LUẬN VĂN: Phân hóa giàu nghèo của các hộ nông dân ở tỉnh Kiên Giang - thực trạng và giải pháp - Pdf 15


LUẬN VĂN:
Phân hóa giàu nghèo của các hộ
nông dân ở tỉnh Kiên Giang - thực
trạng và giải pháp
mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Kiên Giang (KG) là một tỉnh trọng điểm lúa của đồng bằng sông Cửu Long. Cùng
với cả nước trong công cuộc đổi mới, những năm gần đây tình hình kinh tế - xã hội của

Vấn đề giàu nghèo và phân hóa giàu nghèo là đề tài đã có nhiều tác giả đề cập từ
nhiều góc độ. Tiêu biểu là một số công trình sau đây:
Khuynh hướng phân hóa HND trong phát triển sản xuất hàng hóa, Nguyễn Xuân
Khoát (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995; Một số giải pháp giải quyết
mâu thuẫn nảy sinh giữa việc phát triển nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường với sự
phân hóa giàu nghèo, Nguyễn Huy Oánh; Vấn đề phân tầng xã hội - một xu thế tất yếu
của Việt Nam, Đỗ Nguyên Phương (Đề tài KX 07-05); Phân hóa giàu nghèo trong nền
kinh tế thị trường ở Nhật Bản từ 1945 lại nay, Dương Phú Hiệp, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1999; Phân hóa giàu nghèo ở một số quốc gia khu vực châu á - Thái bình
Dương, Dương Phú Hiệp, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998; Kinh tế thị trường và sự
phân hóa giàu nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Lê Du
Phong - Hoàng Văn Hoa (đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999
Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhưng trên địa bàn tỉnh Kiên Giang đến
nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ khoa học kinh tế
chính trị.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phân hóa giàu nghèo của các HND trong nền
kinh tế thị trường (KTTT). Từ đó phân tích thực trạng phân hóa giàu nghèo của các
HND ở tỉnh KG hiện nay nhằm đề xuất các giải pháp để hạn chế sự phân hóa này.
Nhiệm vụ của đề tài này được cụ thể hóa như sau:
Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề phân hóa giàu nghèo của các HND
với tư cách là những đơn vị sản xuất tự chủ trong quá trình phát triển kinh tế thị trường.
Phân tích thực trạng và chỉ rõ nguyên nhân của sự phân hóa giàu nghèo của các
HND trên các địa bàn của tỉnh KG.
Đề xuất quan điểm, phương hướng và các giải pháp để giải quyết vấn đề phân
hóa giàu nghèo đối với các HND KG.


Mục lục Tra
ng
Mở đầu
1

Chương 1: Cơ s
ở lý luận và thực tiễn của phân hóa giàu
nghèo h
ộ nông dân trong quá trình phát triển
kinh tế hàng hóa
5
1
.1.
Phát triển kinh tế hàng hóa tất yếu dẫn đ
ến sự phân
hóa giàu nghèo của hộ nông dân với tư cách là đơn v
ị sản

ủa các hộ nông dân Thái
Lan
30Chương 2: Th
ực trạng phân hóa giàu nghèo của các hộ
nông dân tỉnh Kiên Giang
34

2
.1.
Đặc đi
ểm tự nhiên, xã hội và nông nghiệp, nông thôn
ảnh hưởng đến kinh tế hộ nông dân ở Kiên Giang
34

2
.2.
Phân hóa giàu nghèo c
ủa các hộ nông dân Kiên
Giang
40

2
.2.1.
Tình hình phân hóa giàu nghèo c

64

3
.1.1.
Quan điểm giải quyết vấn đề phân hóa giàu nghèo đ
ối
với các hộ nông dân Kiên Giang
64

3
.1.2.
Phương hư
ớng khắc phục hậu quả tiêu cực của phân
hóa giàu nghèo ở Kiên Giang
67

3
.2.
Những giải pháp cơ b
ản nhằm hạn chế mặt tiêu cực
của phân hóa giàu nghèo của các hộ nông dân Kiên Giang
73

3
.2.1.
Giải pháp về lao động việc làm của các hộ nông dân 73

3
.2.2.
Tiếp tục hoàn thiện chính sách ruộng đ

Phụ lục
89
Chương 1
Cơ sở lý luận và thực tiễn
của phân hóa giàu nghèo hộ nông dân
trong quá trình phát triển kinh tế hàng hóa

1.1. Phát triển kinh tế hàng hóa tất yếu dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo của
Hộ nông dân với tư cách là đơn vị sản xuất tự chủ

hay không cùng chung trong một mái nhà. Họ có cùng nguồn thu nhập, cùng ăn chung,
cùng tiến hành sản xuất chung" [20, 29]. Một tác giả khác nhấn mạnh tới các tiêu thức:
"HND là đơn vị kinh tế mà các thành viên của nó sống chung với nhau trong một mái
nhà, liên hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống, có chung thu nhập, trong đó có thu nhập
từ nông nghiệp do lao động sử dụng đất đai đem lại. Trong nền kinh tế hàng hóa, HND là
một đơn vị kinh tế độc lập - tự chủ trong mọi loại hoạt động sản xuất kinh doanh nông
nghiệp" [29, 8]. Có tác giả nhấn mạnh đến hoạt động kinh tế cho rằng, "HND là đơn vị
kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường". Một tác giả
khác xuất phát từ các tổng kết về mặt lịch sử cũng như thực tiễn, lại cho rằng: "Quan
điểm coi HND là đơn vị sản xuất tự chủ là hoàn toàn đúng đắn về lý luận cũng như thực
tiễn" [22, 14].
Để có nhận thức đầy đủ về hộ và kinh tế HND ở nước ta hiện nay, cần tìm hiểu
những đặc điểm của kinh tế HND ở các nước kinh tế đang phát triển. Chúng tôi đồng tình
với quan điểm cho rằng, ngoại trừ một số nước phát triển, các HND ở khu vực các nước
đang phát triển "có mức thu nhập thấp nhất so với các nhóm hộ khác trong xã hội" [22,
16]. Các HND là các nhà sản xuất nhỏ, quy mô ruộng đất của nhiều hộ chỉ cho phép sản
xuất ra một lượng sản phẩm đủ nuôi sống các thành viên, tỷ trọng nông phẩm là hàng hóa
còn thấp.
Các HND có số thu lợi nhuận thấp, phần lớn sản phẩm của họ làm ra khi bán ra
chỉ vừa đủ để trang trải chi phí sản xuất. Vì vậy mức độ tích lũy để mở rộng sản xuất hầu
như không đáng kể. Các HND thường sản xuất độc canh trên diện tích sản xuất nhỏ, thời gian
lao động của họ chưa được tận dụng tối đa, không có thu nhập thêm nếu không tạo ra được
việc làm tại chỗ.
Cơ cấu kinh tế HND khá đa dạng theo nhiều nghề khác nhau. Tổ chức phân công
lao động trong hộ có khả năng linh hoạt, vừa chuyên môn lại vừa có khả năng theo hướng
kinh doanh tổng hợp. Kinh tế HND có tính ổn định tương đối cao và có khả năng điều
chỉnh linh hoạt phương hướng sản xuất theo mùa vụ, ngành nghề cho phù hợp với thời

tế hộ. Hoạt động kinh tế của HND mang tính độc lập, tự chủ trong quá trình sản xuất, có
khả năng linh hoạt, cơ động cao trong việc vạch hướng hay chuyển hướng kinh doanh, có
thể tự hình thành những cơ cấu sản xuất phù hợp với mùa vụ và nhu cầu của kinh tế thị
trường.
Tính năng động, tự chủ của HND trong sản xuất có thể ở hai trạng thái: nó có thể
là một tác nhân thúc đẩy sự năng động nhằm kịp thời đáp ứng và hòa nhập vào KTTT.
Mặt khác, nó cũng có thể "tự chọn" một hướng vận động được coi như một bước lùi trong
sản xuất: HND rất có thể tạm bằng lòng với phương thức khép kín tự cung, tự cấp. Với đặc
thù đó, HND có thể là một yếu tố quan trọng trong quá trình khai thác những tiềm năng của
nông nghiệp, nông thôn để tạo ra sức sản xuất mới góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã
hội. Ngoài ra, cũng chính từ đặc thù này, HND có thể tiềm tàng một khả năng kìm hãm quá
trình vận động phát triển của kinh tế HND từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn. Với quy mô
sản xuất thường là nhỏ, vốn cho tái sản xuất mở rộng không nhiều, năng suất lao động thấp,
năng lực sản xuất hàng hóa còn thấp, cho nên nhiều HND ít có khả năng cạnh tranh bình đẳng
trong nền kinh tế thị trường. Cũng từ đây, nếu không có sự can thiệp của Nhà nước thì sự
PHGN sẽ diễn biến theo chiều hướng xấu: chỉ có một thiểu số hộ giàu lên còn đại đa số
thì nghèo đi, thậm chí bị bần cùng. Để hạn chế tác động phân hóa dẫn tới sự phá sản một
bộ phận lớn HND, đòi hỏi xuất hiện các hình thức kinh tế hợp tác, liên doanh, liên kết để
bảo vệ kinh tế HND.
Ba là, kinh tế HND bao gồm toàn bộ tư liệu tiêu dùng bảo đảm cuộc sống các
thành viên trong gia đình và những tư liệu sản xuất hoặc vốn bằng tiền mà các thành viên
trong hộ sử dụng để đem lại thu nhập, trong đó có thu nhập từ hoạt động kinh doanh nông
nghiệp.
Từ những phân tích trên chúng tôi quan niệm kinh tế HND là một bộ phận quan
trọng của nền kinh tế quốc dân, sự phát triển hay trì trệ của nó có tính quy định với quá
trình PHGN của các HND. Với nhiều quốc gia đang phát triển có nền kinh tế mà nông
nghiệp còn đang đóng vai trò lớn trong nền kinh tế quốc dân, "hình ảnh" HND làm ăn

do "sự không ngang nhau về năng khiếu cá nhân" [25, 479], do có sự khác biệt về thể
chất, năng lực, điều kiện sản xuất Dưới tác động của các quy luật kinh tế, họ tham gia
vào quá trình phân công lao động xã hội khác nhau nên có mức thu nhập khác nhau, mức
độ giàu nghèo cũng khác nhau. Từ đó, quá trình PHGN đã diễn ra. Như vậy PHGN gắn
liền với điều kiện cụ thể về kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi địa phương, dân tộc, quốc
gia trong quá trình tồn tại và phát triển. Nó phản ánh một quan hệ bất bình đẳng giữa
người với người trong sở hữu tư liệu sản xuất, tham gia vào phân công lao động xã hội,
trong phân phối sản phẩm, thu nhập Vì vậy, PHGN còn là một phạm trù nghiên cứu của
môn kinh tế - chính trị.
Từ đó có thể định nghĩa PHGN là khái niệm dùng để chỉ hiện tượng kinh tế- xã
hội, trong đó diễn ra quá trình chuyển các cá nhân và hộ gia đình thành các tầng lớp
khác hẳn nhau theo chuẩn mực giàu nghèo.
Phân tầng xã hội và PHGN đã được nhiều tác giả kinh điển mácxít nghiên cứu.
Theo C. Mác (1818-1883) cơ sở của vấn đề này là: "Tư liệu sản xuất, hay quyền sở hữu
tài sản là nhân tố đóng vai trò quyết định trong phân chia xã hội thành các giai cấp và
tầng lớp". Và C.Mác chỉ rõ: "Chính quan hệ chiếm hữu về tư liệu sản xuất là cơ sở, là cái
quyết định quan hệ phân phối để từ đó nảy sinh sự khác biệt về thu nhập", dẫn tới PHGN
[16, 11].
Cũng từ quan niệm duy vật lịch sử, V.I. Lênin (1870-1924) chỉ ra: "Sự khác nhau
về địa vị trong một hệ thống sản xuất xã hội là khác nhau về quyền sở hữu tư liệu sản
xuất và về vai trò trong tổ chức lao động cũng như về cách hưởng thụ và chiếm đoạt lao
động, đó là những yếu tố chi phối sự phân hóa xã hội" [16, 15].
Về PHGN, nhiều tác giả khác cũng đã đề cập tới vấn đề này. Nhà xã hội học
Max Weber (1864-1920) có cách tiếp cận khác khi nghiên cứu cơ sở của sự PHGN. Theo
ông: "Phân công lao động xã hội, quyền lực và uy tín của mỗi cá nhân đều có ảnh hưởng
tới PHGN". Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, hoàn cảnh giai cấp, địa vị xã hội xét
đến cùng, như một nhận xét của ông, cũng là "hoàn cảnh thị trường" [16, 17].

lớn khi giải quyết vấn đề PHGN. Đó là chế độ tư hữu TBCN về tư liệu sản xuất cùng với
mặt trái của cơ chế thị trường. Với chế độ tư hữu TBCN về tư liệu sản xuất, người làm
chủ điều hành toàn bộ quá trình sản xuất - kinh doanh và phân chia lợi nhuận là nhà tư
bản. Đồng thời, nhà nước TBCN cũng là công cụ quyền lực của giai cấp tư sản bênh vực
bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản. Mặt trái của cơ chế thị trường như thất nghiệp, chạy
theo lợi nhuận một cách mù quáng, ô nhiễm, tàn phá môi trường môi sinh, suy đồi đạo
đức truyền thống, thất học, bệnh tật, bất công lại càng làm cho tình hình PHGN sâu sắc
thêm. Có tác giả cho rằng: "Trong nền kinh tế tư nhân TBCN thì phân hóa giàu nghèo là tất
yếu", "Kinh tế thị trường TBCN không giải quyết được phân hóa giàu nghèo" [17, 23].
KTTT có xu hướng làm cho sự PHGN trở nên ngày càng sâư sắc thêm; PHGN được coi
là sản phẩm trực tiếp của sự phát triển KTTT.
PHGN hiện đang là vấn đề kinh tế - xã hội đối với hầu khắp các nước trên thế
giới, đặc biệt là những nước đang phát triển. Cùng với hiện tượng bùng nổ dân số đô thị,
toàn cầu hóa kinh tế, PHGN cũng dường như chuyển sang giai đoạn mới. Những biểu
hiện mới của nó là: do thay đổi cơ cấu sản xuất nhanh chóng làm cho số người thất
nghiệp tăng lên ở cả nông thôn và thành thị; lao động và dân cư dịch chuyển từ nông thôn
ra thành thị, từ các vùng điều kiện kinh tế xã hội khó khăn đến vùng đất mới thuận tiện;
nạn chặt phá rừng, khai thác cạn kiệt tài nguyên môi trường, những bệnh tật hiểm nghèo
cũng đang gia tăng theo quá trình này.
ở Việt Nam, vấn đề PHGN đã từng diễn ra trong lịch sử nhưng chưa trở thành vấn
đề lý luận và thực tiễn nóng bỏng như hiện nay. Những năm trước đổi mới, trong cơ chế
quản lý kinh tế tập trung bao cấp, ở nước ta tuy vẫn có sự chênh lệch về thu nhập, tài sản,
chi tiêu giữa các cá nhân và hộ gia đình nhưng không lớn. Bởi vì, khi mà "có tới 70% dân
số nghèo" [49, 3] ở cả nông thôn và thành thị thì hiện tượng này cũng có thể được coi là
kết quả của việc lực lượng sản xuất kém phát triển và chế độ phân phối theo lối "bình
quân, cào bằng".
Từ khi cả nước tiến hành sự nghiệp đổi mới, một trong những thành tựu nổi bật
của công cuộc đổi mới là sự phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Nhờ khai người/ tháng, ở hộ giàu năm 1989 là 56.441đ, tương đương 75,4 kg gạo, thì năm 1991 các
chỉ tiêu tương ứng là 138.000đ và 81,5 kg gạo. Năm 1992 ở 9 tỉnh trọng điểm là 173.000đ
và 8 tỉnh phụ điểm là 227.000đ, tương đương 87,7 kg gạo [6, 49]. Hiện nay, với quy mô
hộ trung bình ở nước ta là 4,97 người/hộ, nếu lấy tiêu chí hộ giàu là HND sản xuất giỏi
có thu nhập (m) từ 20 triệu đồng năm trở lên [32], thì riêng thu nhập (m) là
335.345đ/người/tháng, tương ứng 95,5 kg gạo. Trong khi đó, mức thu nhập (v + m) của
hộ nghèo ở các thời điểm tương ứng là 10,33 kg và 13,2 kg. Giai đoạn 1997-2000 thu nhập
của hộ nghèo là 15 kg gạo. "Do vậy, đây cũng là vấn đề đặt ra khi giải quyết xóa đói, giảm
nghèo của Việt Nam" [27, 51].
Trong những khoảng thời gian nhất định, tỷ lệ số hộ giàu và số hộ nghèo mức
chênh lệch cũng khá lớn. Năm 1984 số hộ giàu trong nông thôn chiếm tỷ lệ 8,08% số hộ.
Năm 1991 tỷ lệ đó là 9,7% và năm 1992 số hộ giàu trong nông thôn chiếm tỷ lệ khoảng
20%, tỷ lệ hộ nghèo 10-25%, tỷ lệ hộ trung bình khoảng 50-60%.
Hiện nay, sự chênh lệch giàu - nghèo của các HND nước ta là khá lớn. Nếu so
sánh theo tiêu thức: thu nhập bình quân của 20% số hộ nghèo nhất với 20% số hộ giàu
nhất thì bội số chênh lệch trung bình là 7 đến 8 lần. Còn nếu so sánh theo tiêu thức thu
nhập của hộ giàu nhất và hộ nghèo nhất trong cùng một thời điểm, ở trên cùng một địa
phương, như ở Nam Bộ là hàng trăm lần.
Chúng ta có thể tham khảo mức chênh lệch về thu nhập giữa các hộ ở nông thôn
các vùng trong cả nước ở bảng 1:
Bảng 1
So sánh tỷ lệ hộ giàu và hộ nghèo và mức phân tầng trong cả nước
Vùng
Thu nhập
(1.000đ)
Tỷ lệ hộ
nghèo %
Tỷ lệ hộ

ngày một tăng, kỹ thuật - công nghệ và các tri thức khoa học cũng như kinh nghiệm tổ
chức quản lý ngày càng phổ biến, nâng cao. Thu nhập của các hộ ngày càng cao hơn, đời
sống vật chất và tinh thần ngày càng được cải thiện. Những dịch vụ về chăm sóc y tế,
giáo dục, bảo hiểm xã hội, sử dụng nước sạch mà các HND được hưởng theo hướng đô
thị hóa. Điều đó làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội nông thôn, thu hẹp khoảng cách
chênh lệch giữa nông thôn và thành thị, phân công lao động ngày càng phát triển; nhiều
tiềm năng, lợi thế được khai thác, giải phóng; cơ cấu kinh tế dần dịch chuyển theo hướng
hiện đại.
Cần lưu ý rằng, ở nông thôn nước ta, HND giàu không phải là do chiếm dụng
ruộng đất, bóc lột địa tô mà chủ yếu là do biết cách tổ chức sản xuất, có thuê lao động,
thậm chí cả lao động trí tuệ bậc cao như kỹ sư, nhưng "quan hệ chủ - thợ" ở đây là quan
hệ "sòng phẳng", bình đẳng theo luật pháp quy định, tạo công ăn việc làm cho người lao
động. Bởi vậy, sự tăng số hộ giàu và mức độ giàu trong nông nghiệp, nông thôn là một
hiện tượng, về cơ bản có thể coi là tiến bộ, phù hợp với quy luật phát triển của xã hội.
HND giàu có thực sự là một nhân tố mới, góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa (CNH, HĐH) trong nông nghiệp, nông thôn mà chúng ta cần ủng hộ, nghiên
cứu và phổ biến kinh nghiệm.
Mặt tiêu cực của PHGN của các HND, làm cho một bộ phận HND mất dần khả
năng và cơ hội bình đẳng với các chủ thể khác trên thị trường. Họ không tự vươn lên
được theo quỹ đạo của cơ chế thị trường. Vì nhiều lý do khách quan - chủ quan, họ phải
cầm cố hết các tư liệu sản xuất, buộc phải đi làm thuê, làm mướn kiếm sống hàng ngày.
Bộ phận dân cư này thường gắn với những điều kiện sống tối thiểu: thu nhập thấp, nhà
cửa tạm bợ, lụp xụp, con đông, thất học, không điện và nước sạch Đây cũng là những
đối tượng thường xuyên phải cứu trợ giúp đỡ của cộng đồng và xã hội. Rõ ràng, nghèo
đói, lạc hậu trong nông nghiệp, nông thôn đang là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và
Nhà nước ta trong sự nghiệp CNH, HĐH cũng như quá trình hội nhập với khu vực và
quốc tế.

hội của mỗi cá nhân hộ gia đình trong xã hội là rất khác nhau. Cho nên, sự thích nghi và
không thích nghi, thành đạt và không thành đạt, cơ hội và thách thức không chia đều
cho tất cả mọi cá nhân và hộ gia đình. Từ đó, giải quyết vấn đề PHGN chủ yếu là tạo cơ
hội thích nghi với cơ chế thị trường cho bộ phận dân cư chưa thành đạt.
1.1.2.2. Tiêu chí phân loại giàu nghèo
Hiện chưa có một tiêu chí riêng để đánh giá giàu - nghèo của các HND. Các tiêu
chí thường thấy là để dùng cho các đối tượng xã hội như cá nhân và hộ gia đình nói
chung. Bởi vậy khi đánh giá vấn đề này, chúng tôi sử dụng tiêu chí chung ấy và, sẽ có
một số điều chỉnh, bổ sung. Trong phần đầu, chúng tôi đã trình bày khái niệm giàu nghèo
chủ yếu dưới góc độ định tính. ở đây ta phải làm rõ cả phần định lượng nữa. Tuy nhiên,
giàu - nghèo là những khái niệm mang tính chất tương đối. Bởi vậy, việc xác định mức độ
giàu - nghèo và ranh giới giữa chúng trở nên khó thống nhất giữa các vùng và các quốc
gia trên thế giới. Ngay mỗi quốc gia chuẩn mực này trong từng thời điểm, từng vùng cũng
khác nhau. Liên Hợp Quốc đã đề ra không những chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
mà còn phải đề ra cả chỉ số phát triển con người (HDI) để đánh giá mức độ giàu - nghèo.
Thông thường người ta sử dụng các tiêu chí để đánh giá giàu nghèo như: thu
nhập, nhà ở, tiện nghi sinh hoạt gia đình, chi tiêu, hưởng thụ văn hóa Nhưng tiêu chí
thu nhập về kinh tế (thông qua v + m) và nhà ở cùng các tiện nghi sinh hoạt được xem là
quan trọng nhất. Hai tiêu chí này phản ánh trực tiếp mức sống của các cá nhân và hộ gia
đình. Ngoài ra, còn có tiêu chí tư liệu sản xuất và vốn liếng để dành cũng có ý nghĩa
không nhỏ. Như đã phân tích ở trên, thường những cá nhân và hộ gia đình rơi vào hoàn
cảnh nghèo đói chẳng hạn, thì thu nhập hết sức ít ỏi, nhà ở tạm bợ, nghèo nàn cũ kỹ, tư
liệu sản xuất và vốn liếng hầu như không có gì. Nhưng với hộ giàu thì những tiêu chí đó
có sự cách biệt ngược lại tương ứng rất rõ nét.
Để có đơn vị thống nhất, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội nước ta đã quy
định lấy mức thu nhập bình quân đầu người/tháng được quy ra gạo và tiền tương ứng
thu nhập bằng tiền quy ra gạo là dựa trên cơ sở mức chi tiêu lương thực, thực phẩm bảo

với phương pháp phân chia các HND thành ba loại hộ với các tiêu chí cụ thể như sau:
[39]
Hộ nghèo: Bao gồm cả những hộ dưới trung bình, nghèo, nghèo khó với thu nhập
bình quân đầu người dưới 180.000đ/tháng (tương đương với các hộ loại 8, 9, 10 - theo
cách phân định của UBND tỉnh KG) [40]. Đây là những hộ có thu nhập khoảng dưới
2.000.000đ/người/năm và có các điều kiện kinh tế tài sản như: nhà ở, phương tiện đi lại,
sinh hoạt thuộc nhóm I (nhóm có số phương tiện đi lại thô sơ từ 01, số phương tiện sinh
hoạt phổ biến từ 01, nhà ở: cột chôn chân, vách lá, mái lá, nhà kê có giá trị thấp ).
Mức thu nhập 180.000đ/người/tháng có thể xem đây là đường ranh giới nghèo
(Poverty line) của KG, áp dụng cho giai đoạn từ 1997-2000.
Hộ khá giả và trung bình: Gọi chung là hộ trung bình, bao gồm
cả những loại hộ 4-5-6-7 với thu nhập bình quân từ 2.000.000đ-5.000.000đ/người/năm và
các điều kiện như trên thuộc nhóm II (có phương tiện đi lại từ 2-3 loại phương tiện phổ
thông, có từ 3-5 loại phương tiện sinh hoạt, nhà "kê" (nhà có nền móng tốt) giá trị cao,
nhà cấp 4.
Hộ giàu: Bao gồm cả những hộ rất giàu, triệu phú, tức những hộ loại 1-2-3. Với
thu nhập bình quân đầu người năm khoảng 5.000.000đ trở lên và các điều kiện như trên
thuộc nhóm III (có từ 4 loại phương tiện đi lại trở lên; có từ 6 loại phương tiện sinh hoạt
trở lên; nhà ở kiên cố, có lầu (tầng), biệt thự.
Cũng có thể tham khảo thêm một số tiêu chí khác để nhận diện rõ hơn PHGN của
nông dân KG. Chẳng hạn, xét về thu nhập, HND đạt danh hiệu sản xuất giỏi theo quy
định của Bộ và của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn KG giai đoạn 1997-2000 có
thể xem là hộ giàu với thu nhập sau khi trừ chi phí sản xuất, từ 20 triệu đồng/năm trở lên
[32]. Nếu so sánh với mức tăng GDP bình quân đầu người từ đầu thập kỷ 90 lại đây và
giữa các địa phương trong cả nước thì tiêu chí này cũng tương đương như cách đánh giá
của một số tác giả khác [37].
Có thể nhận định rằng, nếu đối tượng HND nghèo được phân tích khảo sát tương

lý, đất đai thổ nhưỡng cằn cỗi chật hẹp, phèn mặn, khí hậu khắc nghiệt Mặt khác, trong
nhiều trường hợp HND trở thành người nghèo, hộ nghèo còn do thiên tai, bệnh tật thất
thường, hoặc do việc điều chỉnh đất đai bất hợp lý.
Như vậy, để xác định nguyên nhân của vấn đề này, cần xác định theo các nhóm
sau:
Nhóm 1: Là những nguyên nhân từ bản thân các cá nhân và HND, phổ biến là:
"Thiếu hoặc không có vốn; đông con, ít lao động; không đủ năng lực tổ chức sản xuất -

Trích đoạn Đẩy mạnh quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế gắn với phân công lại lao động ở nông thôn theo hướng CNH, HĐH Phát triển các hình thức kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Đẩy mạnh việc thực hiện chương trình quốc gia về xóa đói giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong nông thôn, đổi mới chính sách xã Giải pháp về lao động việc làm của các hộ nông dân Tiếp tục hoàn thiện chính sách ruộng đất trong nông nghiệp, nông thôn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status