất, chủ thể đặt ra chính sách xã hội: tổ chức chính trị lãnh đạo. Ở nước
ta là Đảng Cộng sản, Nhà nước và các tổ chức hoạt động xã hội.
Thứ hai, nội dung các chính sách xã hội dựa trên những quan điểm, tư tưởng
chỉ đạo và thể chế nào?
Thứ ba, các đối tượng của các chính sách xã hội (chung, riêng, đặc biệt).
Thứ tư, những mục tiêu nhằm đạt tới.
Trang 7
Hay nói cách khác là cần trả lời bốn câu hỏi sau:
Ai đặt ra chính sách xã hội?
Đặt chính sách xã hội cho ai?
Nội dung của các chính sách xã hội là gì?
Chính sách xã hội nhằm mục đích gì?
Như vậy, có thể coi chính sách xã hội là sự tổng hợp các phương thức, các biện
pháp của Nhà nước, của các đảng phái và những tổ chức chính trị khác, nhằm thoả mãn
nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, phù hợp với trình độ phát triển của đất nước về
kinh tế, văn hoá, xã hội … Chính sách xã hội là sự cụ thể hoá và thể chế hoá bằng pháp
luật những chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước.
- Đặc trưng của chính sách xã hội:
Chính sách xã hội bao giờ cũng liên quan trực tiếp đến con người, bao trùm mọi mặt
Trang 8
Theo tôn giáo: có chính sách đối với đồng bào theo đạo Thiên chúa, Tin lành,
Phật giáo, Cao đài, Hòa hảo…
Theo trình độ học vấn: có chính sách xã hội đối với những người có trình độ học
vấn cao, những tài năng khoa học và những người còn đang ở trình độ học vấn
thấp.
* Hệ thống chính sách xã hội tác động vào quá trình sản xuất và tái sản xuất:
Đây là những công cụ trực tiếp điều chỉnh quan hệ lợi ích giữa người với người,
giữa các nhóm, các tập đoàn xã hội với nhau, bao gồm:
Chính sách dân số: có tính quốc gia và tính toàn cầu vì mức tăng trưởng dân số,
cơ cấu và phân bố của dân cư có ảnh hưởng đến phát triển kinh tế và mức sống
của nhân dân. Do vậy, chính sách xã hội phải tác động vào cả ba quá trình này.
Ví dụ như chính sách kế hoạch hóa gia đình, chính sách di dân và phát triển vùng
kinh tế mới, chính sách định canh - định cư…
Chính sách việc làm: liên quan và quyết định đời sống của tất cả dân cư, là một
trong những yếu tố cơ bản tạo ra ổn định hay bất ổn định của xã hội. Thông
thường, nếu tỷ lệ thất nghiệp ở mức 4 - 5% thì được coi là xã hội ổn định; từ 6 -
9% có nguy cơ khủng hoảng; nếu trên 10% thì xã hội đang có nhiều cấp bách
cần phải giải quyết. Ví dụ chính sách cho vay vốn giải quyết việc làm, chính
sách dạy nghề, chính sách đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài…
Chính sách bảo hộ lao động: nhằm đề phòng và giải quyết bớt hậu quả rủi ro do
tai nạn xãy ra, bao gồm các chính sách bảo đảm an toàn như giảm độc hại, giảm
tiếng ồn, chống nóng, …và các chính sách đối với người lao động bị mắc các
bệnh nghề nghiệp, bị thương tật hay bị chết.
Chính sách tiền lương: nhằm đảm bảo mức thu nhập hợp lý và bảo đảm nguyên
tắc phân phối theo lao động. Việc quy định mức lương tối thiểu như thế nào để
vừa có thể tái sản xuất sức lao động, vừa bảo đảm cho người lao động sống bằng
nghề nghiệp của mình, đồng thời có sự đãi ngộ thỏa đáng đối với những người
có chuyên môn giỏi, tay nghề cao. Ngoài ra, cần có chính sách hợp lý để điều tiết
2.2. Phát triển cộng đồng
- Định nghĩa:
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về phát triển cộng đồng ( PTCĐ )
Theo quan điểm của Liên hợp quốc năm 1956: “Những tiến trình qua đó nỗ lực của
dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội,
văn hóa của các cộng đồng và giúp các cộng đồng này hội nhập vào đời sống quốc gia gọi
là PTCĐ ”.
Còn theo Murray và Ross đã đưa ra định nghĩa PTCĐ như sau:“Tổ chức cộng đồng
(TCCĐ) là một tiến trình qua đó một cộng đồng nhận rõ nhu cầu, mục tiêu của mình, sắp
xếp các nhu cầu và mục tiêu này, phát huy sự tự tin và ý muốn thực hiện chúng, tìm đến tài
nguyên (bên trong hoặc bên ngoài) để giải quyết nhu cầu hay mục tiêu ấy.Thông qua đó sẽ
phát huy thái độ và kỹ năng hợp tác với nhau trong cộng đồng ”
Một định nghĩa gần đây phản ánh xu hướng mới nhất của PTCĐ là :
“ Phát triển cộng đồng là một tiến trình giải quyết vấn đề qua đó cộng đồng được
tăng sức mạnh bởi các kiến thức và kỹ năng phát hiện nhu cầu và vấn đề, ưu tiên hóa
chúng, huy động tài nguyên để giải quyết chúng. PTCĐ không phải là một cứu cánh mà là
một kỹ thuật, nó nhằm vào tăng sức mạnh cho các CĐ để tự quyết định về sự phát triển của
mình và sự định hình của tương lai mình. Mục đích cuối cùng của PTCĐ là sự tham gia
chủ động với tư cách tập thể của người dân vào sự phát triển ”.
Qua các khái niệm ta có thể thấy rằng về cơ bản mục đích của PTCĐ là :
- Củng cố các thiết chế tạo điều kiện cho chuyển biến xã hội và sự tăng trưởng.
- Bảo đảm sự tham gia tối đa của người dân vào tiến trình của sự phát triển.
- Đẩy mạnh công bằng xã hội bằng cách tạo điều kiện cho các nhóm thiệt thòi nhất
được nêu lên nguyện vọng của mình và tham gia vào các hoạt động phát triển.
- Tiến trình phát triển cộng đồng:
Mục tiêu cuối cùng của PTCĐ là giúp cho cộng đồng đi từ thực trạng yếu kém để
phát triển, đóng góp vào sự phát triển của xã hội. Để đạt được mục tiêu đó PTCĐ phải có
một tiến trình với từng bước đi cụ thể.
Trang 10
nhân tài, kinh nghiệm, … và những nguồn hỗ trợ từ bên ngoài như kiến thức kỹ thuật,
chuyên môn, nguồn vốn vay, … Để sử dụng và quản lý những nguồn lực này cộng đồng
cần được hỗ trợ tăng khả năng, kiến thức để cùng hành động bằng các hình thức học tập,
huấn luyện…
+ Bước 3 : Cộng đồng tự lực
Mục đích cuối cùng của PTCĐ là thông qua các tác động từ bên ngoài, với nội lực
được phát huy và tăng cường, cộng đồng sẽ trở thành cộng đồng tự lực. Cộng đồng tự lực
không có nghĩa là mọi khó khăn, khủng hoảng không còn nữa mà mỗi lần gặp khó khăn
cộng đồng có thể tự huy động tài nguyên bên trong và bên ngoài để giải quyết vấn đề. Qua
mỗi lần như vậy cộng đồng sẽ tăng trưởng, tự lực hơn.
Trong thực tiễn PTCĐ, tiến trình này không phải lúc nào cũng cứng nhắc trong cách
áp dụng, mà điều quan trọng là tác viên PTCĐ phải thực sự vì cộng đồng, vì sự phát triển,
linh hoạt nhưng cũng phải đảm bảo được các nguyên tắc cơ bản, các bước đi cơ bản của
quá trình đó.
CĐ yếu
kém
CĐ thức
tỉnh
CĐ tăng
năng lực
Chương trình
hành động chung có
lượng giá
CĐ tự lực
Tự tìm
hiểu và
phân
tích
Huấn
luy
phát sinh các hoạt động chung, qua đó các thành viên vừa đạt được cảm xúc
tự hoàn thành nhiệm vụ vừa góp phần cải thiện an sinh cho nhóm, cả hai điều
này đều quan trọng như nhau.
Quy trình : “Hành động - Suy ngẫm rút kinh nghiệm - Hành động mới” cần
áp dụng để tiến đến những chương trình hành động chung lớn hơn, trình độ
quản lý cao hơn.
Nếu điều hành có hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn theo nhóm là dịp để tổ chức
nhóm trưởng thành.
Thiết lập mối liên kết với các tổ chức khác để có thêm hỗ trợ và hợp tác với
nhau.
2.3. Một số khái niệm liên quan
- Khái niệm phát triển kinh tế nông thôn:
Phát triển kinh tế nông thôn là một quá trình tất yếu cải thiện một cách bền vững về
kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư
nông thôn. Quá trình này, trước hết chính là sự nổ lực người dân nông thôn với sự hỗ trợ
của nhà nước và các tổ chức xã hội khác.
- Khái niệm phát triển kinh tế hộ gia đình: Phát triển kinh tế hộ gia đình là việc
hộ gia đình áp dụng các kỹ thuật tiến bộ và học tập mô hình sản xuất giỏi hợp với khả năng
lao động và điều kiện đất đai hiện có của gia đình để sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập,
cải thiện đời sống vật chất, tinh thần, vươn lên thoát nghèo góp phần xây dựng quê hương
đất nước giàu đẹp.
3. Lý thuyết ứng dụng (Thuyết vai trò)
Thuyết vai trò được ra đời với sự đóng góp lớn của khoa học xã hội học và tâm lí
học ( Trean, 1971; Davis, 1986). Thuyết vai trò được đánh giá là phương pháp tiếp cận
hiệu quả đối với việc hiểu biết về con người và xã hội, vì vậy, người ta đề cập tới nhiều
khái niệm liên quan. Đó là những khái niệm:
Mơ hồ trong vai trò: là hoàn cảnh một cá nhân gặp phải khó khăn khi quyết định vai
trò nào nên làm.
Xung đột vai trò: xảy ra khi một cá nhân đối phó với sự căng thẳng vì cá nhân đó
chưa đủ khả năng để thực hiện hoặc đáp ứng các đòi hỏi của vai trò đó.
Phụ nữ nông thôn có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển nông nghiệp,
nông thôn trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đất nước. Là một lực lượng chủ yếu
trong nông nghiệp và chiếm đông đảo trong nguồn nhân lực của đất nước, nhưng phụ nữ
nông thôn còn gặp nhiều khó khăn so với nam giới nông thôn và phụ nữ đô thị. Theo số
liệu từ Tổng điều tra dân số năm 2009, phụ nữ chiếm 50,5% số người hoạt động trong lĩnh
vực nông nghiệp (năm 1989 tỷ lệ này là 60%). Trong tổng lực lượng lao động nữ, có 68%
là hoạt động trong nông nghiệp, tỷ lệ này đối với nam giới là 58%. Vai trò của phụ nữ
trong sản xuất nông nghiệp càng trở nên quan trọng hơn trong quá trình chuyển đổi kinh tế,
với sự tham gia của lao động nữ vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng trong
khi lao động nam giảm dần. Thời kỳ 1993 - 1998, số nam giới tham gia hoạt động nông
nghiệp mỗi năm giảm 0,9%. Trong giai đoạn hiện nay, 92% số người mới gia nhập lĩnh
vực nông nghiệp là phụ nữ, vì nam giới chuyển sang các hoạt động phi nông nghiệp. Hiện
tượng thay đổi này dẫn đến xu hướng là nữ giới tham gia nhiều hơn trong hoạt động nông
nghiệp. Họ đóng góp công sức trong việc thực hiện các hoạt động kinh tế tạo ra thu nhập
của gia đình, ổn định cuộc sống và góp phần vào sự phát triển của xã hội.
Trang 13
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA PHỤ NỮ XÃ XUÂN BÌNH
1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Xuân Bình là xã nằm ở phía Bắc của thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Phía Bắc giáp
xã Xuân Lộc và đầm Cù Mông, Phía Nam giáp xã Xuân Cảnh, Phía Tây giáp xã Xuân
Phương và thị xã Sông Cầu, Phía Đông giáp xã Xuân Hoà, xã Xuân Cảnh và Đầm Cù
Mông. Tổng diện tích tự nhiên là 5105 ha, trong đó: đất sản xuất nông nghiệp: 3.222,47 ha,
đất sản xuất làm muối: 135,9 ha, đất phi nông nghiệp: 389,53 ha, đất chưa sử dụng: 1353,4
ha. Có tuyến Quốc lộ 1A chạy dọc qua với chiều dài khoảng 6km và một đường liên xã đã
được nâng cấp trải mặt nhựa nên tương đối thuận lợi cho việc đi lại cho bà con nhân dân,
ngoài ra mạng lưới giao thông dần được nâng cấp với khoảng 6km bêtông giao thông nông
thôn đã được xây dựng với chương trình nhà nước và nhân dân cùng làm, đây cũng là điều
* Sản xuất nông – lâm - ngư nghiệp:
- Nông nghiệp:
Trang 14
Năm 2006, hồ chứa nước Xuân Bình hoàn thành đưa vào sử dụng diện tích lúa tăng
vụ 3 chiếm khoảng 70 ha, do đó đã nâng sản lượng lúa bình quân lên 30 - 45 tạ/ha. Hiện
nay đã được nhân rộng giống lúa mới, có năng suất cao để sản xuất. Mặc khác một số diện
tích năng suất thấp chuyển sang trồng cây ăn quả và các loại cây khác; vận động nhân dân
chuyển 1,5 ha sang trồng rau các loại đã đem lại hiệu quả tăng gấp 2 lần so với sản xuất
lúa. Bên cạnh đó, việc tiến hành sản xuất xen canh trên một số diện tích lúa 1 vụ trồng các
loại: đậu xanh, đậu phộng, mè…đem lại hiệu quả cho người nông dân góp phần tăng thu
nhập.
Trong 5 năm, đã trồng được 75,22 ha đào (điều) cao sản với 65 hộ tham gia, bên
cạnh đó vận động nhân dân chăm sóc vườn đào cao sản có tại địa phương. Đồng thời chăm
sóc và bảo vệ phòng trừ dich bệnh bọ cánh cứng diện tích dừa hiện có, đến nay đã giảm,
dừa đang dần hồi phục và phát triển cho quả đạt 50% tổng lượng quả hàng năm.
- Lâm nghiệp:
Đến năm 2010, toàn xã có 1001 hộ tham gia trồng rừng phát triển nhất là khu vực
phía tây của xã với diện tích trồng rừng là 2200ha.
- Chăn nuôi:
Hiện nay, đàn heo toàn xã có 4000 con, 100% heo hướng nạc, đàn bò có 1400 con,
bò lai sind có 250 con chiếm tỷ lệ 19,26%, đàn gia cầm trên địa bàn xã phát triển ổn định
không có dịch cúm xảy ra.
- Sản xuất muối:
Thời tiết diển biến thất thường, trong 05 năm sản xuất hiệu quả chưa cao. Được nhà
nước đầu tư nâng cấp kết cấu hạ tầng làm các cống thoát lũ nhờ đó những năm sau các
tuyến đê bao không bị xói lỡ, chi phí đầu tư đầu vụ giảm rất nhiều, tiết kiệm cho Hợp tác
xã muối và nhân dân sản xuất muối khoảng 100 - 120 triệu đồng trên năm, năng suất sản
lượng muối cũng tăng lên. Tổng sản lượng hàng năm 15.000 tấn/ 17.000 tấn, đạt 88,5%
hàng năm, giá muối bình quân tương đối cao do vậy đời sống diêm dân có bước cải thiện
Cuộc vận động “ hai không” trong ngành giáo dục có sự chuyển biến tích cực. Cơ sở
vật chất phục vụ cho ngành giáo dục của xã ngày càng được mở rộng. Trong 5 năm bằng
nhiều nguồn vốn đã xây dựng mới 13 phòng học. Trong đó trung học cơ sở 4 phòng, Tiểu
học 6 phòng, Mẫu giáo 3 phòng, hàng năm vận động học sinh vào lớp 1 đạt 100%, tỷ lệ
học sinh tăng hàng năm và tỷ lệ khá giỏi đạt cao, cụ thể:
+ Tỷ lệ học sinh khá giỏi THCS năm 2005 - 2006 đạt 45,7%, cuối năm 2008 - 2009
đạt 43,98%.
+ Tỷ lệ học sinh khá giỏi ở Tiểu học năm 2005 - 2006 đạt 37,2 %, cuối năm 2007 -
2008 đạt 49,6%.
Xã giữ vững chuẩn quốc gia về Phổ cập giáo dục (PCGD) tiểu học đúng độ tuổi và
PCGD trung học cơ sở.
- Công tác y tế - dân số - Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ):
Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được quan tâm, nhất là công tác phòng
bệnh, phòng dịch, do đó trong 5 năm không xảy ra dịch bệnh trên địa bàn xã. Song song
với công tác phòng bệnh ngành y tế xã phối hợp với các ban ngành thường xuyên vận động
nhân dân thực hiện các chương trình y tế quốc gia. Bình quân tỷ lệ trẻ em được tiêm phòng
7 loại vắc xin đạt 95% chỉ tiêu hàng năm. Trạm y tế được tách ra khỏi phòng khám khu vực
Xuân Bình được sự quan tâm của thị xã và phòng y tế đã hoán đổi cơ sở nơi làm việc với
Hợp tác xã nông nghiệp đã phát huy và tạo điều kiện cho nhân dân khám chữa bệnh kịp
thời, do đó chất lượng khám và chữa bệnh ngày càng được nâng lên. Khám chữa bệnh bằng
Đông - Tây y kết hợp của Hội đồng y khoa bước đầu có hiệu quả.
Công tác dân số - KHHGD có nhiều chuyển biến tích cực, số cặp vợ chồng trong độ
tuổi sinh đẻ áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, hiện tại đạt trên 85%. Do đó trong 5
năm tỷ lệ phát triển dân số của xã giảm dần và còn 1% năm 2010, tỷ lệ sinh con thứ 3 từ
20% giảm xuống còn 14,2%, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng 19,4 %. Triển khai tốt công tác
và thực hiện các chiến dịch chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) - KHHGĐ, các hoạt
động y tế quốc gia, các phong trào bảo vệ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho bà mẹ và trẻ em
được chú trọng.
- Công tác văn hóa - tuyên truyền thông tin, thể dục thể thao:
Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở
lao động trong 5 năm.
Song song công tác giúp nhau làm kinh tế để cải thiện đời sống nhân trong toàn xã.
Xã còn quan tâm chú trọng phong trào đền ơn đáp nghĩa. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để
giúp đỡ các gia đình chính sách, hộ gia đình neo đơn không nơi nương tựa, hộ nghèo phấn
đấu vươn lên ngang mức sống trung bình trong toàn xã.
Trong 5 năm chỉ đạo các ban ngành đoàn thể của xã phối hợp với Uỷ ban vận động
xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa 40,922/50 triệu đồng đạt 81,8%, xây dựng và sữa chữa nhà
tình nghĩa gồm 9/5 đạt tỷ lệ 180%. Mặc khác kết hợp các nguồn vốn cấp trên đã hỗ trợ vốn
cho các đối tượng hộ nghèo có nhà tạm bợ dột nát trong 5 năm đã xây dựng 80 nhà tình
thương. Ngoài ra xã vận động nhân dân quên góp làm công tác nhân đạo và khắc phục bão
lụt…
2.3. Về quốc phòng - an ninh
Công tác QP - AN có nhiều chuyển biến tích cực các phong trào quần chúng tham
gia bảo vệ an ninh tổ quốc (ANTQ), phong trào phòng chống tội phạm, phòng chống ma
túy và các tệ nạ xã hội khác từng bước được hình thành và phát triển sâu rộng trong quần
chúng nhân dân, đã gắn kết phong trào nhân dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu
Trang 17
dân cư. Nhờ vậy những mâu thuẫn nhỏ trong nhân dân đã được giải quyết ngay tại cơ sở,
tạo sự đoàn kết, tình làng nghĩa xóm giúp đỡ lẫn nhau cùng nhau xây dựng và phát triển
kinh tế gia đình. Trong 5 năm xã đã được UBND Tỉnh, Công an tỉnh và UBND thị xã tặng
bằng khen và giấy khen phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc.
Công tác quốc phòng thường xuyên được cũng cố. Hằng năm Đảng ủy đã triển khai
nhiệm vụ công tác quốc phòng trong năm, UBND xã đã tổ chức triển khai thực hiện có
hiệu quả Nghị quyết.
Các phương án tác chiến trị an, phương án phòng chống cháy nổ, phòng chống bão
lụt, giảm nhẹ thiên tai thường xuyên được cũng cố và bổ sung. Năm 2008 diễn tập theo kế
hoạch CT 02 được Bộ chỉ huy quân sự thị xã đánh giá xếp loại khá.
Giao quân hàng năm đạt 100% chỉ tiêu thị xã giao.
2.4. Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội nhiệm kỳ 5 năm (2011 – 2015)
văn hóa, cơ quan văn hóa.
Trang 18
- Phấn đấu 100% cơ quan, đoàn thể trong sạch vững mạnh toàn diện
3. Diện mạo lao động nữ nông thôn ở xã Xuân Bình
3.1. Độ tuổi
So với một số xã lân cận trong huyện thì xã Xuân Bình là một trong những xã có tỷ
lệ phụ nữ trong độ tuổi lao động khá cao.
Bảng 1: Tỷ lệ các độ tuổi Biểu đồ thể hiện độ tuổi phụ nữ xã Xuân Bình
Độ tuổi Tỷ lệ (%)
Từ 18 đến 30 16
Từ 31 đến 45 60
Từ 46 đến 55 19
Từ 56 trở lên 5
Tổng 100
Như vậy, trong số 100 phụ nữ được điều tra có 60% phụ nữ ở độ tuổi từ 31 đến 45;
19% ở độ tuổi từ 46 đến 55; 16% ở độ tuổi từ 18 đến 30, 5% ở độ tuổi từ 56 trở lên. Với
con số này, có thể nhận thấy rằng nguồn lao động nữ của địa phương khá dồi dào; họ sẽ là
một nguồn lực lớn góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.
3.2. Trình độ học vấn
Trong những năm gần đây, chính quyền địa phương xã Xuân Bình rất quan tâm đến
vấn đề giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho địa phương. Tuy
nhiên, do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau dẫn đến trình độ học vấn của
người dân nói chung và của phụ nữ nói riêng chưa tiến bộ như mong muốn.
Bảng 2: Trình độ học vấn
tTrình độ học vấn Tỷ lệ (%)
Tốt nghiệp tiểu học 48
Tốt nghiệp THCS 10
Tốt nghiệp THPT 8
Làm nghề thủ công truyền thống 4
Buôn bán 20
Cán bộ - công chức 4
Nghề khác 21
Tổng 100
Số phụ nữ làm nghề nông (trồng trọt, chăn nuôi và làm muối) chiếm 40%; công
nhân làm tại các xưởng ở khu công nghiệp chiếm 11%, hoạt động dịch vụ (buôn bán nhỏ)
chiếm 20%; làm nghề thủ công truyền thống chiếm 4% và 4% phụ nữ có nghề nghiệp là
cán bộ công chức. Ngoài ra, có 21% phụ nữ đang hoạt động với những công việc khác
nhau như: làm tóc, làm mướn lưu động, may, nội trợ…
Biểu đồ thể hiện cơ cấu nghề nghiệp của lao động nữ 4. Thực trạng việc làm của phụ nữ xã Xuân Bình
4.1. Vấn đề thu nhập
Thu nhập là nhân tố cơ bản có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của con
người. Trong những năm qua, nhờ sự quan tâm chu đáo của chính quyền địa phương các
Tuy nhiên, so với mặt bằng chung của toàn thị xã thì mức thu nhập của người dân xã Xuân
Bình nói chung còn ở mức thấp, trong đó đặc biệt phải kể đến thu nhập của phụ nữ.
Bảng 4: Thu nhập bình quân
Mức thu nhập bình quân Tỷ lệ (%)
Dưới 5 trăm ngàn đồng 33
Từ 5 trăm đến dưới 1 triệu đồng 29
Từ 1 triệu đến dưới 2 triệu đồng 28
Từ 2 triệu đồng trở lên 10
Tổng 100
Thực tế, qua kết quả điều tra bằng bảng hỏi kết hợp với các cuộc phỏng vấn sâu cho
thấy rằng: đa số phụ nữ có thu nhập dưới 1 triệu đồng (chiếm tới 62%), trong đó có đến
33% phụ nữ có thu nhập dưới 5 trăm ngàn đồng. Con số đó tập trung chủ yếu vào những
phụ nữ làm nông, làm mướn lưu động, một bộ phận phụ nữ chưa có việc làm chỉ ở nhà lo
nội trợ và những phụ nữ có con nhỏ. Số phụ nữ có mức thu nhập từ 1 triệu đến dưới 2 triệu
đồng chiếm 28%, đó là những phụ nữ làm công nhân và buôn bán nhỏ. Những phụ nữ có
thu nhập từ 2 triệu đồng trở lên chiếm một tỷ lệ tương đối khiêm tốn 10%, chủ yếu ở những
phụ nữ là cán bộ – công chức, một số ít làm công nhân và những phụ nữ có sự kết hợp
nhiều công việc trong quá trình phát triển kinh tế (ví dụ như vừa làm ruộng vừa buôn bán,
vừa buôn bán vừa chăn nuôi…)
Với mức thu nhập như trên, rõ ràng nó chưa thể đáp ứng một cách đầy đủ cho đời
sống của chị em phụ nữ ở xã Xuân Bình hiện nay. Kết quả thu thập còn cho thấy: có 51%
phụ nữ cho rằng với mức thu nhập này thì việc trang trãi cuộc sống còn thiếu và rất thiếu
thốn, trong đó rất thiếu thốn chiếm 15%. Số người trả lời có mức sống vừa đủ và dư dả
chiếm tỷ lệ 49% (trong đó có 2% là dư dả). Tuy nhiên, qua ý kiến của đa số các phụ nữ,
chúng tôi nhận ra rằng mức sống của họ có được như thế chủ yếu phụ thuộc vào thu nhập
của chồng, con. Ví dụ như khi được hỏi về thu nhập và mức sống có phụ nữ cho biết:
“Mình có con nhỏ, đâu có thời gian làm gì ra tiền. Cũng nhờ ảnh (chồng) đi làm thợ vôi,
tiền công cũng được trên dưới 2 triệu nên đắp qua lại, chi tiêu cũng vừa đủ”. Hay: “ Cô ở
nhà mở quán cũng gọi là buôn bán cho vui, một ngày bán cũng được vài ba chai nước chứ
rằng chỉ những phụ nữ có nghề nghiệp là cán bộ công chức hay những người làm công
nhân là có mức thời gian làm việc ổn định, cụ thể. Đa số phụ nữ làm các nghề khác khá mơ
hồ khi được hỏi họ về vấn đề này. Đa số họ đều nói: “mình làm nông biết đâu mà tính, có
ngày nầy ngày kia; bữa làm 2 – 3 tiếng, bữa làm cả ngày, ngày mùa lên làm đầu tắt mặt tối,
hết mùa có ai kêu làm gì thì làm, không thì làm việc nhà, lo nội trợ, công việc loay hoay
suốt”. Hay những người buôn bán tại nhà, thời gian làm việc của họ không thể tính được,
họ nói: “còn khách còn bán, hết khách thì thôi, hay mưa gió thì nghỉ bán….”.
Mặt khác, với tính chất mùa vụ, hàng năm những phụ nữ làm muối chỉ làm từ cuối
tháng Giêng (AL) đến tháng 6,7,8 tùy theo mùa nắng kéo dài hay ngắn. Hết mùa làm muối,
những ai có ruộng thì trồng lúa, trồng rau màu còn phần lớn thì nhàn rỗi. Hay những phụ
nữ làm mướn không phải ngày nào cũng có việc, có tháng nhiều người gọi thuê nhưng có
tháng ở nhà suốt …
Như vậy, qua số liệu điều tra, tuy chúng ta thấy thời gian làm việc của phụ nữ ở đây
khá nhiều (từ 8 tiếng trở lên chiếm 50%) nhưng đặt trong mối tương quan với mức thu
nhập của họ thì chưa tương xứng (có đến 62% phụ nữ thu nhập dưới 1 triệu đồng trên
tháng). Từ đó chúng ta thấy rằng, lao động nữ nông thôn còn rẽ, hiệu quả kinh tế từ những
công việc họ làm mang lại còn thấp. Điều đó đòi hỏi chính quyền địa phương cần có những
quan tâm thích hợp tạo điều kiện giúp phụ nữ nâng cao được hiệu quả kinh tế từ công việc
của mình.
4.3. Những khó khăn gặp phải trong quá trình phát triển kinh tế
Trong quá trình phát triển kinh tế gia đình, ngoài những thuận lợi cơ bản như được
chính quyền quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ, sự hỗ trợ nhiều mặt từ các ban ngành đoàn thể
địa phương … phụ nữ ở xã Xuân Bình cũng gặp phải không ít những khó khăn, trở ngại.
Những khó khăn, trở ngại đó là: giá cả vật chất tăng cao, thiếu vốn, khó khăn do thiên tai –
thời tiết, thiếu kiến thức kỹ thuật, thiếu đất canh tác, thiếu người làm và một số khó khăn
khác. Kết quả điều tra cho thấy: Trang 22
phụ nữ nông thôn, nhất là phụ nữ nghèo có trình độ văn hóa thấp, ít được học hành, đào tạo
về kỹ năng nghề nghiệp; ít được tiếp cận với các thông tin, kiến thức khoa học – kỹ thuật
chăn nuôi, trồng trọt, bảo quản chế biến nông sản … Do vậy họ rất lúng túng, thụ động
trong sản xuất, trong phương thức làm giàu, xóa nghèo. Theo kết quả điều tra có 30% phụ
nữ có nhu cầu này.
- Khó khăn do thiếu người làm: tỷ lệ này chiếm khoảng 20%, nguyên nhân chủ yếu
do phụ nữ lao động kéo dài trong điều kiện làm việc thiếu vệ sinh, chế độ dinh dưỡng thiếu
hụt trầm trọng làm cho sức khỏe bị suy kiệt, điều đó đòi hỏi cần có người hỗ trợ họ trong
công việc của mình.
Ngoài ra, có 10% phụ nữ còn gặp phải một số khó khăn khác như : khó khăn do
sức khỏe yếu, công việc bấp bênh….
Trang 23
Biểu đồ thể hiện những khó khăn của phụ nữ trong phát triển kinh tế
10
20
30
40
50
60
70
80
Thiế u
vố n sả n
xuấ t
Thiế u
kiế n
thứ c kỹ
thuậ t
Thiên
tai
Giá cả
tăng
cao
Thiế u
ngườ i
là m
Thiế u
đấ t
canh tá c
Khá c
Khó khăn
Sự tham gia của phụ nữ vào quá trình sản xuất
Trang 24
*Nguồn ngoại lực :
Một số nguồn lực từ bên ngoài đã và đang tiếp tục được địa phương quan tâm
thu hút như là:
- Đảng và Nhà nước ngày càng quan tâm đến đời sống của người dân về mọi
mặt, đặc biệt có những chính sách ưu đãi dành cho phụ nữ như: cho vay vốn, giải quyết
việc làm, đào tạo bồi dưỡng kiến thức kỹ thuật, giáo dục, y tế…
- Xã Xuân Bình là một trong 3 xã thuộc khu vực cánh Bắc của thị xã Sông Cầu, có
vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế của toàn thị xã nên luôn nhận được sự quan tâm chỉ
đạo, lãnh đạo sâu sát và tạo điều kiện thuận lợi của chính quyền các cấp.
- Kể từ khi được bước vào hoạt động, khu công nghiệp Đông Bắc Sông Cầu đã mở
ra rất nhiều cơ hội việc làm cho các xã lân cận, trong đó có xã Xuân Bình. Với các ngành
Một góc cánh đồng muối Tuyết Diêm
Hợp tác xã Muối Tuyết Diêm
Trang 25
nghề sản xuất chủ yếu hiện nay như: làm đồ gỗ dân dụng và xuất khẩu, nguyên liệu giấy,
phân bón, … tạo thuận lợi để người dân cũng như phụ nữ lựa chọn cho mình một công việc
thích hợp, tạo thu nhập, ổn định cuộc sống.
Một số Công ty tại Khu CN Đông Bắc Sông Cầu