LUẬN VĂN:
Xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Gia Lai:
Thực trạng và giải pháp
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bước sang thế kỷ XXI, với sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học kỹ
thuật và công nghệ, nhân loại đó tiến dài trong lịch sử phỏt triển của mỡnh. Trong thời
đại mới này, con người dường như không cũn cảm giỏc chớnh xác về khoảng cách không
gian và thời gian nhờ có hệ thống thông tin nối mạng toàn cầu. Con người không chỉ đi
du lịch khắp năm châu bốn biển bằng các phương tiện vận tải bỡnh thường mà có thể đi
thăm các hành tinh khác nhờ tàu vũ trụ. Đặc biệt hơn con người không thể tin được rằng
chính mỡnh lại cú thể sinh sản bằng một phương pháp mới - sinh sản vô tính.
Trong rất nhiều sự thật mới mẻ ấy, thế giới vẫn phải đón chịu một sự thật cố hữu,
một bất công, một nghịch lý trong cuộc sống, đó là đói nghèo.
Đói nghèo vẫn đang tồn tại, bao vây cuộc sống của mỗi gia đỡnh, đe dọa con
đường phát triển của mọi quốc gia, thách thức cả nhân loại.
pháp" để làm luận văn tốt nghiệp của mỡnh.
2. Tỡnh hỡnh nghiờn cứu đề tài
Nghèo đói là một hiện tượng rất phổ biến trong phạm vi cả thế giới, cho nên vấn
đề này đó được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Cho đến nay ở Việt Nam đó cú nhiều cụng trỡnh nghiờn cứu, nhiều luận văn tốt
nghiệp đó đề cập đến vấn đề xóa đói giảm nghèo (XĐGN), trong đó có các công trỡnh
như:
Cỏc cụng trỡnh do Bộ Lao động - Thương binh và Xó hội làm chủ biên có:
- Đói nghèo ở Việt Nam (Hà Nội, 1993);
- Nhận diện đói nghèo ở nước ta (Hà Nội, 1993);
- Xóa đói giảm nghèo (Hà Nội, 1996);
- Xóa đói giảm nghèo với tăng trưởng kinh tế (Nxb Lao động, 1997).
Về luận văn, luận án có các công trỡnh sau:
- Luận án tiến sĩ Kinh tế của Nguyễn Thị Hằng: Vấn đề xóa đói giảm nghèo ở
nông thôn nước ta hiện nay, 1999;
- Luận án tiến sĩ Kinh tế của Trần Thị Hằng: Vấn đề giảm nghèo trong nền kinh
tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2001;
- Luận văn thạc sĩ Kinh tế của Bùi Thị Lý: Vấn đề xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Phú
Thọ hiện nay, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2000.
Cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu trờn đề cập đến vấn đề đói nghèo dưới các góc độ
khác nhau cả về lý luận và thực tiễn nhưng chưa có công trỡnh nghiờn cứu nào đề cập
đến vấn đề đói nghèo ở Gia Lai dưới góc độ kinh tế chính trị. Vỡ vậy, đề tài mà tác giả
lựa chọn để nghiên cứu không trùng với các công trỡnh nghiờn cứu đó cụng bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích
Luận văn làm rừ thực trạng và nguyờn nhõn đói nghèo của tỉnh Gia Lai hiện nay, từ
đó đưa ra các giải pháp chủ yếu góp phần XĐGN trên địa bàn tỉnh.
Nhiệm vụ
- Khái quát một số luận điểm về đói nghèo, tiêu chuẩn về đói nghèo của quốc tế
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÓI NGHÈO
VÀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
1.1. QUAN NIỆM VỀ ĐÓI NGHÈO
1.1.1. Quỏ trỡnh nhận thức về đói nghèo
1.1.1.1. Bản chất của đói nghèo qua các thời kỳ lịch sử
Đói nghốo là một thực trạng của quỏ trỡnh phỏt triển kinh tế, xó hội, nú hiện hữu
trong cuộc sống như một yếu tố lịch sử, có thể sinh ra, tồn tại, phát triển và cũng có thể
mất đi ở mỗi con người, mỗi gia đỡnh, mỗi quốc gia hay mỗi xó hội.
Thời kỳ cộng sản nguyên thủy, con người vừa được tách ra khỏi thế giới động vật
đó tập hợp nhau lại để trở thành một tổ chức xó hội sơ khai. Tổ chức xó hội này chưa có
giai cấp, chưa có áp bức bóc lột, mọi người sống với nhau rất hũa thuận, cựng làm cựng
hưởng, không hề có sự chiếm đoạt của cải dư thừa thành của riêng, thành chiếm hữu tư
nhân để sinh ra bóc lột, áp bức và vì thế cũng chưa xuất hiện khái niệm giàu nghèo trong
cuộc sống của họ. Tuy nhiên cuộc sống săn bắt, hái lượm ấy, chỉ với một vài công cụ thô
sơ như cái gậy, hũn đá thỡ cũn phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiờn và thường xuyên xảy ra
tỡnh trạng no quỏ khi cú nhiều thức ăn, đói quá khi thức ăn khan hiếm. Như vậy ý niệm
về no đói đó xuất hiện trước ý niệm giàu nghốo trong xó hội cộng sản nguyờn thủy. Ở
đây nghèo đói là hệ quả trực tiếp của lạc hậu, mông muội là điển hỡnh sự thống trị của tự
nhiờn đối với con người.
Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, người nô lệ chỉ được coi như một thứ hàng hóa,
một công cụ sản xuất biết nói có thể trao đổi trên thị trường. Trong chế độ phong kiến,
người lao động tuy được tự do về thân thể nhưng cũng chỉ là kẻ đi cày thuê cuốc mướn
cho địa chủ phong kiến để kiếm miếng cơm, manh áo qua ngày. Trong xó hội lỳc này hầu
hết người lao động đều là người nghèo, đều là hệ quả áp bức xó hội của chế độ người bóc
lột người. Chính vỡ thế mà sự giàu cú của cực này dựa trên sự bóc lột, sự bần cùng hóa
của cực khác. Những chủ nô, địa chủ phong kiến càng giàu lên thỡ những người lao động
Cuộc sống của mỗi thành viờn trong xó hội lỳc này, giàu hay nghốo sẽ phụ thuộc rất
nhiều vào chế độ phân phối công bằng và bỡnh đẳng của chủ nghĩa xó hội. Theo C.Mỏc
thỡ cỏi quyền được phân phối và bỡnh đẳng trong chế độ phân phối của chủ nghĩa xó hội
lại chớnh là cỏi quyền khụng ngang nhau đối với các lao động không ngang nhau và như
thế không có nghĩa là trong xó hội sẽ cú cuộc sống ngang nhau, bỡnh đẳng với tất cả mọi
thành viên:
Quyền ngang nhau ấy là một quyền không ngang nhau đối với một
lao động không ngang nhau. Nó không thừa nhận một sự phõn biệt giai cấp
nào cả, vỡ bất cứ người nào cũng chỉ là một lao động như người khác; nhưng
nó lại mặc nhiên thừa nhận sự không ngang nhau về năng khiếu cá nhân và do
đó về năng lực lao động của những người lao động coi đó là những đặc quyền
tự nhiên. Vậy theo nội dung của nó, đó là một thứ quyền không ngang nhau,
cũng như bất cứ quyền nào [26, tr. 479].
Mặc dù, nguyên tắc trên đây được coi là một nguyên tắc công bằng, nhưng
C.Mác cũng chỉ rừ, trong điều kiện của chủ nghĩa xó hội, sự phân phối công bằng đó
chẳng những chưa loại trừ được, mà vẫn cũn chứa trong nú sự chấp nhận một tỡnh trạng
bất bỡnh đẳng nhất định giữa các thành viên trong xó hội. C.Mỏc viết: "Với một cụng
việc ngang nhau và do đó, với một phần tham dự như nhau vào quỹ tiờu dựng của xó hội
thỡ trờn thực tế, người này vẫn lĩnh nhiều hơn người kia, người này vẫn giàu hơn người
kia" [26, tr. 479].
Với cách giải thích hết sức khoa học như vậy cho ta thấy, trong chủ nghĩa xó hội
vẫn tồn tại sự giàu - nghốo, bỡnh đẳng, công bằng chỉ là những khái niệm tương đối chứ
không phải là tuyệt đối.
Ở nước ta khi bước vào xây dựng chủ nghĩa xó hội, thời kỳ kinh tế hiện vật bao
cấp, tuy đó cú nhiều cố gắng trong việc thực hiện chớnh sỏch phõn phối cụng bằng bỡnh
đẳng nhưng vẫn không thể thoỏt khỏi tỡnh trạng đói nghốo vỡ nền kinh tế lỳc đó là một
nền kinh tế lạc hậu và chậm phát triển. Nguyên nhân đói nghèo trong thời kỳ này không
phải chủ yếu là do lười lao động, tay nghề kém… (những nguyên nhân chủ quan thuộc về
người lao động) mà chủ yếu là do cơ chế kỡm hóm sự phỏt triển của cỏ nhõn và xó hội
hơn, những nhu cầu cho cuộc sống ngày càng nhiều hơn và quan niệm về nghèo đói cũng
được mở rộng ra rất nhiều. Các yếu tố như nguồn lực người nghèo, mối quan hệ xó hội,
khả năng tham gia vào các hoạt động văn hóa, xó hội và khả năng bảo vệ, chống đỡ các
rủi ro đó được đưa vào nội dung của khái niệm đói nghèo. Trong báo cáo phát triển con
người năm 1997, Chương trỡnh phỏt triển Liờn hợp quốc (UNDP) đó đề cập đến khái
niệm đói nghèo về năng lực, khác với quan niệm đói nghèo về thu nhập. Theo đó, đói
nghèo được tính đến điều kiện khó khăn trong phát triển con người cơ bản. Trong báo
cáo về tỡnh hỡnh thực hiện mục tiờu thiờn niờn kỷ của Liờn hợp quốc năm 2003 đó nhấn
mạnh sự cần thiết đưa phương pháp tiếp cận đói nghèo trên cơ sở quyền lợi cơ bản của
con người (bao gồm về kinh tế, văn hóa, xó hội chớnh trị và dõn sinh).
Cho đến những năm 1970
Tiêu
dùng
Giữa những năm 1970 và
những năm 1980, tiếp cận
theo nhu cầu thiết yếu
Tiêu dùng
+ dịch vụ xó hội
+ nguồn lực
Từ những năm 1980, cách
tiếp cận theo năng lực và
cơ hội
Tiờu dựng + dịch vụ xó
hội+ nguồn lực + tớnh
dễ bị tổn thương
Từ 1980 đến năm 2000
Tiờu dựng + dịch vụ xó hội
+ nguồn lực+ tớnh dễ bị
tổn thương + phẩm giá
chớnh là những người nghèo đói. Một khái niệm mở như vậy sẽ dễ dàng được các tổ
chức và các quốc gia chấp nhận. Khái niệm sẽ được mở rộng hơn theo sự phát triển của
xó hội, nhất là khi nhu cầu cơ bản của con người được mở rộng theo thời gian.
Từ khái niệm chung này, khi nghiên cứu thực trạng nghèo đói, người ta đó đưa ra
hai khái niệm khác, đó là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.
Nghèo tuyệt đối: Đó là sự thiếu hụt so với mức sống (những nhu cầu) tối thiểu.
Nghèo tuyệt đối đề cập đến vị trí của một cá nhân, hộ gia đỡnh trong mối quan
hệ với đường nghèo khổ mà giá trị tuyệt đối của họ cố định theo thời gian. Nghèo tuyệt
đối thường được tính trên những nhu cầu dinh dưỡng và một số hàng hóa khác, do vậy
một đường nghèo tuyệt đối được dùng để thực hiện các so sánh nghèo đói.
Nghèo tương đối: Đó là sự thiếu hụt của các cá nhân/ hộ gia đỡnh so với mức
sống trung bỡnh đạt được.
Sự thiếu hụt này dựa trên cơ sở một tỷ lệ nào đó so với mức thu nhập bỡnh quõn
của dõn cư, có quốc gia xác định dựa trên 1/2 thu nhập bỡnh quõn, cú quốc gia lại dựa
trờn 1/3 thu nhập bỡnh quõn.
Để so sánh sự nghèo khổ giữa các quốc gia với nhau, người ta sử dụng khái niệm
nghèo tương đối. Để đấu tranh chống nạn nghèo cùng cực thỡ dựng khỏi niệm nghốo
tuyệt đối. Cách chọn khái niệm tùy theo mục đích mà mỡnh theo đuổi. Tuy nhiên, cả hai
khái niệm trên đều không hoàn toàn đầy đủ. Khái niệm nghèo tuyệt đối không tính đến sự
khác nhau về mức sống ở các nước. Khái niệm nghèo tương đối, không tính đến sự diễn
biến của bối cảnh kinh tế xó hội, do đó không tính đến diễn biến của những nhu cầu.
Ngoài khái niệm chung về nghèo đói, trong quá trỡnh tỡm hiểu, nghiờn cứu ta
thường gặp một số khái niệm khác chỉ những khía cạnh của nghèo đói như:
Đói: Là tỡnh trạng của một bộ phận dõn cư nghèo có mức sống dưới mức tối
thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trỡ cuộc sống. Hay núi
một cỏch khỏc đói là một nấc thang thấp nhất của nghèo.
Nghèo đói kinh niên: Là bộ phận dân cư nghèo đói nhiều năm liền cho đến thời
điểm đang xét.
thống nhất giữa các quốc gia về lượng Kcalo tiêu dùng để xác định chuẩn nghèo.
Bảng 1.1: Lượng Kcalo tiêu dùng hàng ngày cho một người được sử dụng trong xây
dựng chuẩn nghèo
Việt Nam 2.100
Indonesia 2.100
Philippin 2.000
Thái Lan 1.978
Trung Quốc 2.150
Nguồn: [6, tr. 10].
Tất nhiên, phương pháp này không được chính xác nếu ta đem so sánh giữa
người nghèo nông thôn và người nghèo thành thị. Ở nông thôn luôn mua được lương thực
và thực phẩm rẻ hơn ở thành thị, kết quả là hàm Kcalo thu nhập cho các hộ gia đỡnh ở
nụng thụn sẽ cao hơn các hộ gia đỡnh thành thị và do đó chuẩn nghèo khu vực nông thôn
sẽ thấp hơn ở khu vực thành thị.
Xác định chuẩn nghèo dựa vào chi phí cho các nhu cầu cơ bản
Phương pháp này xác định giá trị của tiêu dùng cần thiết để đáp ứng các nhu cầu
cơ bản. Chuẩn nghèo được tính như sau:
Đường nghèo Z: Z = ZF + ZN
ZF = Đường nghèo lương thực, thực phẩm
ZN = Đường nghèo phi lương thực, thực phẩm
Xác định chuẩn nghèo từ thu nhập bỡnh quõn
Các quốc gia xác định chuẩn nghèo dựa trên sự thiếu hụt của cá nhân, hộ gia
đỡnh so với mức sống trung bỡnh đạt được. Có quốc gia xác định chuẩn này dựa trên 1/2
thu nhập bỡnh quõn, cú quốc gia lại dựa trờn 1/3 thu nhập bỡnh quõn.
Trên thế giới hiện nay, trừ Mỹ có đường nghèo hầu như không đổi trong suốt 4
thập kỷ qua, cũn lại tất cả cỏc nước khi giàu lên họ thường có hướng điều chỉnh lại chuẩn
nghèo. Cộng đồng châu Âu định nghĩa nghèo là có thu nhập bỡnh quõn đầu người thấp
dưới 50% thu nhập của đối tượng trung lưu. Khi thu nhập của đối tượng trung lưu tăng
lên thỡ chuẩn nghốo cũng tăng lên. Ở Canada người ta sử dụng chuẩn nghèo tương đối để
thực phẩm cộng với chi phí cho các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm của nhóm dân
cư 3 (nhóm có mức sống trung bỡnh). Chuẩn nghốo chung được xác định cho năm 1998
là: 1.790 ngàn đồng/người/năm.
Tuy nhiên, phương pháp này có một số hạn chế sau:
Phương pháp này sử dụng rổ hàng hóa từ năm 1993 đến nay đó hơn
10 năm không thể phản ảnh được thực tế tiêu dùng hiện tại của đại đa số người dân Việt
Nam.
Sử dụng một chuẩn nghèo duy nhất áp dụng cho cả khu vực thành thị và nông
thôn chỉ cho phép đánh giá thực trạng nghèo đói của cả nước, không thể xác định và lập
được danh sách hộ nghèo cụ thể ở các địa phương.
* Phương pháp xác định chuẩn nghèo của Bộ Lao động - Thương binh và Xó hội
Bộ Lao động - Thương binh và Xó hội là cơ quan thường trực chương trỡnh quốc
gia XĐGN, đó tiến hành rà soỏt chuẩn nghốo qua cỏc thời kỳ. Lỳc đầu chuẩn nghèo được
xác định dựa vào nhu cầu chi tiêu, sau đó chuyển sang sử dụng chỉ tiêu thu nhập. Mục
đích của Bộ Lao động - Thương binh và Xó hội là xỏc định được đối tượng cụ thể của
chương trỡnh trợ cấp thụn, xó, lờn danh sỏch hộ nghốo, chỉ ra cỏc nguyờn nhõn nghốo
đói và đề xuất các giải pháp hỗ trợ. Bên cạnh đó giúp Chính phủ theo dừi, đánh giá tác
động của các chính sách kinh tế và XĐGN, điều chỉnh chuẩn nghèo theo mức độ cải thiện
của đời sống dân cư và người nghèo.
Chuẩn nghèo của Chính phủ do Bộ Lao động - Thương binh và Xó hội cụng bố
đó điều chỉnh qua 4 giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1993 - 1995
Hộ đói: Bỡnh quõn thu nhập đầu người quy gạo/tháng dưới 13 kg đối với hộ
thành thị và dưới 8 kg đối với hộ nông thôn.
Hộ nghèo: Bỡnh quõn thu nhập đầu người quy gạo/tháng dưới 20kg đối với khu
vực thành thị và dưới 15kg đối với khu vực nông thôn.
Giai đoạn 1995 - 1997
Hộ đói: Là hộ cú mức thu nhập bỡnh quõn một người trong một tháng quy ra gạo
dưới 13 kg, tính cho mọi vùng.
cho nhu cầu phi lương thực, thực phẩm cũn thấp.
Độ tin cậy về số liệu khi xây dựng các phương án chưa cao do không có điều
kiện điều tra trên diện rộng. Bên cạnh đó việc thu thập thông tin về thu nhập cũn rất khú
chớnh xỏc, đặc biệt là thu nhập của người dân nông thôn và miền núi. Việc quan sát
tỡnh trạng nghốo của hộ gia đỡnh chỉ dựa chỉ tiờu đầu vào, chưa quan sát hộ gia đỡnh
trờn cỏc chỉ tiờu khỏc như đồ dùng, tài sản, nguồn lực… dẫn đến hiện tượng bỏ sót
hoặc đưa nhầm đối tượng vào chương trỡnh XĐGN ở một số xó trong quỏ trỡnh rà soỏt
và bỡnh xột. Tớnh thống nhất của chuẩn nghốo chưa được bảo đảm, việc điều chỉnh
chuẩn nghèo liên tục không cho phép công tác theo dừi, giỏm sỏt, đánh giá nghèo đói
một cách hệ thống.
* Xây dựng chuẩn nghèo mới áp dụng vào giai đoạn 2006 - 2010
[6, tr. 18-26].
- Yêu cầu của chuẩn nghèo mới.
+ Bảo đảm người nghèo được hưởng thành quả phát triển kinh tế - xó hội. Từng
bước nâng cao mức sống cho người nghèo theo mức sống chung của xó hội. Chuẩn
nghèo mới phải từng bước đáp ứng được nhu cầu cơ bản của người nghèo.
+ Tạo điều kiện để phân loại hộ nghèo một cách dễ dàng, tập trung trọng tâm của
các chương trỡnh, chớnh sỏch vào vựng sõu, vựng miền nỳi, hải đảo, dân tộc, biên giới.
+ Tạo sự đồng bộ trong công tác XĐGN, bao gồm xác định người nghèo, tỡm hiểu
nguyờn nhõn, xõy dựng cỏc chớnh sỏch hỗ trợ, cung cấp thụng tin.
+ Từng bước hũa nhập quốc tế, nõng cao hiệu quả hợp tỏc khu vực và quốc tế
trong lĩnh vực XĐGN
- Định hướng xây dựng chuẩn nghèo mới:
Thống nhất về khái niệm, nội dung và phương pháp xác định chuẩn nghèo giữa
các cơ quan liên quan, đặc biệt là Bộ Lao động - Thương binh Xó hội và Tổng cục Thống
kờ để xây dựng một chuẩn nghèo duy nhất.
- Các phương pháp đo lường:
+ Phương pháp tiếp cận: Sử dụng phương pháp tiếp cận chuẩn nghèo khách quan
trên cơ sở hệ nhu cầu tối thiểu để tính chuẩn nghèo là chính, các phương pháp khác bổ
Nhóm 5: giàu nhất 1835 2773
Nguồn: [6, tr. 20].
Từ bảng trên cho thấy, nhóm dân cư thứ hai là nhóm có mức tiêu dùng gần với
ngưỡng 2.100 kcalo lựa chọn (năm1998 là nhóm dân cư 3), do vậy khối lượng hàng hóa
lương thực, thực phẩm tiêu dùng bỡnh quõn đầu người của nhóm dân cư này sẽ được tính
toán để xác định rổ hàng hóa lương thực, thực phẩm đáp ứng được nhu cầu 2.100
kcalo/người/ngày.
- Cập nhật chuẩn nghèo mới áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010.
+ Tính toán rổ lương thực, thực phẩm: Sau 10 năm mức sống của các hộ gia
đỡnh Việt Nam được nâng lên, xu hướng tiêu dùng các mặt hàng lương thực giảm đi cũn
cỏc mặt hàng thực phẩm lại tăng lên (phụ lục 2).
Ở chuẩn nghèo mới này sẽ chỉ áp dụng một rổ hàng hóa lương thực, thực phẩm
cho tất cả các vùng trong khu vực thành thị, nông thôn.
+ Chi phí cho rổ hàng hóa lương thực, thực phẩm được tính theo công thức sau:
Chi phí rổ = Xi Pi
Trong đó: Xi: Hàng hóa i trong rổ hàng hóa lương thực, thực phẩm.
Pi: Giá mua hàng hóa i
+ Xác định chuẩn nghèo chung.
Chuẩn nghèo chung được xác định bằng cách lấy chuẩn nghèo lương thực, thực
phẩm cộng với chi phí cho các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm.
Chuẩn nghèo chung = Chi (LT, TP + phi LT, TP)
Xác định nhu cầu phi lương thực, thực phẩm cũng dựa trên mức chi tiêu thực tế của
nhóm hộ gia đỡnh được lấy làm chuẩn (nhóm 2), bởi vỡ nhúm hộ này khi đó đáp ứng
được nhu cầu về lương thực, thực phẩm thỡ cũng đáp ứng được nhu cầu về phi lương
thực, thực phẩm. Chi phí cho các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm được tính bằng cách
lấy chi phớ trung bỡnh 1 người/năm của nhóm chi tiêu 2 sau khi đó điều chỉnh chỉ số giá
vùng (giá thành thị và giá nông thôn) (phụ lục 3)
Bảng 1.3: Chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010
(1000 đồng/người/tháng)
Phương pháp tiếp cận: Nhu cầu lựa chọn để tính chuẩn nghèo là nhu cầu thực tế,
chưa phải là nhu cầu "cần thiết" để người dân nông thôn và người dân miền núi được
bỡnh đẳng thực sự so với người dân thành thị.
Chưa phản ánh hết đặc thù nghèo đói tại Việt Nam, thực tế cho thấy người nghèo
được hỗ trợ nhiều từ chương trỡnh của Chớnh phủ và cỏc chương trỡnh khỏc. Cỏc hỗ trợ
này chưa được tính vào phần chi phí của các hộ gia đỡnh, do đó có xu hướng làm giảm
mức độ phúc lợi thực tế của hộ nghèo. Bên cạnh đó các đặc điểm của người nghèo như
trỡnh độ học vấn, việc làm, sức khỏe…chưa thể hiện đầy đủ.
1.2. QUAN ĐIỂM VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
1.2.1. Chiến lược và một số mụ hỡnh xúa đói giảm nghèo của thế giới
1.2.1.1. Quan niệm về giảm nghèo
Khái niệm
Giảm nghèo hay (XĐGN) chính là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức
sống, từng bước thoát khỏi tỡnh trạng nghốo. Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người
nghèo giảm xuống. Nói một cách khác, giảm nghốo là một quỏ trỡnh chuyển một bộ phận
dõn cư nghèo lên một mức sống cao hơn.
Ở khía cạnh khác, giảm nghốo là chuyển từ tỡnh trạng cú ớt điều kiện lựa chọn
sang tỡnh trạng cú đầy đủ điều kiện lựa chọn hơn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi
người.
Nói giảm nghèo trong đó luôn bao hàm xóa đói và cũng giống như khái niệm nghèo,
khái niệm giảm nghèo chỉ là tương đối. Bởi nghèo có thể tái sinh, hoặc khi khái niệm nghèo
và chuẩn nghèo thay đổi. Do đó, việc đánh giá mức độ giảm nghèo phải được đánh giá
trong một thời gian, không gian nhất định.
Giảm nghèo là một phạm trù cũng chỉ mang tính lịch sử, do đó chỉ có thể từng
bước giảm nghèo, chứ chưa thể xóa sạch được nghèo. Chỉ khi nào xó hội loài người đạt
tới trỡnh độ xó hội cộng sản như chủ nghĩa Mác - Lênin dự đoán thỡ hiện tượng nghèo sẽ
không cũn nữa và giảm nghốo cũng khụng cần.
Do cách đánh giá và nhỡn nhận nguồn gốc khỏc nhau nờn cũng cú nhiều quan
niệm về giảm nghốo khỏc nhau:
Trong tiến trỡnh phỏt triển, tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo có mối quan hệ
biện chứng. Tăng trưởng kinh tế tạo ra cơ sở, điều kiện vật chất để giảm nghèo. Ngược
lại giảm nghèo là nhân tố đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế mang tính bền vững. Tuy nhiên
trong mối quan hệ này thỡ giảm nghốo vẫn là yếu tố chịu sự chi phối, phụ thuộc vào yếu
tố tăng trưởng kinh tế. Trong nền kinh tế, nếu tăng trưởng kinh tế chịu tác động của các quy
luật kinh tế như: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, cạnh tranh, lợi nhuận, năng suất lao
động… thỡ giảm nghốo lại chịu tỏc động quy luật phân hóa giàu nghèo, vấn đề phân phối và
thu nhập, vấn đề lao động và việc làm, cỏc chớnh sỏch xó hội… Trong quỏ trỡnh vận động
các yếu tố, các quy luật tác động lên tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo theo nhiều chiều
hướng, có khi trái ngược nhau. Do vậy, để đảm bảo được tăng trưởng kinh tế và giảm
nghèo đũi hỏi Nhà nước có sự can thiệp sao cho sự tác động của các quy luật có hướng
đồng thuận. Đây là vấn đề không hề đơn giản và không phải quốc gia nào cũng làm được
trong quá trỡnh phỏt triển.
1.2.1.2. Chiến lược chống nghèo đói của thế giới
Vấn đề nghèo đói mang tính toàn cầu, tại các nước phát triển và các nước đang
phát triển đều có người nghèo. Bước sang thế kỷ 21 vẫn cũn khoảng 3 tỷ người (gần 1/2
dân số thế giới) sống ở dưới mức 2 USD/ngày. Trong số đó có 1,3 tỷ người sống với mức
cực kỳ nghèo, dưới 1 USD/ngày. Với mức gia tăng dân số là 80 triệu người mỗi năm thỡ
số người sống ở dưới mức 2 USD/ngày không chỉ dừng lại ở 3 tỷ như hiện nay mà sẽ
tăng lên rất nhiều. Trong báo cáo "Bước vào thế kỷ 21" của WB năm 2000 thỡ đến năm
2015, số người phải sống dưới mức 1USD/ngày là 1,9 tỷ người (1/3 dân cư trên trái đất).