Pháp luật về quyền của người chưa thành niên phạm tội ở việt nam (TT) - Pdf 30

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VŨ THỊ THU QUYÊN
PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI
CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI Ở VIỆT NAM
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Hà Nội - 2015
Công trình đợc hoàn thành tại
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Ngời hớng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYN CNH QUí
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Luận án sẽ đợc bảo vệ trớc Hội đồng cp Hc vin
Họp tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
vào hồi giờ , ngày tháng năm 2015
Có thể tìm hiểu luận án tại
- Th viện Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
- Th viện Quốc Gia
Phn bin 3:
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.
Vũ Thị Thu Quyên (2010), "Chính sách hình sự đối với người chưa thành
niên phạm tội", Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, (6), tr.42-45.
2. Vũ Thị Thu Quyên (2010), "Yêu cầu đối với người tiến hành tố tụng
trong vụ án có người chưa thành niên phạm tội", Tạp chí Dân chủ và
Pháp luật, (9), tr.36-39.
3. Vũ Thị Thu Quyên (2010), "Pháp luật Việt Nam với việc bảo vệ quyền con
người qua nghiên cứu trường hợp người chưa thành niên phạm tội", Tạp
chí Giáo dục lý luận, (12), tr.44-48.
4. Vũ Thị Thu Quyên (2012), "Quyền của người chưa thành niên phạm tội

em, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chống vi phạm pháp luật ở người
chưa thành niên (NCTN), mặt khác tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc bảo vệ
quyền của NCTNPT.
Do nhiều nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan, một số quy phạm
pháp luật về quyền của NCTNPT còn bất cập, chưa đầy đủ, chưa đồng bộ,
thiếu thống nhất, chưa phù hợp với thực tiễn cuộc sống, thiếu tính khả thi,
lạc hậu, thậm chí mâu thuẫn… làm cho NCTNPT không được hưởng
quyền, lợi ích chính đáng của mình, không có những cơ chế pháp lý để bảo
vệ quyền của các đối tượng này; đồng thời gây khó khăn, cản trở quá trình
thực thi pháp luật.
Yêu cầu cấp thiết nghiên cứu hoàn thiện hệ thống các quy phạm pháp
luật về quyền của NCTNPT tạo cơ sở pháp lý cho việc hưởng quyền và
bảo vệ quyền của NCTNPT.
Xuất phát từ những lý do trên nghiên cứu sinh đã chọn đề tài: “Pháp
luậ t về quyề n củ a ngư ờ i chư a thành niên phạ m tộ i ở Việ t Nam” để
nghiên cứu viết luận án tiến sĩ Luật học.
2. Mục đích, nhiệm vụ của luận án
2.1. Mụ c đích củ a luậ n án
Nghiên cứu cơ sở lý luận, phân tích, đánh giá thực trạng và đề
xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền của NCTNPT ở
Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệ m vụ củ a luậ n án
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án có các nhiệm vụ sau:
Một là, phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận
án và rút ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu;
Hai là, xây dựng các khái niệm: NCTNPT; quyền của NCTNPT; pháp
luật về quyền của NCTNPT; làm rõ đặc điểm, nội dung, vai trò và tiêu chí
đánh giá pháp luật về quyền của NCTNPT; khái quát hóa các quy định pháp
luật của quốc tế và một số quốc gia về quyền của NCTNPT; làm rõ sự tương
thích của pháp luật quốc gia với quốc tế về pháp luật về quyền của NCTNPT;

lich sử, và kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng ở các chương của
luận án nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, khái quát hóa, đánh giá thực
trạng và đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền
của NCTNPT.
- Phương pháp lịch sử, thống kê, so sánh được sử dụng để đánh giá
quá trình phát triển, thực trạng pháp luật về quyền của NCTNPT.
- Phương pháp so sánh pháp luật cũng được sử dụng trong việc xác
định quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền của NCTNPT có
tính đến kinh nghiệm quốc tế về vấn đề này.
5. Đóng góp về mặt khoa học của luận án
- Là công trình khoa học đầu tiên ở cấp độ tiến sĩ nghiên cứu vấn đề
pháp luật về quyền của NCTNPT ở Việt Nam hiện nay.
- Là công trình đầu tiên nghiên cứu tương đối toàn diện vấn đề lý luận
của pháp luật về quyền của NCTNPT ở Việt Nam; xây dựng khái niệm
NCTNPT, quyền của NCTNPT, pháp luật về quyền của NCTNPT, phân tích
nội hàm các khái niệm này.
- Đã đưa ra và phân tích những đặc điểm, nội dung, vai trò và tiêu chí
của pháp luật về quyền của NCTNPT; khái quát hóa một số quy định pháp
luật điển hình của quốc tế, một số quốc gia và chỉ ra những kinh nghiệm có
thể vận dụng ở Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng pháp luật về quyền của NCTNPT; chỉ ra nội dung
tích cực, phát hiện những mâu thuẫn, sự không tương thích và bất cập trong
một số quy định của pháp luật về quyền của NCTNPT ở Việt Nam.
- Xây dựng các quan điểm, đề xuất các giải pháp mang tính toàn diện
hoàn thiện pháp luật về quyền của NCTNPT tạo cơ sở pháp lý vững chắc
cho việc thực thi pháp luật, bảo đảm quyền của NCTNPT. Những giải
pháp luận án đưa ra có tính mới, có cơ sở khoa học, góp phần giải quyết
những bất cập trong pháp luật về quyền của NCTNPT.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

chứng là người chưa thành niên với các chuẩn mực quốc tế của Viện khoa
học Kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) phối hợp với
các chuyên gia của UNICEF thực hiện trong khuôn khổ Dự án Hệ thống tư
pháp thân thiện với NCTN được ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và Quỹ
Nhi đồng của LHQ tại Việt Nam xuất bản năm 2012.
Đề tài Nghiên cứu, đánh giá, phân tích tình hình người chưa thành
niên vi phạm pháp luật và hệ thống xử lý tại Việt Nam do Viện Khoa học
pháp lý, Bộ Tư pháp thực hiện năm 2003; Đề tài Hoàn thiện các quy định về
thủ tục điều tra, truy tố và xét xử người chưa thành niên phạm tội trong Bộ
luật tố tụng hình sự năm 2003 được Viện Khoa học Kiểm sát thực hiện
năm 2008.
Dự án Tăng cường năng lực hệ thống tư pháp người chưa thành niên
tại Việt Nam được ký kết giữa Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp Việt
Nam) và Tổ chức cứu trợ trẻ em Thụy Điển (Raadda Barnen) năm 2000.
Về luận án tiến sĩ của Đỗ Thị Phượng, với đề tài Những vấn đề lý luận
và thực tiễn về thủ tục đối với người chưa thành niên trong Luật tố tụng hình
sự Việt Nam, thực hiện tại khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2008.
Trong Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 20 (tháng 12/2008) có: Đặng
Thanh Sơn có bài Pháp luật Việt Nam về tư pháp người chưa thành niên; Đỗ
Thúy Vân có bài Hoàn thiện pháp luật về xử lý chuyển hướng đối với người
chưa thành niên vi phạm pháp luật; Phạm Văn Hùng Hệ thống điều tra thân
thiện với người chưa thành niên; Nguyễn Xuân Tĩnh có bài Về thủ tục tố tụng
xét xử đối với người chưa thành niên; Nguyễn Văn Hoàn có bài Tái hòa nhập
cộng đồng đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật…
1.1.1.2. Các công trình nghiên cứ u về đả m bả o và thự c hiệ n pháp
luậ t về quyề n củ a ngư ờ i chư a thành niên phạ m tộ i
Sách chuyên khảo Phòng ngừa thanh thiếu niên phạm tội - Trách
nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội của tác giả Nguyễn Xuân Yêm
(chủ biên) do Nxb Công an nhân dân xuất bản năm 2004 (gần 500 tr);
Sách chuyên khảo Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, luật tố tụng

động tư pháp, do UNICEF ấn hành năm 2011 (115 tr.), Nxb Đại học
Oxford năm 2011; Cuốn sách: Thúc đẩy bảo vệ trẻ em xung đột với pháp
luật ở Nam Á do Liên minh Nghị viện thế giới và UNICEF phối hợp xuất
bản năm 2007 tại New York; Cuốn sách: Tòa án NCTN: Hướng dẫn của
thẩm phán cho thanh thiếu niên và cha mẹ của các em của Leora Krygier
do Nxb Scarecrow phát hành năm 2008; Cuốn sách: Bảo vệ trẻ em trong
hoạt động tư pháp đối với trẻ em xung đột với pháp luật của Maharukh
Adenwalla, do CHILDLINE India Foundation xuất bản năm 2006 với sự hỗ
trợ của PLAN International.
Bài viết: Học thuyết, nghiên cứu tâm lý học và sự phạm pháp của
NCTN của Boyd R.Mc Candles và John Mc.David, đăng trên Tạp chí
Khoa học cảnh sát và hình sự số 54.
1.2. NHẬN XÉT VỀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ TIẾP TỤC ĐƯỢC NGHIÊN CỨU
TRONG LUẬN ÁN
1.2.1. Nhận xét về các công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án
Sau khi nghiên cứu các công trình nghiên cứu hiện có ở trong và ngoài
nước đã liệt kê ở các mục trên, tác giả có một số nhận xét như sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đã đề cập những vấn đề lý luận,
pháp lý, thực tiễn về quyền trẻ em, về hoạt động tư pháp đối với NCTN trên
thế giới và ở Việt Nam.
Thứ hai, các nghiên cứu về NCTN vi phạm pháp luật nói chung, về
quyền của NCTNPT nói riêng ở trên thế giới và Việt Nam đều tiếp cận theo
hướng đa ngành.
Thứ ba, các công trình nghiên cứu, đặc biệt là các công trình ở nước
ngoài, đã cung cấp khá toàn diện về hoạt động tư pháp đối với NCTNPT ở
nhiều khu vực và quốc gia trên thế giới.
Thứ tư, các công trình nghiên cứu hiện có đã khái quát một cách khá
toàn diện, đầy đủ khuôn khổ pháp luật quốc tế về tư pháp đối với NCTNPT,
đồng thời bước đầu phân tích pháp luật của Việt Nam về vấn đề này.

BLHS, có lỗi và phải chịu hình phạt.
Quyền của người chưa thành niên phạm tội có thể được hiểu theo cả
nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng: Quyền của NCTNPT được xác định từ khi NCTN
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm xét theo quy định
của Luật hình sự và bị khởi tố cho đến khi thi hành xong hình phạt theo quy
định của pháp luật hình sự tương ứng với hành vi phạm tội của họ.
Theo nghĩa hẹp: Quyền của NCTNPT chỉ được xác định khi NCTN
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự
bị tòa án kết tội bằng bản án có hiệu lực pháp luật và cho tới khi thi hành
xong bản án. Theo nghĩa này, bất kỳ ai thực hiện hành vi phạm tội nếu chưa
có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật thì không được coi người đó có tội.
Trong luận án này, quyền của NCTNPT được hiểu theo nghĩa rộng và có
thể đưa ra khái niệm như sau: Quyền của NCTNPT là quyền của người từ đủ 14
tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm được
hưởng, được làm và được bảo vệ theo quy định của pháp luật quốc gia và luật
nhân quyền quốc tế kể từ khi người đó có bị khởi tố và trong suốt quá trình giải
quyết vụ án cho tới khi thi hành xong bản án hình sự.
2.1.2. Khái niệm pháp luật về quyền của người chưa thành niên
phạm tội
Quyền của NCTNPT được thừa nhận để đảm bảo rằng nó không bị vi
phạm các chuẩn mực quốc tế và pháp luật của các quốc gia, bảo đảm sự
bình đẳng của con người, của công dân, không phụ thuộc vào sự khác biệt
về bất cứ lý do nào, mọi hình thức phân biệt đối xử đều bị pháp luật
nghiêm cấm. Quyền của NCTNPT không thể thực hiện được nếu không ghi
nhận bằng pháp luật, thông qua đó, nghĩa vụ tôn trọng và thực thi các quyền
này trở thành những quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc và thống nhất.
Pháp luật về quyền của NCTNPT bao gồm tổng thể các quy phạm pháp
luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh giữa các cơ quan Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án (đại diện

cùng quan trọng. Xác định nguyên tắc, các quyền riêng đối với NCTNPT,
như: Hệ thống các trại cải tạo; Mục đích và lý do kết án tù; Nơi cải tạo; Việc
đối xử với NCTNPT; Đề cao giáo dục dạy nghề và hướng nghiệp, tham vấn
công ăn việc làm, phát triển thể lực, đạo đức; Lao động trong thời gian chấp
hành hình phạt tù; Thực hiện giáo dục là công việc bắt buộc.
2.2.2. Vai trò của pháp luật về quyền của người chưa thành niên
phạm tội
Thứ nhất, pháp luật về quyền của NCTNPT có vai trò thể chế hóa
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quyền của NCTNPT;
Thứ hai, pháp luật về quyền của NCTNPT có vai trò bảo vệ quyền
con người của NCTNPT;
Thứ ba, pháp luật về quyền của NCTNPT có vai trò ngăn ngừa sự vi
phạm quyền của NCTNPT;
Thứ tư, pháp luật về quyền của NCTNPT có vai trò giáo dục đối với
NCTNPT.
2.2.3. Các tiêu chí của pháp luật về quyền của người chưa thành
niên phạm tội
Tiêu chí của pháp luật về quyền của NCTNPT là những chuẩn mực
dựa vào đó để nhận biết được tính thống nhất, tính phù hợp, sự tương thích
và khả thi trong các văn bản, các quy phạm pháp luật về quyền của
NCTNPT, qua đó đánh giá thực trạng, đề ra những giải pháp nhằm hoàn
thiện pháp luật về quyền của NCTNPT:
Thứ nhất, tính thống nhất và đồng bộ của pháp luật về quyền của
NCTNPT;
Thứ hai, tính cụ thể, rõ ràng của pháp luật về quyền của NCTNPT;
Thứ ba, tính tương thích với luật quốc tế của pháp luật về quyền của
NCTNPT
Thứ tư, tính khả thi của pháp luật về quyền của NCTNPT;
Thứ năm, tính khoa học trong xây dựng pháp luật về quyền của
NCTNPT.

Thứ sáu, pháp luật về quyền của NCTNPT được quy định thông qua
các biện pháp giáo dục.
Chư ơ ng 3
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ
QUYỀN CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI Ở VIỆT NAM
3.1. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN
CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI Ở VIỆT NAM
3.1.1. Pháp luật về quyền của người chưa thành niên phạm tội từ
năm 1945 cho đến trước Hiến pháp 1959 ra đời
Thời kỳ này, công tác xây dựng pháp luật nói chung, cũng như xây
dựng những quy định về quyền của NCTNPT còn nhiều hạn chế. Có rất ít
các quy phạm pháp luật quy định trực tiếp quyền của NCTNPT. Hầu hết
các quy định về quyền của NCTNPT không được tập hợp một cách có hệ
thống, mà nằm rải rác ở các văn bản pháp luật khác nhau. Thậm chí pháp
luật về quyền của NCTNPT thường được đề cập trong các báo cáo tổng
kết có tính chất hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn của ngành Tòa án. Đặc
biệt Luật tố tụng hình sự ở nước ta thời kỳ này chưa được xây dựng thành
một bộ luật riêng. Vì thế mà các quy định về quyền của NCTNPT không
có sự đặc thù, mang tính riêng biệt cho nhóm đối tượng này.
3.1.2. Pháp luật về quyền của người chưa thành niên phạm tội từ
năm 1959 đến trước khi Hiến pháp 1980 ra đời
Trong thời kỳ này có nhiều văn bản quy định ở các mức độ khác
nhau về quyền của NCTNPT, quan trọng nhất phải kể đến:
Một là, khái niệm người vị thành niên đã được quy định trong pháp
luật. Theo đó người vị thành niên được hiểu là con trai hay con gái chưa
đủ 18 tuổi.
Hai là, pháp luật quy định một cách cụ thể giới hạn tuổi chịu TNHS.
Ba là, pháp luật về quyền của NCTNPT còn được thể hiện thông qua
quy định về TNHS có tính chất giảm nhẹ và có mục đích giáo dục là chính.
Bốn là, pháp luật về quyền của NCTNPT thể hiện thông qua trách

NCTNPT.
Thứ hai, ngày 28/6/1988 BLTTHS được thông qua, thay thế cho các
văn bản pháp luật đơn lẻ trước đây về thủ tục tố tụng đối với NCTNPT.
Quyền của NCTNPT được quy định trong Bộ luật này như sau:
- Quyền của NCTNPT được thể hiện trong quy định về người tiến
hành tố tụng;
- Quyền của NCTNPT được thể hiện trong quy định về việc áp dụng
các biện pháp ngăn chặn như việc bắt, tạm giữ, tạm giam;
- Quyền của NCTNPT được thể hiện trong các quy định về bào chữa;
- Quyền của NCTNPT được thể hiện trong các quy định về sự tham
gia tố tụng của gia đình, nhà trường và tổ chức xã hội;
- Quyền của NCTNPT được thể hiện trong các quy định về xét xử;
- Pháp luật về quyền của NCTNPT thể hiện trong các quy định về thi
hành án hình sự.
3.1.4. Pháp luật về quyền của người chưa thành niên phạm tội từ
khi có Hiến pháp 1992 cho tới nay
Để khắc phục những hạn chế trong các văn bản pháp luật quy định
quyền của NCTNPT, Nhà nước đã chú ý xây dựng hệ thống các quy định
cụ thể, chặt chẽ và đầy đủ. Biểu hiện tiến bộ là đã sửa đổi, bổ sung và ban
hành một số đạo luật mới cũng như những văn bản hướng dẫn thi hành các
đạo luật này.
Thứ nhấ t, văn bả n luậ t pháp luậ t quy đị nh về quyề n củ a NCTNPT
Một là, Quốc hội đã thông qua BLHS năm 1999 thay thế cho BLHS
1985. Các quy định trong Bộ luật này đã tạo ra hành lang pháp lý vững chắc
để NCTNPT bảo vệ quyền; đồng thời qua đó, các cơ quan tiến hành tố tụng
căn cứ vào chương X - BLHS 1999 để xác định giới hạn phải chịu TNHS
của NCTN và chính sách hình sự nhân đạo đối với NCTNPT.
Hai là, BLTTHS năm 2003 được Quốc hội thông qua, có hiệu lực thi
hành từ ngày 1/7/2004. Quyền của NCTNPT trong quá trình giải quyết vụ
án hình sự đã được quy định trong BLTTHS 2003 là căn cứ để NCTNPT

tượng này thụ hưởng, đồng thời qua đó, các chủ thể liên quan thực hiện.
Thứ hai, xét về tổng thể các quy định trong các văn bản pháp luật
hình sự về quyền của NCTNPT mang tính thống nhất, đồng bộ với các quy
định pháp luật hình sự nói chung.
Thứ ba, pháp luật về quyền của NCTNPT được quy định trong các
văn bản pháp luật hình sự khá cụ thể.
Thứ tư, từ khi tham gia Công ước quyền trẻ em đến nay, Việt Nam
đã cố gắng tới mức cao nhất để làm phù hợp giữa pháp luật quốc gia và
Công ước quyền trẻ em.
Thứ năm, các quy định trong văn bản pháp luật hình sự về quyền của
NCTNPT đã trở thành cơ sở pháp lý quan trọng để NCTNPT được làm,
được hưởng, được yêu cầu; đồng thời giúp cho các chủ thể liên quan thực
thi hiệu quả và bảo vệ quyền cho đối tượng này.
3.2.2. Pháp luật về quyền của người chưa thành niên phạm tội
trong các văn bản quy phạm pháp luật tố tụng hình sự
Thứ nhất, nhìn tổng quan, pháp luật về quyền của NCTNPT đã được
quy định tương đối đầy đủ, cụ thể trong BLTTHS và các văn bản hướng
dẫn thi hành.
Thứ hai, việc quy định thủ tục tố tụng hình sự đối với NCTNPT
không chỉ ghi nhận cho họ được hưởng sự “ưu ái” so với người đã thành
niên phạm tội, mà còn bảo vệ các đối tượng này khỏi bị tổn thương trong
quá trình giải quyết vụ án.
Thứ ba, pháp luật về quyền của NCTNPT đã được quy định cụ thể
trong các quy phạm về phạm vi áp dụng thủ tục tố tụng cho họ.
Thứ tư, pháp luật về quyền của NCTNPT được thể hiện đầy đủ, cụ thể
và sinh động trong các quy định về đối tượng chứng minh.
Thứ năm, pháp luật tố tụng hiện hành đã dần dần xác lập mô hình
điều tra, xét xử theo hướng thân thiện đối với NCTNPT.
3.2.3. Pháp luật về quyền của người chưa thành niên phạm tội
trong các văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án hình sự

hiệu quả giáo dục, phục hồi, ngăn ngừa tái phạm đối với các đối tượng này.
- Các quy định về miễn TNHS đối với NCTNPT ít nghiêm trọng
hoặc nghiêm trọng, còn ít được áp dụng do thiếu hướng dẫn cụ thể về cách
thức giám sát, giáo dục.
Thứ hai, nhữ ng hạ n chế , bấ t cậ p củ a pháp luậ t về quyề n củ a
NCTNPT trong các văn bả n pháp luậ t tố tụ ng hình sự
- Quy định trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự chưa tương
thích với các chuẩn mực quốc tế về các quyền được đảm bảo lợi ích tốt
nhất của trẻ em, quyền không biệt đối xử, quyền sống còn, phát triển.
- Hiện nay Việt Nam chưa có hệ thống tư pháp dành riêng cho
NCTN nói chung, NCTNPT nói riêng.
- Các văn bản pháp luật tố tụng hình sự chưa quy định đầy đủ, cụ thể
về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm và quyền riêng tư của
NCTNPT.
- Quy định trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự về việc áp
dụng các biện pháp ngăn chặn thể hiện nhiều điểm bất cập, hạn chế về
quyền của NCTNPT.
- Quy định về quyền của NCTNPT được nhờ người bào chữa trong
BLTTHS 2003 chưa hợp lý.
- Chưa có quy định cụ thể về quyền của NCTNPT được tiếp cận kỹ
năng làm việc thân thiện.
- Quyền được giữ bí mật thông tin cá nhân (riêng tư) của NCTNPT
quy định tại Điều 307 BLTTHS 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành
Bộ luật này chưa chặt chẽ.
- Quy định về sự tham gia của đại diện gia đình NCTNPT, nhà
trường, các tổ chức xã hội… vào quá trình tố tụng nói chung, đặc biệt vào
việc xét xử chưa cụ thể và không thống nhất với một số quy định khác.
- Quyền của NCTNPT được giải quyết vụ án với thời hạn ngắn hơn
chưa được quy định cụ thể trong pháp luật về quyền của NCTNPT
Thứ ba, nhữ ng hạ n chế , bấ t cậ p củ a pháp luậ t về quyề n củ a

Thứ tư, năng lực lập pháp của một số chủ thể có thẩm quyền còn yếu,
chưa được đào tạo về khoa học pháp lý, kỹ thuật lập pháp, chưa mang tính
chuyên môn sâu, đa số là làm việc không chuyên trách.
Thứ năm, công tác đầu tư nguồn lực cho công tác xây dựng, hoàn
thiện pháp luật về quyền của NCTNPT chưa thật sự đáp ứng yêu cầu, chưa
có lộ trình và xác định nội dung ưu tiên thích hợp.
Chương 4
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
QUYỀN CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI Ở VIỆT NAM
4.1. QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
Một là, Hoàn thiện pháp luật về quyền của NCTNPT phải quán triệt
các quan điểm, chủ trương của Đảng về quyền của NCTN.
Hai là, Hoàn thiện pháp luật về quyền của NCTNPT phải đảm bảo
yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm
đối với NCTN nói riêng.
Ba là, Hoàn thiện pháp luật về quyền của NCTNPT phải đảm bảo
tính thống nhất, đồng bộ và khả thi.
Bốn là, Hoàn thiện pháp luật về quyền của NCTNPT phải phù hợp
với các Công ước, điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, phê chuẩn,
tham gia và tiếp thu có chọn lọc các kinh nghiệm nước ngoài.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status