Hoi chung vui lap - Pdf 30


1
HỘI CHỨNG VÙI LẤP
PGS.TS. Nguyễn Văn Khơi – BV Chợ Rẫy

I. ĐẠI CƯƠNG HỘI CHỨNG VÙI LẤP (HCVL)
Chúng ta ít gặp các nạn nhân có thương tổn bò đè ép trong chăm sóc các chấn
thương hàng ngày, “nhưng” sẽ rất thường gặp trong các tình huống thảm họa. Các
thương tổn do bò đè ép sẽ gặp trên những nạn nhân bò đè ép do: động đất, sụp hầm mỏ,
sụp đất khi đang đào giếng, sụp núi, tại nạn giao thông lớn, xập cầu, nổ bom, bão xoáy,
lốc xoáy.... vấn đề mấu chốt là nỗ lực của các nhân viên cứu hộ và sự chăm sóc y tế
cho các nạn nhân. Tình trạng nạn nhân sẽ nặng lên và tỉ lệ tử vong sẽ tăng cao nếu
chăm sóc y tế chỉ được thực hiện sau khi nạn nhân được giải thoát khỏi sự đè ép. Tăng
cường chăm sóc y tế trước và trong khi giải thoát cho nạn nhân sẽ giúp ngăn chặn các
biến chứng về thận và tim mạch.
Hội chứng vùi lấp (HCVL) được mô tả trong y văn tiếng Anh lần đầu bởi Bywater
và Beal năn 1941 sau sự kiện một số nạn nhân bò đè kẹt dưới gạch vụn của tòa nhà cao
tầng bò nổ bom của Đức ở Blitz và tử vong sau đó do suy thận cấp.
II. ĐỊNH NGHĨA
- Thương tổn đè ép là thương tổn trực tiếp do sự đè ép
- Hội chứng vùi lấp (đè ép) là biểu hiện toàn thân của việc ly giải cơ vân gây ra
bởi áp lực đè ép kéo dài liên tục trên mô cơ.
- Tần suất của HCVL chiếm ít nhất là 2-5% các trường hợp tai nạn.
III. SINH BỆNH HỌC
1. Cơ chế tổn thương tế bào cơ
Sinh bệnh học của tổn thương đè ép bắt đầu với tổn thương cơ và chết tế bào
cơ. Có 3 cơ chế khởi đầu gây chết tế bào cơ:
1.1 Phá hủy tế bào lập tức: lực đè tại chỗ gây phá hủy tế bào ngay lập tức (ly giải
tế bào), cơ chế này ít quan trọng.
1.2 Áp lực trực tiếp lên các tế bào cơ: lực đè ép trực tiếp lên các tế bào cơ làm tế
bào bò thiếu máu cục bộ. Khi đó các tế bào sẽ chuyển hóa theo đường yếm khí và tạo

- Tăng phosphatase máu: làm kết tủa calci trong máu, dẫn đến hạ calcii máu và
rối loạn nhòp tim.
- Tăng kali máu và làm rối loạn nhòp tim, đặc biệt khi có toan máu và giảm calci
máu.
- Prostaglandine làm dãn mạch, tổn thương tại phổi
- Acide urique (purine): độc cho thận.
- Thromboplastine: làm đông máu nội mạch lan tỏa.
Người ta nhận thấy không có sự liên quan giữa nồng độ các chất gây độc (kali,
myoglobine) với độ nặng thương tổn do đè ép hoặc sự kéo dài thời gian bệnh nhân bò
đè ép. 3
3. Các hậu quả khác của tái phân bố dòch
- Khoang thứ ba: thoát dòch qua màng tế bào và mao mạch vào tích tụ trong mô
tổn thương gây giảm thể tích máu đáng kể và choáng giảm thể tích. Mất calci vàomô
tổn thương góp phần gây hạ calci huyết.
- Hội chứng chèn ép khoang: lớp cơ được bao quanh bởi bề mặt lớp mô căng
chặt tạo nên các khoang, khi đó mô cơ trong các khoang này bò phồng căng lên làm
trầm trọng thêm tình trạng thiếu máu cục bộ và gây tổn thương cơ nhiều thêm nữa.
Mạch máu và thần kinh trong các khoang này bò tổn thương
IV. ĐÁNH GIÁ BỆNH NHÂN BỊ HCVL
Ở bệnh nhân bò tổn thương vùi lấp, ban đầu triệu chứng cơ năng và thực thể có thể
có rất ít. Nhưng thầy thuốc khi khám bệnh phải cảnh giác sẽ là “muộn” khi chờ có các
triệu chứng cơ năng và thực thể ở chi bò đè ép mới bắt đầu điều trò. Hội chứng vùi lấp
phải được tiên liệu, công việc điều trò “nên” bắt đầu trước khi nạn nhân được giải thoát
khỏi sự đè ép.
Bệnh nhân có HCVL thường bò tổn thương nặng ở 2 chi dưới và hoặc ở vùng chậu,
ít khi tổn thương ở 1 chi trên hoặc 1 chi dưới, và có thời gian bò đè ép kéo dài. Trong
trường hợp nặng, HCVL có thể xảy ra sau 1 giờ, nhưng thường xảy ra sau từ 4 đến 6

- Tăng áp lực trong khoang khi đo bằng áp lực kế (vượt quá áp lực tưới máu mao
mạch là >30mmHg).
V. TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN HCVL
1. Tiêu chuẩn để chẩn đoán
- Có thương tổn đè ép trên một khối lượng lớn cơ xương
- Rối loạn vận động và cảm giác ở chi bò đè ép, sau đó chi bò phù, căng cứng
- Tiểu myoglobine và / hoặc tiểu ra máu
- Men créatine kinase (CK) tăng cao >1000 U/L
2. Khi có tổn thương ở thận sẽ có thêm một trong các tiêu chuẩn sau
- Thiểu niệu: thể tích nước tiểu < 400
ml
/ 24 giờ
- BUN > 40mg% (Blood urea nitrogen
- Créatinine/máu ≥ 2mg%
- Acide urique/máu > 8mg%
- Kali/máu > 6mg%
- Phosphatase/máu > 8mg%
- Calic/máu < 8mg%
Khoảng 50% nạn nhân bò HCVL bò suy thận cấp và khoảng 50% số nạn nhân này
cần lọc máu. 5
VI. ĐIỀU TRỊ
1. Tổng quát
Nạn nhân bò vùi lấp nên được khởi đầu điều trò như bệnh nhân đa chấn thương.
Đường thở phải giữ sạch, thoáng và an toàn. Đảm bảo thông khí, cung cấp oxy đầy đủ:
đánh giá qua lâm sàng và đo độ bảo hòa oxy trong máu. Hỗ trợ tuần hoàn và tích cực
điều trò chống choáng. Việc điều trò nên bắt đầu trước khi nạn nhân được giải thoát
khỏi sự đè ép.

nặng.
4. Kiềm hóa nước tiểu
Nạn nhân bò HCVL nên được duy trì lượng nước tiểu ít nhất là 300
ml
/giờ với
pH>6,5. Có thể dùng thêm lợi tiểu quai Furosemide 1mg/kg, Dopamine “liều thận” 2-
5μg/kg/phút. Nếu nước tiểu hóa kiềm hay là pH máu > 7,45, có thể dùng lợi tiểu ống
gần acetazolamide 250-500mg.
Kiềm hóa nước tiểu nên được thực hiện cho đến khi nước tiểu không còn
myoglobine thường là sau ngày thứ ba.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status