mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kiên Giang (KG) là một tỉnh trọng điểm lúa của đồng bằng sông Cửu
Long. Cùng với cả nớc trong công cuộc đổi mới, những năm gần đây tình
hình kinh tế - xã hội của tỉnh đã có nhiều thay đổi cơ bản. Trong nông
nghiệp, nông thôn mọi nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội đã đợc phát
huy mạnh mẽ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung và
nông dân nói riêng đã đợc cải thiện một bớc quan trọng. Tổng sản phẩm trên
địa bàn tỉnh trong 5 năm trở lại đây liên tục tăng trởng khá. Nông nghiệp có
sự phát triển nhảy vọt, nhiều cơ sở vật chất hạ tầng trong nông nghiệp đợc
xây dựng, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đợc giữ vững.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu phát triển kinh tế xã hội, trên
địa bàn tỉnh KG đã và đang xuất hiện những hiện tợng tiêu cực trong đời
sống xã hội. Đáng chú ý là hiện tợng phân hóa giàu nghèo đang có chiều h-
ớng gia tăng tới mức độ có thể xem là trầm trọng. Đại hội đại biểu lần thứ
VI của Đảng bộ tỉnh KG đã nhận định: "Phân hóa giàu nghèo trong xã
hội có chiều hớng phát triển" [33, 36]. Phân hóa giàu nghèo (PHGN)
trong xã hội nói chung và trong nông nghiệp, nông thôn nói riêng đang là
một hiện thực khách quan tác động đến mọi mặt của sản xuất và đời sống
của hộ nông dân (HND). Hiện tợng nghèo đói, lạc hậu, thấp kém nh là ngời
bạn đờng đối với một bộ phận HND trên các địa bàn của tỉnh. Quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của địa phơng càng mạnh mẽ thì dờng nh sự
PHGN ngày càng sâu sắc thêm, nhất là trong nông nghiệp, nông thôn và
đối với HND. Thực tế này đang đặt ra nhiều vấn đề phải giải quyết mới có
thể phát triển xã hội theo mục tiêu: Thực hiện dân giàu, nớc mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ và văn minh; tăng trởng kinh tế phải gắn liền với tiến
bộ và công bằng xã hội mà Đảng ta đã đề ra. Không thể xem thờng sự phân
hóa giàu nghèo, nhất là khi nó đang ảnh hởng tới quá trình phát triển nhanh
1
và bền vững của xã hội. Từ nhận thức đó, Đảng bộ tỉnh đã vạch ra phơng h-
ớng quyết tâm của tỉnh là: "Bằng nhiều biện pháp đồng bộ tích cực hạn chế
Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề phân hóa giàu nghèo của
các HND với t cách là những đơn vị sản xuất tự chủ trong quá trình phát
triển kinh tế thị trờng.
Phân tích thực trạng và chỉ rõ nguyên nhân của sự phân hóa giàu
nghèo của các HND trên các địa bàn của tỉnh KG.
Đề xuất quan điểm, phơng hớng và các giải pháp để giải quyết vấn
đề phân hóa giàu nghèo đối với các HND KG.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn lấy đối tợng nghiên cứu là các quan hệ kinh tế trong quá
trình tái sản xuất của các HND trong nền KTTT. Những quan hệ này là
nguyên nhân dẫn tới sự phân hóa, do đó giải quyết vấn đề phân hóa giàu
nghèo, thực chất là điều chỉnh các quan hệ kinh tế để phát triển lực lợng
sản xuất của HND nghèo. Luận văn đi sâu phân tích các HND nghèo đói,
từ đó, đề ra phơng hớng và giải pháp về vấn đề này.
Phạm vi nghiên cứu:
Vấn đề phân hóa giàu nghèo đợc tiếp cận từ góc độ kinh tế - chính
trị. Về thời gian, luận văn nghiên cứu sự phân hóa chủ yếu từ khi thực hiện
Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, khi HND trở thành đơn vị kinh tế tự chủ
trong nền sản xuất hàng hóa (từ 1990 đến nay).
5. Phơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phơng pháp trừu tợng hóa khoa học, trên cơ sở
phơng pháp duy vật biện chứng và phơng pháp duy vật lịch sử; trong quá
trình nghiên cứu, luận văn còn sử dụng các phơng pháp bổ trợ khác nh
thống kê điều tra xã hội học, lập bảng biểu, so sánh, phân tích, tổng hợp v.v
3
6. Những đóng góp của luận văn
Luận văn hệ thống hóa những cơ sở lý luận và thực tiễn của sự phân
hóa giàu nghèo của các HND, phân tích thực trạng PHGN HND trên địa
bàn tỉnh KG từ khi chuyển sang cơ chế thị trờng và chỉ rõ các nguyên nhân
đã dẫn tới sự phân hóa đó; trên cơ sở đó, luận văn đề xuất một số phơng h-
chung và có chung ngân quỹ" [51, 8]. Quan niệm này nhấn mạnh đến các
tiêu thức: cơ sở kinh tế và sinh sống.
Tiếp cận khái niệm hộ từ góc độ vai trò và đặc thù của hộ, tại Hội
thảo quốc tế lần thứ 4 về quản lý nông trại (Hà Lan, 1980), nhiều đại biểu
có đồng quan điểm: "Hộ là đơn vị kinh tế cơ bản của xã hội có liên quan
đến sản xuất tiêu dùng và các loại hoạt động xã hội khác". Hộ trong nông
nghiệp, nông thôn chủ yếu là HND, gắn liền với canh tác nông nghiệp.
5
Nhà khoa học Nga, AV.Traianôp (1889- 1939), cho rằng "HND là
đơn vị sản xuất rất ổn định", "HND là phơng tiện tuyệt vời để tăng trởng và
phát triển sản xuất nông nghiệp". Còn hai nhà khoa học Mats Lundahl và
Thommy Svensson thì nhấn mạnh: "HND là đơn vị sản xuất rất cơ bản"
[22, 15].
Từ một số quan niệm tiêu biểu của các nhà khoa học nớc ngoài, ta
thấy họ cùng chung những quan điểm sau: Hộ là một đơn vị kinh tế - xã hội
cơ bản, sự tồn tại của kinh tế hộ là một khách quan, nó có vai trò quan
trọng trong phát triển kinh tế xã hội.
Các nhà khoa học nớc ta cũng đã đa ra nhiều quan niệm về hộ. Có
tác giả cho rằng: "Hộ là một nhóm ngời cùng huyết tộc hay không cùng
huyết tộc, cùng chung sống hay không cùng chung trong một mái nhà. Họ
có cùng nguồn thu nhập, cùng ăn chung, cùng tiến hành sản xuất chung"
[20, 29]. Một tác giả khác nhấn mạnh tới các tiêu thức: "HND là đơn vị
kinh tế mà các thành viên của nó sống chung với nhau trong một mái nhà,
liên hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống, có chung thu nhập, trong đó có
thu nhập từ nông nghiệp do lao động sử dụng đất đai đem lại. Trong nền
kinh tế hàng hóa, HND là một đơn vị kinh tế độc lập - tự chủ trong mọi
loại hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp" [29, 8]. Có tác giả nhấn
mạnh đến hoạt động kinh tế cho rằng, "HND là đơn vị kinh tế tự chủ trong
sản xuất nông nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trờng". Một tác giả khác
xuất phát từ các tổng kết về mặt lịch sử cũng nh thực tiễn, lại cho rằng:
xã hội khác không có.
Gắn với nông nghiệp và nông thôn, kinh tế HND còn mang trong
nó nhiều đặc điểm kinh tế - xã hội, văn hóa của cộng đồng nông thôn đợc
hình thành trong lịch sử. Với nhiều quốc gia, trong đó có nớc ta, những đặc
điểm này vừa mang lại những thuận lợi (chẳng hạn, làng nghề truyền
thống, văn hóa truyền thống, những tục lệ tốt đẹp trong kinh doanh ), và
cũng gây ra không ít những trở ngại trên con đờng phát triển kinh tế hộ
7
(chẳng hạn, tính chất cô lập của phờng hội, những hủ tục, quan niệm lạc
hậu trong sản xuất ).
Từ những ý kiến trên đây và từ thực tiễn có thể rút ra một số kết
luận về hộ và kinh tế HND ở nớc ta khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng
nh sau:
Một là, HND và kinh tế HND là hai khái niệm phân biệt, song HND
và kinh tế HND có mối quan hệ chặt chẽ, tơng hỗ và quy định lẫn nhau. Đặc
biệt là trong điều kiện sản xuất hàng hóa hiện nay, nhiều khi sự hình thành
HND là bắt nguồn từ nhu cầu phát triển kinh tế và mặt khác, chính hoạt
động sản xuất kinh doanh của HND lại làm cho HND phân biệt với các đơn
vị sản xuất khác trong một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. HND và
kinh tế HND có mối quan hệ chặt chẽ, và trên thực tế, đã có nhiều trờng
hợp, hai yếu tố này đóng vai trò là tiền đề và điều kiện cho nhau phát triển.
Hai là, HND là đơn vị kinh tế xã hội ở nông thôn, có thể sản xuất
kinh doanh độc lập hoặc tham gia các hình thức hợp tác liên doanh, liên kết
sản xuất nhằm phát triển kinh tế hộ. Hoạt động kinh tế của HND mang tính
độc lập, tự chủ trong quá trình sản xuất, có khả năng linh hoạt, cơ động cao
trong việc vạch hớng hay chuyển hớng kinh doanh, có thể tự hình thành
những cơ cấu sản xuất phù hợp với mùa vụ và nhu cầu của kinh tế thị trờng.
Tính năng động, tự chủ của HND trong sản xuất có thể ở hai trạng
thái: nó có thể là một tác nhân thúc đẩy sự năng động nhằm kịp thời đáp
ứng và hòa nhập vào KTTT. Mặt khác, nó cũng có thể "tự chọn" một hớng
hóa. Theo Từ điển tiếng Việt, giàu là khái niệm dùng để chỉ tình trạng "có
nhiều tiền của, có tài sản lớn hơn mức bình thờng" [38, 380]; còn nghèo "là
tình trạng không có hoặc có rất ít những gì thuộc yêu cầu tối thiểu của đời
sống vật chất", là trái với giàu [38, 653]; phân hóa là "chuyển một khối
thành các phần đối lập nhau", khác hẳn nhau [38, 633].
Thu nhập, tài sản, vốn liếng và chi tiêu là những yếu tố cấu thành
giàu và nghèo của mỗi cá nhân và hộ gia đình. Trong đó, thu nhập là yếu tố
9
quan trọng nhất, bởi vì nó sẽ quyết định mức độ, cơ cấu của tài sản, vốn
liếng và chi tiêu. Nh vậy, giữa giàu và nghèo tồn tại một khoảng cách chênh
lệch về độ lớn của các yếu tố cấu thành theo hớng đối lập nhau giữa cao và
thấp, giữa nhiều và ít ở các nớc TBCN phát triển ngời ta cho rằng, thu
nhập bình quân đầu ngời của xã hội là đờng ranh giới giữa giàu và nghèo.
Nếu cá nhân hộ gia đình nào có mức thu nhập cao hơn thu nhập bình quân
của xã hội thì đợc xếp vào lớp giàu, ngợc lại thì xếp vào lớp nghèo [21, 25].
PHGN đã đợc nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau. Nó đợc coi là
một xu hớng vận động xã hội, trong những điều kiện lịch sử nhất định, là
một trong những nguyên nhân cơ bản để dẫn tới phân chia giai cấp, là một
hệ quả tất yếu do sự tác động của quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng
hóa.
PHGN là một hiện tợng kinh tế - xã hội xuất hiện trong quá trình
tan rã của các công xã nguyên thủy. Trong điều kiện kinh tế tự cung tự cấp
PHGN diễn ra trong phạm vi từng cộng đồng với mức độ hạn chế, sự cách
biệt cha lớn. Song trên phạm vi toàn xã hội, PHGN thờng gắn liền với bạo
lực và với quyền uy. Trong nền sản xuất hàng hóa, sản xuất và đời sống của
mỗi cá nhân và hộ gia đình trong xã hội là khác nhau. Điều đó do "sự
không ngang nhau về năng khiếu cá nhân" [25, 479], do có sự khác biệt về
thể chất, năng lực, điều kiện sản xuất Dới tác động của các quy luật kinh
tế, họ tham gia vào quá trình phân công lao động xã hội khác nhau nên có
mức thu nhập khác nhau, mức độ giàu nghèo cũng khác nhau. Từ đó, quá
chức sản xuất kinh doanh sao cho phù hợp với yêu cầu thị trờng. Giá cả
hàng hóa - dịch vụ trên thị trờng là "mệnh lệnh" đối với ngời sản xuất. Tiếp
cận thị trờng đợc hay không là yếu tố quan trọng ảnh hởng đến "số phận"
mỗi cá nhân. Mỗi ngời đều có sự khác nhau về năng lực thể chất, trí tuệ,
đạo đức. Từ đó khả năng thâm nhập "hoàn cảnh thị trờng" là khác nhau và
dẫn đến thu nhập, tài sản khác nhau.
11
Nhờ phát huy đợc nhân tố con ngời, tận dụng đợc thành tựu của
khoa học công nghệ, mở rộng đợc thị trờng kinh doanh nên KTTT đã tạo ra
sự phát triển vợt bậc của lực lợng sản xuất. Dới sự tác động của các quy luật
kinh tế nh quy luật giá trị, quy luật cung cầu chủ thể sản xuất hàng hóa phải
tìm mọi cách thức để nâng cao năng suất lao động trong đó áp dụng khoa
học kỹ thuật là cốt yếu nhất. KTTT cũng tạo điều kiện, cơ hội cho mỗi con
ngời phát huy năng lực của mình trong sản xuất và đời sống xã hội. Đây
cũng đợc coi là những cơ sở khách quan cho việc giải quyết PHGN. Nhận
định về vấn đề này, có tác giả cho rằng: "Sự PHGN là hệ quả tất yếu của
nền kinh tế hàng hóa vận hành theo cơ chế thị trờng [18, 199].
Song cũng phải nhận thấy rằng trên nền tảng của quan hệ sản xuất
t hữu không thể giải quyết triệt để vấn đề PHGN trong xã hội. Thậm chí
trong KTTT, tác động khách quan của các quy luật kinh tế lại làm tăng
thêm sự bất bình đẳng xã hội. Bởi vì KTTT chỉ thừa nhận những nhân tố
phù hợp với nó, loại bỏ không thơng xót các yếu tố không phù hợp. Do đó,
những ngời tài giỏi hoặc có những u thế vợt trội khác thì trở nên giàu có.
Ngợc lại, nó cũng đẩy những cá nhân và gia đình hộ gia đình không thích
ứng đợc với yêu cầu của thị trờng về phía đối lập. PHGN cũng diễn ra với
một quy mô lớn hơn, tốc độ nhanh hơn, mức độ giàu, nghèo, độ chênh lệch
giữa giàu và nghèo cũng trở nên cách biệt hơn.
Nền KTTT t bản chủ nghĩa (TBCN) cũng đã đặt ra những thách
thức, trở ngại to lớn khi giải quyết vấn đề PHGN. Đó là chế độ t hữu TBCN
về t liệu sản xuất cùng với mặt trái của cơ chế thị trờng. Với chế độ t hữu
tựu nổi bật của công cuộc đổi mới là sự phát triển trong lĩnh vực nông
nghiệp, nông thôn. Nhờ khai thác giải phóng sức sản xuất của kinh tế HND
mà năng suất, sản lợng lơng thực liên tục tăng lên. Hơn mời năm qua Việt
Nam luôn là nớc xuất khẩu gạo có thứ hạng cao trên thế giới.
Kinh tế nông nghiệp và nông thôn có những bớc phát triển to lớn.
Nếu lấy mức tăng giá trị sản lợng nông sản giai đoạn 1976-1980 chỉ đạt
13
1,7%/ năm, thì giai đoạn 1991-1997 đạt bình quân 4,5%/năm. Sản lợng l-
ơng thực năm 1991 là 21,5 triệu tấn. Đến năm 1997 là 30,5 triệu tấn. Năm
1999 giá trị sản xuất nông nghiệp tăng so với năm 1998 là 5,2-5,5%. Sản lợng
lơng thực ớc khoảng 33,8 triệu tấn.
Thu nhập của nông dân ngày càng nâng cao. Năm 1995 so với năm
1990 thu nhập bình quân đầu ngời ở nông thôn tăng 22,2%, năm 1996 so
với năm 1995 là 8,9%. GDP bình quân đầu ngời năm 1999 cả nông thôn và
thành thị tăng 1,7 lần so với năm 1990.
Đợc hởng thành tựu của công cuộc đổi mới sản xuất và đời sống
của nhiều HND đợc nâng lên rõ rệt. Nhận định tình hình này, Văn kiện
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII viết: "Số hộ có thu nhập trung bình và
số hộ giàu tăng lên, số hộ nghèo giảm" [48, 59]. Nhiều cơ sở vật chất hạ tầng
ở cả nông thôn và thành thị đợc nâng cấp và xây dựng mới. Cùng với thành
tựu khác trong công cuộc đổi mới đã làm cho "lòng tin của nhân dân vào chế
độ, vào tiền đồ của đất nớc, vào đảng và Nhà nớc đợc nâng lên" [48, 60].
Song cơ chế kinh tế mới cũng bắt đầu làm nảy sinh hiện tợng
PHGN với một tốc độ nhanh hơn. Một bộ phận nông dân giàu lên khá
nhanh, trong khi đó, một bộ phận nông dân khác do nhiều nguyên nhân, đã
nghèo đi. "Cái giàu và cái nghèo là hai cực đã và đang tồn tại ở các vùng
nông thôn Việt Nam" [30, 16].
Khoảng cách giàu - nghèo của Việt Nam đã thay đổi trong những
năm gần đây: 1994 là 6,48 lần; 1995 là 6,99 lần; 1996 là 7,31 lần và năm
1998 là 11,3 lần. Khoảng cách này ngày càng tăng cả về tốc độ và quy mô
Thu nhập
(1.000đ)
Tỷ lệ hộ
nghèo %
Tỷ lệ hộ
giàu %
Mức phân
tầng (lần)
Chung cả nớc 68-94 12,5-23,1 1,5 5,5
Vùng núi Bắc Bộ 50-71 11,0-31,0 0,8 4,8
Đồng bằng trung du Bắc Bộ 71-93 10,7-17,0 1,3 5,31
15
Duyên hải Bắc Trung Bộ 60-91 15,2-32,9 2,0 6,42
Tây Nguyên 55-74 14,4-26,5 1,3 7,07
Đông Nam Bộ 80-13,8 18,7-23,7 4,6 7,69
Đồng bằng sông Cửu Long 83,19,3 11,3-17,8 2,7 7,8
Nguồn: Tổng cục Thống kê năm 1996.
Trong giai đoạn từ 1990 lại đây, khoảng cách chênh lệch về thu
nhập giữa hộ giàu và nghèo vẫn không ngừng tăng lên. Theo công bố
của Ban chỉ đạo điều tra mức sống dân c Trung ơng về mức sống hộ gia
đình Việt Nam thời kỳ 1997-1998, khoảng cách chênh lệch giàu - nghèo thời
kỳ này đã lên tới 11,3 lần. Nhiều tài liệu khác cũng khẳng định xu hớng
này [13, 136-138].
Từ những cứ liệu trên, chúng ta có thể nhận xét: PHGN của các
HND đã trở nên phổ biến và khá sâu sắc, phản ánh tính hai mặt trong quá
trình phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn.
Về mặt kinh tế, có thể coi mặt tích cực của PHGN là làm biến đổi
về chất các yếu tố của lực lợng sản xuất. Nhờ đó các HND đạt đợc hiệu quả
sản xuất - kinh doanh ngày một tăng, kỹ thuật - công nghệ và các tri thức
khoa học cũng nh kinh nghiệm tổ chức quản lý ngày càng phổ biến, nâng
hộ giàu, ngời giàu bằng các hoạt động phi pháp thì công bằng xã hội, lành
mạnh xã hội cũng là những vấn đề nhức nhối. Không ít tiêu cực gắn với hộ
giàu, cách làm giàu nh buôn lậu, ăn cắp, cho vay nặng lãi, coi thờng ngời
nghèo v.v Còn hộ nghèo thì bất lực, an phận, buông xuôi, trông chờ, thậm
chí còn sa vào rợu chè, cờ bạc và các tệ nạn xã hội khác. Nổi bật là những
hệ quả xã hội: "phân hóa giàu nghèo tạo nên sự bất công bằng xã hội dẫn
đến sự tha hóa con ngời, môi trờng sinh thái mất cân bằng " [35, 296].
Nh vậy, PHGN của các HND nớc ta là hiện tợng kinh tế-xã hội
trong đó diễn ra quá trình chuyển các HND thành các tầng lớp khác hẳn
nhau theo chuẩn mực giàu nghèo.
17
Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên đây có thể rút ra một số
kết luận:
Thứ nhất: PHGN là một hệ quả tất yếu của sự phát triển kinh tế thị
trờng. PHGN có liên quan đến tính giai đoạn của KTTT và thay đổi các
hình thức tổ chức kinh tế nh: kinh tế hộ, kinh tế cổ phần, kinh tế t bản t
nhân. Thực tế cho thấy từ thể chế kinh tế cũ sang thể chế kinh tế mới, từ
kinh tế thị trờng sơ khai sang kinh tế thị trờng hoàn thiện, cứ sau mỗi bớc
chuyển nh thế, PHGN diễn ra với các mức độ khác nhau. Điều tơng tự cũng
diễn ra khi từ kinh tế HND cá thể sang kinh tế hợp tác kiểu cũ, rồi sang
kinh tế HND tự chủ, kinh tế HND trong các hình thức hợp tác mới Chính
các giai đoạn phát triển của KTTT vừa đặt ra những vấn đề mới, vừa tạo ra
những tiền đề cho việc giải quyết vấn đề PHGN.
Thứ hai: Sự tác động của các nhân tố kinh tế - chính trị - xã hội là
nguyên nhân dẫn đến PHGN. Bởi vậy, chính sách kinh tế xã hội của mỗi
quốc gia là một tác nhân tích cực trong việc khắc phục những hạn chế của
PHGN. Phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà n-
ớc theo định hớng XHCN là yếu tố có tính đặc thù của quá trình phát triển
kinh tế thị trờng ở Việt Nam và là tiền đề kinh tế - chính trị - xã hội rất
quan trọng cho việc giải quyết vấn đề PHGN của HND nớc ta.
Để có đơn vị thống nhất, Bộ Lao động, Thơng binh và Xã hội nớc ta
đã quy định lấy mức thu nhập bình quân đầu ngời/tháng đợc quy ra gạo và
tiền tơng ứng thu nhập bằng tiền quy ra gạo là dựa trên cơ sở mức chi tiêu
lơng thực, thực phẩm bảo đảm khẩu phần ăn duy trì nhiệt lợng tiêu dùng
cho một ngời, một ngày là 2.100 calo. Căn cứ vào thu nhập, có thể chia các
HND thành các mức độ tơng ứng với các khái
niệm: nghèo tơng đối; nghèo tuyệt đối; thiếu đói; đói gay gắt; trung lu;
giàu [26, 7].
19
Sự phân loại giàu nghèo ở nông thôn Việt Nam trong cải cách ruộng
đất trớc đây thờng căn cứ vào số ruộng đất, trâu bò, t liệu sản xuất. Do đó,
"xét về cơ cấu sản xuất thì trong giai cấp nông dân có các tầng lớp phú
nông, trung nông, bần nông, cố nông" [1, 187] là phù hợp. Trong điều kiện
chuyển sang nền KTTT thì tiêu chí thu nhập bằng tiền đang nổi lên để xác
định chuẩn mực; chẳng hạn: "Thu nhập bình quân đầu ngời/tháng ở các
loại hộ" năm 1993 đợc phản ánh trong bảng 2.
Bảng 2
So sánh các loại hộ theo địa bàn
Loại hộ Nông thôn Thành thị
1. Hộ nghèo, trong đó: Dới: 50.000đ Dới: 70.000đ
Hộ rất nghèo Dới: 30.000đ Dới: 50.000đ
2. Hộ dới trung bình 50-70.000đ 70-100.000đ
3. Hộ trung bình 70-125.000đ 100-175.000đ
4. Hộ trên trung bình 125-150.000 150-190.000đ
5. Hộ giàu, trong đó Trên 250.000đ Trên: 300.000đ
Rất giàu Trên 350.000đ Trên: 400.000đ
Nguồn: Điều tra tình trạng giàu nghèo ở Việt Nam năm 1997. Tổng
cục Thống kê, tháng 8/1994.
Tùy theo sự phát triển kinh tế, xã hội mà tiêu chí có sự thay đổi.
Theo Thông báo số: 1175/LĐ-TBXH, ngày 20 tháng 5 năm 1997 của Bộ
triển nông thôn KG giai đoạn 1997-2000 có thể xem là hộ giàu với thu
nhập sau khi trừ chi phí sản xuất, từ 20 triệu đồng/năm trở lên [32]. Nếu so
sánh với mức tăng GDP bình quân đầu ngời từ đầu thập kỷ 90 lại đây và
giữa các địa phơng trong cả nớc thì tiêu chí này cũng tơng đơng nh cách
đánh giá của một số tác giả khác [37].
21
Có thể nhận định rằng, nếu đối tợng HND nghèo đợc phân tích
khảo sát tơng đối kỹ cả về định tính và định lợng, thì với những hộ giàu,
vấn đề giàu ở nớc ta cha thật đợc rõ, vì còn thiếu nhiều dữ kiện, số liệu
chính thức. Một lý do khiến các cuộc điều tra về hộ giàu ở ta cha chính xác
vì cha có hình thức, biện pháp, cơ chế về kê khai tài sản, thu thập của các
cá nhân và HND.
Để xác định mức độ PHGN, ngời ta thờng sử dụng hai phơng pháp.
Một là, xác định tỷ lệ phần trăm của các loại hộ giàu - nghèo trong tổng số
hộ khảo sát theo những tiêu chí cụ thể của mỗi thời kỳ để đánh giá xu hớng
diễn biến của sự PHGN. Hai là, để đo sự chênh lệch giàu - nghèo trong xã
hội thì tiêu chí thờng đợc sử dụng là thu nhập bình quân của 20% tổng số
hộ có thu nhập thấp nhất so sánh với thu nhập bình quân của 20% số hộ có
thu nhập cao nhất. Từ đó, có bội số thu nhập trung bình giữa hai nhóm. Bội
số chênh lệch càng lớn thì khoảng cách giàu - nghèo càng tăng. Với tỷ lệ
này thì hệ số chênh lệch giàu nghèo có giá trị phổ biến cho các loại hộ
cũng nh cho các địa phơng, cộng đồng. Nếu chỉ lấy thu nhập bình quân của
5% số hộ giàu nhất với thu nhập bình quân của 5% số hộ nghèo nhất, thì
tính đại diện, phổ biến thấp hơn. Còn nếu lấy thu nhập của hộ giàu nhất
chia cho thu nhập của hộ mức nghèo nhất thì hệ số chênh lệch đó nó chỉ
mang ý nghĩa so sánh hình thức mà thôi.
1.1.2.3. Nguyên nhân của sự phân hóa giàu nghèo của HND
Xác định nguyên nhân của PHGN cũng chính là xác định nguyên
nhân cơ bản của tình trạng giàu - nghèo của các HND. Vấn đề ở đây cũng
chính là việc tìm và trả lời cho câu hỏi vì sao nghèo, vì sao giàu?
và vấn đề nghèo đói. Ví dụ, chính quyền trung ơng, địa phơng cha xây dựng
cơ sở hạ tầng: điện, đờng, trờng, trạm; cha có chính sách điều chỉnh ruộng
đất hợp lý; do thiếu thị trờng, giá cả thị trờng không ổn định, giá nông sản
23
thấp khó tiêu thụ, bị ép cấp, ép giá, giá vật t phân bón cao; cha có biện pháp
hành chính, giáo dục thích đáng để hạn chế các tệ nạn xã hội; [31, 219].
Nhóm 3: Là nhóm các hộ nghèo đói do các nguyên nhân kết hợp.
Các nhóm 1, 2 nêu trên là những nguyên nhân trực tiếp có tính chất chủ
quan và khách quan, kết hợp lại tạo thành ba dạng nguyên nhân gây nghèo
đói. Chẳng hạn: Vì mắc các tệ nạn xã hội; thiếu ruộng đất, do bị thu hồi
điều chỉnh bớt ruộng đất; do không biết làm gì khác ngoài nghề nông
Gần đây, chơng trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo giai đoạn
1998 - 2000 đã xác định những nguyên nhân chính và phân thành ba nhóm:
* Nhóm nguyên nhân do điều kiện tự nhiên không thuận lợi: khí hậu
khắc nghiệt, thiên tai, bão lụt, hạn hán, sâu bệnh, đất đai cằn cỗi, địa hình
phức tạp, giao thông khó khăn đã và đang kìm hãm sản xuất, gây ra tình
trạng nghèo đói.
* Nhóm nguyên nhân do chủ quan của ngời nghèo: thiếu vốn, đông
con, thiếu lao động, không có việc làm, thiếu kiến thức làm ăn, mắc các tệ
nạn xã hội hay lời lao động.
* Nhóm nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: thiếu hoặc không
đồng bộ về chính sách đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó
khăn, chính sách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hớng dẫn cách làm
ăn, khuyến nông, lâm, ng, chính sách giáo dục đào tạo, y tế, giải quyết đất
đai, định canh định c, kinh tế mới và nguồn lực đầu t còn hạn chế [8, 7].
Đây là những nguyên nhân mang tính tổng hợp phổ quát cho mọi
địa phơng, mọi tầng lớp xã hội, dĩ nhiên với mỗi đối tợng cụ thể, có thể có
một nguyên nhân đóng vai trò chủ đạo.
Vì sao có những HND trở nên giàu có ?
Qua khảo sát nghiên cứu, có thể thấy đợc những nguyên nhân cơ
hiện dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh. Chính những điều
25