Đại học quốc gia hà nội
Khoa kinh tế
*************
Trơng Bảo Thanh
Xoá đói giảm nghèo ở tỉnh
quảng bình - thực trạng và giải pháp
luận văn thạc sỹ khoa học kinh tế
Hà nội - Năm 2002
- 1 -
Đại học quốc gia hà nội
Khoa kinh tế
*************
Trơng Bảo Thanh
Xoá đói giảm nghèo ở tỉnh
quảng bình - thực trạng và giải pháp
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị XHCN
Mã số : 50201
luận văn thạc sỹ khoa học kinh tế
Ngời hớng dẫn khoa học: TS. Phan Huy Đờng
Hà nội - Năm 2002
- 2 -
Lời mở đầu
Chơng 1: Những vấn đề chung về đói nghèo và xoá đói giảm
nghèo ở việt nam
1.1. Khái luận về đói nghèo.
1 1.1.1. Mối quan hệ giữa tăng trởng kinh tế, bất bình đẳng và vấn đề đói
nghèo.
1.1.1.1. Các thớc đo đánh giá tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội.
1.1.1.2. Các quan điểm về mối quan hệ giữa tăng trởng kinh tế, công
bằng xã hội và vấn đề đói nghèo.
1.1.1.3. Quan điểm của Đảng và nhà nớc Việt nam về giải quyết mối
2.1.2. Thực trạng nghèo đói ở tỉnh Quảng Bình.
2.1.2.1. Đói nghèo ở Quảng Bình.
2.1.2.2. Những đặc điểm chủ yếu của các hộ nghèo đói ở Tỉnh.
2.1.2.3. Phân tích các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói.
2.2. Hoạt động xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Quảng Bình.
2.2.2. Các hình thức xoá đói giảm nghèo ở Quảng Bình.
2.2.2.1. Tổ chức tập huấn, hớng dẫn xây dựng chơng trình mục tiêu:
2.2.2.2. Đầu t hỗ trợ ngời nghèo thông qua các chơng trình.
2.2.2.3. Hỗ trợ vật chất đột xuất cho ngời nghèo những lúc khó khăn.
2.2.2.4. Hoạt động hỗ trợ của ngân hàng phục vụ ngời nghèo và các tổ
chức đoàn thể khác.
2.2.3. Đánh giá những kết quả đạt đợc và các vấn đề đặt ra trong công tác
xoá đói giảm nghèo ở Quảng Bình.
2.2.3.1. Những kết quả đạt đợc.
- 4 -
2.2.3.2. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục giải quyết trong công tác xoá đói
giảm nghèo ở Quảng Bình.
Chơng 3:
Một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh hoạt động xoá đói
giảm nghèo ở tỉnh quảng bình
3.1. Định h ớng, mục tiêu xoá đói giảm nghèo ở Quảng Bình.
3.1.1. Những quan điểm về xoá đói giảm nghèo.
3.1.2. Mục tiêu tổng quát của chơng trình quốc gia về xoá đói giảm nghèo.
3.1.3. Mục tiêu cụ thể về xoá đói giảm nghèo của tỉnh Quảng Bình.
3.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xoá đói
giảm nghèo ở tỉnh Quảng Bình.
3.2.1. Phát triển nông nghiệp và nông thôn.
3.2.1.1. Về công tác qui hoạch và định hớng phát triển cho từng
vùng và tiểu vùng sinh thái.
3.2.1.2. Các biện pháp tăng năng suất đất canh tác nông nghiệp.
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Hiện nay, xoá đói giảm nghèo đợc mọi quốc gia trên thế giới coi nh một yêu
cầu, đòi hỏi bắt buộc về mặt đạo đức, xã hội, văn hoá, kinh tế chính trị. Bởi vì
đói nghèo không những là lực cản lớn nhất của sự phát triển mà nó còn gây nên
- 6 -
sự tàn phá ghê gớm về đạo đức tinh thần, làm thiếu an toàn xã hội, làm suy kiệt
kinh tế và làm suy sụp về chính trị, phơng hại đến an ninh.
Đối với Việt nam trong giai đoạn hiện nay, xoá đói giảm nghèo là một trọng
trách lớn của toàn Đảng, toàn dân. Đảng, chính phủ, nhân dân Việt nam cùng
nhiều tổ chức trong nớc và quốc tế tại Việt nam đang cùng nhau tìm kiếm
những giải pháp tiếp cận để giảm tỷ lệ nghèo đói, đặc biệt là ở các vùng khó
khăn, vùng dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng sâu, vùng xa.
Việt nam có tổng dân số khoảng trên 76 triệu ngời thuộc 54 dân tộc khác nhau.
Gần 80 % dân số làm nông nghiệp tại các vùng nông thôn và vùng dân tộc thiểu
số vùng sâu, vùng xa nơi tập trung hầu hết các hộ nghèo đói.
Trong thời gian vừa qua, Đảng và nhà nớc ta đã có nhiều biện pháp đẩy mạnh
công tác xoá đói giảm nghèo, cùng với sự trợ giúp của các tổ chức trong nớc và
quốc tế trong hoạt động xoá đói giảm nghèo. Việt nam đã thu đợc những kết
quả bớc đầu rất khả quan thể hiện ở tăng mức chi tiêu bình quân trên đầu ngời.
Số ngời có chi tiêu trên đầu ngời thấp hơn mức nghèo đói đã giảm mạnh từ 58
% năm 1993 xuống 37 % năm 1998. Số ngời sống dới ngỡng nghèo lơng thực,
thực phẩm đã giảm từ 25 % xuống còn 15 % (theo ngỡng nghèo năm 1993, đã
có sự điều chỉnh về giá cả).
Thực tế trên cho thấy rằng, chính sách xoá đói giảm nghèo của Đảng và nhà nớc
có nhiều u việt. Song, việc triển khai thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo
đến các vùng khó khăn vẫn còn nhiều lúng túng, bất cập và thiếu đồng bộ.
Nhiều cán bộ đợc giao triển khai các chính sách của chính phủ đến các vùng
Bình.
4. Đối t ợng và phạm vi nghiên cứu:
- 8 -
Nghiên cứu thực trạng về nghèo đói ở Việt nam, đi sâu tìm hiểu thực trạng
nghèo đói ở tỉnh Quảng Bình, các nguyên nhân sâu xa dẫn đến nghèo đói ở tỉnh
Quảng Bình.
5. Ph ơng pháp nghiên cứu:
Đề tài vận dụng các phơng pháp duy vật biện chứng, phơng pháp duy vật lịch sử
của chủ nghĩa Mác - Lênin và các phơng pháp nghiên cứu khoa học khác nh
tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh vv...
6. Đóng góp của đề tài:
- Phân tích rõ đợc về thực trạng nghèo đói ở tỉnh Quảng Bình.
- Phân tích làm rõ những nguyên nhân dẫn đến nghèo đói tại tỉnh Quảng Bình.
- Đa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác xoá đói, giảm nghèo ở tỉnh
Quảng Bình.
7. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đợc chia làm 3 ch-
ơng theo chi tiết dới đây:
Chơng 1: Những vấn đề chung về đói nghèo và xoá
đói giảm nghèo ở việt nam
1.1. Khái luận về đói nghèo.
2 1.1.1. Mối quan hệ giữa tăng trởng kinh tế, bất bình đẳng và vấn đề đói
nghèo.
1.1.1.1. Các thớc đo đánh giá tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội.
3 1.1.1.1.1. Thớc đo mức độ tăng trởng và nhu cầu xã hội của con ngời:
- 9 -
Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến sự phát triển
bền vững của đất nớc mà nội dung của sự phát triển bền vững trớc hết là đảm
bảo tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội.
Tăng trởng kinh tế là sự gia tăng về thu nhập của nền kinh tế trong một thời kỳ
nớc...
Để so sánh trình độ phát triển của các nớc, Liên hợp quốc đã sử dụng chỉ
tiêu GNP/ngời. Nhng thực tế cho thấy không phải nớc nào có thu nhập cao thì
trình độ dân trí cũng cao. Chính vì vậy, năm 1990, cơ quan phát triển con ngời
của Liên hợp quốc đã đa ra chỉ số phát triển con ngời (HDI). Đây là chỉ tiêu kết
hợp và lợng hoá từ ba chỉ tiêu phản ánh nhu cầu cơ bản của con ngời, đó là: chỉ
tiêu tuổi thọ bình quân, trình độ văn hoá (tỷ lệ biết chữ và số năm đi học bình
quân) và chỉ tiêu GNP/ngời.
Chỉ số HDI đợc đa ra để so sánh trình độ phát triển của các nớc đã làm
đảo lộn vị trí của nhiều nớc so với cách xếp hạng theo chỉ tiêu GNP/ngời. Chỉ số
HDI đã chỉ rõ nhiều nớc có thu nhập cao, nhng do chính sách kinh tế - xã hội
không chú ý đến việc nâng cao dân trí một cách thích đáng, nên vị trí của các n-
ớc đó xếp theo HDI lại giảm; còn một số nớc khác tuy thu nhập thấp hơn, nhng
giáo dục, y tế đợc chú ý phát triển nên vị trí xếp hạng theo HDI lại tăng lên.
1.1.1.1.2. Thớc đo mức độ bình đẳng trong phân phối thu nhập.
Bên cạnh các chính sách kinh tế - xã hội đã đợc đề cập đến qua chỉ số HDI,
một số vấn đề khác cũng cần đợc xem xét là vấn đề phân phối thu nhập. Thực tế
cho thấy ở nhiều quốc gia sau một thời gian, mặc dù có tốc độ tăng trởng kinh
tế rõ rệt, nhng đời sống của nhiều ngời dân vẫn ở mức nghèo khổ, thất nghiệp
gia tăng và ở một số nớc số đông ngời dân không đợc hởng thành quả do tăng
trởng đem lại, trong khi nhóm ngời giầu có vẫn tiếp tục giầu lên. Rõ ràng tăng
trởng là điều kiện cần nhng cha đủ để cải thiện đời sống vật chất và các vấn đề
- 11 -
xã hội cho nhân dân. Có thể đo đợc mức độ bình đẳng trong phân phối thu nhập
hay không? Các nhà kinh tế học và xã hội học đã đa ra nhiều cách đo, nhng một
trong những công cụ biểu đạt mức độ bất bình đẳng đợc sử dụng trong kinh tế
học là đờng cong Lorenz mang tên nhà kinh tế học nêu lên học thuyết này và
hệ số gini mang tên nhà thống kê học đã đa ra hệ thống này.
Để nghiên cứu mức độ chênh lệch trong phân phối thu nhập, ngời ta chia dân số
của một nớc ra làm 5 nhóm mỗi nhóm là 20 % dân số, từ nhóm có thu nhập
toàn bộ thu nhập đờng cong Lorenz sẽ chạy theo cạnh đáy và đờng vuông góc
bên phải. Cả hai cách phân phối này đều không có trong thực tế và bất kỳ sự
phân phối thực tế nào cũng đều nhằm vào giữa hai cực này. Nếu thu nhập của
nhóm ngời nghèo giảm đi và thu nhập của nhóm ngời giầu tăng lên thì đờng
cong Lorenz càng cách xa đờng 45 độ, có ý nghĩa là sự bất bình đẳng gia tăng.
Ngợc lại khi thu nhập của nhóm ngời nghèo tăng lên và của nhóm ngời giầu
giảm đi thì đờng cong Lorenz sẽ gần với đờng 45 độ hơn, có nghĩa là sự bất
bình đẳng giảm bớt.
Dựa trên cơ sở đờng cong Lorenz các nhà thống kê học cũng tìm ra một thớc đo
có thể biểu diễn cụ thể hơn và lợng hoá đợc mức độ bất bình đẳng trong phân
phối thu nhập đó là hệ số gini. Hệ số gini đợc tính toán trên cơ sở đờng cong
Lorenz. Nếu phần diện tích đợc giới hạn bởi đờng 45 độ và đờng cong lorenz đ-
ợc ký hiệu là (a) thì hệ số gini đợc tính nh sau:
Diện tích (a)
Hệ số Gini =
Diện tích tam giác OAB (Xem đồ thị 1)
Có thể thấy rằng, về mặt lý thuyết giá trị của hệ số gini là từ 0 (hoàn toàn bình
đẳng) đến 1 hoàn toàn bất bình đẳng. Nhng thực tế giá trị của hệ số gini chỉ
nằm trong khoảng từ 0 đến 1, (0 <hệ số Gini <1). Dựa vào những số liệu thống
- 13 -
kê nhiều năm của nhiều nớc ngân hàng Thế giới nhận thấy rằng, trong thực tế
giá trị của hệ số Gini thay đổi trong phạm vi hẹp hơn từ 0,2 0,65 và đối với
những nớc có thu nhập thấp hệ số Gini biến động từ 0,3 0,5 đối với những n-
ớc có thu nhập trung bình, hệ số Gini biến động từ 0,4 0,65; và đối với
những nớc có thu nhập cao thì hệ số này biến động trong khoảng từ 0,2 0,4.
Từ đó ngân hàng Thế giới cũng đa ra nhận xét rằng hệ số Gini tốt nhất thờng
xoay quanh mức 0,3. Phần lớn các quốc gia thuộc thế giới thứ ba có hệ số Gini
tính theo mức chi tiêu hoặc mức thu nhập đều giao động trong khoảng 0,3
0,6. So sánh hệ số Gini về chi tiêu bình quân đầu ngời của Việt nam và một số
nớc trên thế giới đợc phản ánh nh sau:
làm tốt lên hay xấu đi, hay không có tác dụng rõ rệt đối với phân phối thu nhập
và phạm vi nghèo đói ở các nớc đang phát triển. Các nhà kinh tế học hiện nay
không có bất cứ hiểu biết chắn nào về các nhân tố đặc thù tác động đến sự thay
đổi trong phân phối thu nhập theo thời gian ở những nớc cụ thể. Giáo s Kuznets
ngời đã đi tiên phong trong việc phân tích các mô hình tăng trởng trong quá khứ
của các nớc phát triển đơng thời, đã nói rằng trong những giai đoạn đầu của
tăng trởng kinh tế, tình hình phân phối thu nhập thờng xấu đi nhng nó sẽ tốt lên
ở giai đoạn sau. Trong tác phẩm sự tăng trởng kinh tế của các nớc xuất bản
năm 1971, ông đã đa ra lý thuyết phát triển cân bằng. Theo ông, phát triển là
một quá trình cân bằng, trong đó các nớc tiến lên một bớc vững chắc. Trong tác
phẩm này, Kuznets cũng chú ý tới quan hệ giữa tổng sản phẩm quốc dân bình
quân đầu ngời và sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập. Dựa vào số liệu
thu thập đợc ở các nớc có mức thu nhập giầu, nghèo khác nhau trong một thời
kỳ dài, ông cho rằng mối quan hệ giữa tăng tổng sản phẩm quốc dân bình quân
đầu ngời và sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập có dạng hình chữ U ng-
ợc. Điều này đợc minh hoạ bằng đồ thị sau:
Gini
0,6
0,3
- 16 -
Đồ thị 2 GNP/ngời
Theo Kuznets ở một nớc nghèo, mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
là thấp, thể hiện ở hệ số gini khá nhỏ (hệ số gini khoảng 0,2 0,3). Nhng khi
nền kinh tế tăng trởng hơn, thu nhập quốc dân bình quân đầu ngời tăng lên thì
sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập cũng tăng lên và đạt cực đại ở mức
trung bình của mức thu nhập. Sau đó mặc dù nền kinh tế tiếp tục tăng trởng, thu
nhập bình quân đầu ngời tiếp tục tăng nhng sự không công bằng trong phân
phối thu nhập sẽ giảm dần cho đến khi thu nhập bình quân đầu ngời đạt tới mức
đặc trng của một nớc công nghiệp phát triển. Thông qua các số liệu thống kê
của ngân hàng Thế giới, nhiều nhà kinh tế học hiện đại cho rằng mô hình của
động tăng lên không có sự thay đổi về tiền công. Và trong khoảng này, khu vực
công nghiệp có thể thuê mớn bao nhiêu lao động tuỳ ý mà không phải tăng lơng
cho họ vì việc thuê mớn đó hoàn toàn không giảm đầu ra (lơng thực) trong nông
nghiệp. Nhng khi lao động bị hút vào công nghiệp quá mức Wo tức là đờng
cung lao động vợt quá điểm E thì khi đó sẽ giảm đầu ra của nông nghiệp, dẫn
đến giá cả sản phẩm nông nghiệp tăng lên, do đó tiền công ở khu vực công
nghiệp phải tăng lên tơng ứng. Điểm E trên đờng cung lao động cho công
nghiệp đợc gọi là điểm ngoặt, phản ánh những thay đổi khi lao động đợc tiếp
tục rút ra khỏi khu vực nông nghiệp sau mức Lo.
Từ những trình bày trên đây, A. Lewis kết luận:
Thời gian đầu của quá trình tăng trởng thì bất bình đẳng tăng lên vì qui mô sản
xuất công nghiệp ngày càng mở rộng làm cho lao động từ nông nghiệp chuyển
- 18 -
sang công nghiệp ngày càng tăng nhng tiền công của công nhân nói chung vẫn
ở mức tối thiểu; và trong khi tiền công không thay đổi thì thu nhập của các nhà
t bản tăng lên do mở rộng qui mô sản xuất. Vì thế trong giai đoạn này đại bộ
phận những ngời lao động là nghèo khổ, chỉ có một số ít các nhà t bản trở lên
giầu có. Nhng sang giai đoạn sau của quá trình tăng trởng, bất bình đẳng giảm
bớt vì khi lao động d thừa đã đợc hút hết vào khu vực công nghiệp thì lao động
trở thành một yếu tố khan hiếm của sản xuất. Khi đó nhu cầu lao động tăng lên
đòi hỏi tiền lơng cũng phải tăng lên và sự tăng lên về tiền lơng dẫn đến giảm bớt
sự bất bình đẳng.
Nh vậy theo A. Lewis, tăng trởng diễn ra trớc bình đẳng diễn ra sau, chỉ trên cơ
sở tăng trởng mới dẫn đến làm giảm bớt bất bình đẳng xã hội. Song sự bất bình
đẳng không chỉ là kết quả của tăng trởng mà còn là điều kiện cần thiết của tăng
trởng. Trong sự bất bình đẳng đó, những ngời có thu nhập cao sẽ dành một phần
đáng kể thu nhập của mình cho tích luỹ dẫn đến tăng đầu t, từ đó thúc đẩy tăng
trởng kinh tế nhanh hơn. Vì vậy, các cố gắng để phân phối lại thu nhập một
cách vội vã, không đúng lúc dẫn đến nguy cơ bóp nghẹt sự tăng trởng kinh tế.
1.1.1.2.3. Quan điểm của Harry oshima.
Sau đó cùng với quá trình phát triển công nghiệp, tiền lơng trong nông nghiệp
cũng dần dần tăng lên. Khi đó xuất hiện xu hớng sử dụng máy móc thay thế lao
động chân tay vì lúc này sử dụng máy móc rẻ hơn. Trong điều kiện đó, có thể
chuyển nhiều lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp ở thành thị, trong khi ở
nông thôn, sản xuất lơng thực vẫn tiếp tục tăng.
Khi các ngành công nghiệp phát triển, có thể tìm đợc thị trờng xuất khẩu mạnh
mẽ, sẽ tăng sức hút lao động mạnh hơn nữa. Điều này dẫn đến cầu về lao động
vợt quá cung về lao động. Do đó, ở nông thôn đạt đến mức độ đủ việc làm, tiền
công cũng tăng lên.
- 20 -
Nh vậy, theo H. oshima tăng trởng kinh tế sẽ kéo theo vấn đề công bằng xã hội.
Và khi công bằng xã hội đạt đợc ở mức độ nào đó lại là tiền đề để thúc đẩy tăng
trởng kinh tế hơn nữa.
1.1.1.2.4. Quan điểm của Các Mác về phân phối bất bình đẳng
trong xã hội t bản chủ nghĩa.
Theo Mác phân phối thu nhập quốc dân lần đầu trong xã hội t bản chủ nghĩa đ-
ợc chia làm hai phần:
- Phần thứ nhất: ngời lao động nhận đợc tiền công Mác ký hiệu là V
- Phần thứ 2: thu nhập của nhà t bản và địa chủ ( Mác ký hiệu là m)
Nếu nh tiền công của công nhân chỉ đủ sống cho bản thân và gia đình họ thì
phần thu nhập của nhà t bản và địa chủ ngoài việc chi tiêu cho gia đình, nhà t
bản và địa chủ còn tích luỹ một phần để tái sản xuất mở rộng. Với sự tích luỹ
đó, nhà t bản và địa chủ lại mở rộng sản xuất, thuê thêm công nhân do đó họ
ngày càng giầu thêm, còn công nhân ngày càng nghèo đi.
Các nhà kinh tế t sản cho rằng trong chủ nghĩa t bản tài sản là yếu tố quan
trọng nhất, do đó phân phối theo tài sản là phơng thức phân phối cơ bản. Theo
Mác trong chủ nghĩa t bản, tài sản tập trung trong tay một số ngời giầu, còn đại
bộ phận dân c chỉ có sức lao động. Vì thế việc phân phối theo tài sản chính là
làm tăng tính bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, đó là sự phân phối tạo
nên kẻ bóc lột và ngời bị bóc lột. Từ đó Mác dự đoán hình thức phân phối công
Việc chấp nhận quan điểm này đã khiến cho các cá nhân lẫn tập thể đều không
còn mấy quan tâm tới vấn đề về đói nghèo và phân phối thu nhập. Nếu nh tình
trạng bất công phổ biến là điều kiện cần thiết để có tăng trởng tối đa, và nếu
tăng trởng tối đa là điều kiện cần thiết để nâng cao mức sống cho tất cả mọi ng-
ời theo nguyên tắc ngấm xuống tự nhiên trong kinh tế cạnh tranh và kinh tế
hỗn hợp, thì cũng theo học thuyết này suy ra rằng sẽ không còn có mối quan
- 22 -
tâm trực tiếp đến xoá đói giảm nghèo nữa. Lý thuyết này chỉ ủng hộ cho sự tích
luỹ của cải cho một nhóm ngời thợng lu đầy quyền lực.
Lập luận này cho rằng thu nhập cá nhân và công ty cao là điều kiện để
tiết kiệm và đầu t, tăng trởng kinh tế. Đất nớc càng có khả năng tiết kiệm thì tốc
độ tăng trởng của nó càng nhanh. Nếu ngời giầu tiết kiệm và đầu t một tỷ lệ
đáng kể trong thu nhập của họ trong khi ngời nghèo tiêu tất cả thu nhập của họ
vào hàng tiêu dùng, và nếu tỷ lệ tăng GNP trực tiếp liên quan đến phần thu nhập
quốc dân đợc đa vào tiết kiệm thì rõ ràng một nền kinh tế có phân phối thu nhập
rất không công bằng sẽ tiết kiệm đợc nhiều hơn và tăng trởng nhanh hơn nền
kinh tế có thu nhập công bằng.
Có 4 lý do để có thể giải thích tại sao chúng ta cho rằng lập luận này
không đúng, và tại sao mức công bằng cao hơn ở các nớc đang phát triển trên
thực tế có thể là một điều kiện để tăng trởng kinh tế lâu dài.
- Thứ nhất là thực tế hàng loạt các số liệu thu thập gần đây xác nhận, đã
chứng tỏ một điều là không giống nh kinh nghiệm lịch sử của các nớc phát triển
hiện nay, ngời giàu ở những nớc đang phát triển không có tính căn cơ hay ý
muốn tiết kiệm và đầu t một phần đáng kể trong thu nhập của họ vào nền kinh
tế trong nớc. Ngợc lại, địa chủ, thơng gia, chính khách và những nhóm ngời th-
ợng đẳng khác nổi tiếng là những ngời luôn xài hàng ngoại nhập xa xỉ, ở những
ngôi nhà đắt tiền vv... từ đó không đóng góp đợc gì cho tiềm lực sản xuất quốc
gia.
- Thứ hai: thu nhập thấp và mức sống thấp của ngời nghèo thể hiện ở tình
trạng sức khoẻ kém, dinh dỡng và giáo dục kém, có thể làm giảm năng suất
việc làm để có thu nhập là giải pháp quan trọng hàng đầu.
- 24 -
+ Tiến hành hợp tác hoá trong nông nghiệp để giải quyết vấn đề sở hữu đất
đai, làm cơ sở để thực hiện phân phối theo lao động ở nông thôn - một phơng
thức phân phối cơ bản của chủ nghĩa xã hội.
+ Thực hiện phân phối công bằng về thu nhập thông qua chính sách hai giá,
chính sách phân phối hiện vật qua chế độ tem phiếu. Tuy nhiên trong thực tế,
mục tiêu về tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội đã không đạt đợc nh định h-
ớng và rơi vào tình trạng phân phối bình quân chủ nghĩa.
Tóm lại, thời kỳ này coi trọng việc phân phối theo kiểu bình quân, nhng đó
lại là sự công bằng trong nghèo khó. Kết quả là, phân phối bình quân đã kìm
hãm sự tăng trởng và phát triển kinh tế đất nớc.
- Giai đoạn phát triển kinh tế theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà n-
ớc định hớng xã hội chủ nghĩa.
Từ năm 1986 đến nay, đất nớc ta về cơ bản đã chuyển từ nền kinh tế vận
hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế vận
hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc định hớng xã hội chủ
nghĩa. Sau hơn 15 năm đổi mới, nền kinh tế đã vợt qua đợc giai đoạn khủng
hoảng bớc đầu đi vào giai đoạn phát triển, có vị trí xứng đáng trong khu vực và
trên thế giới.
Trong giai đoạn này, Đảng ta từng bớc đã xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa
tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội. Đảng ta coi việc giải quyết mối quan hệ
này là một trong những nội dung cơ bản đảm bảo tính định hớng xã hội chủ
nghĩa trong quá trình phát triển. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của
Đảng đã chỉ rõ : ... tăng trởng kinh tế phải luôn gắn liền với tiến bộ và công
bằng xã hội. Công bằng xã hội không chỉ đợc thực hiện trong phân phối kết quả
sản xuất mà còn đợc thực hiện ở khâu phân phối t liệu sản xuất, ở việc tạo ra
những điều kiện cho mọi ngời phát huy tốt năng lực của mình. Hội nghị trung -
ơng lần thứ 4 khoá VIII cũng đã xác định cụ thể t tởng của Đảng cộng sản Việt
Nam là: Phát triển kinh tế phải đi đôi với việc thực hiện công bằng xã hội,