LUẬN VĂN: Phân hóa giàu nghèo của các hộ nông dân ở tỉnh Kiên Giang - thực trạng và giải pháp - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Phân hóa giàu nghèo của các hộ nông dân ở tỉnh
Kiên Giang - thực trạng và giải pháp

mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Kiên Giang (KG) là một tỉnh trọng điểm lúa của đồng bằng sông Cửu Long. Cùng
với cả nước trong công cuộc đổi mới, những năm gần đây tình hình kinh tế - xã hội của
tỉnh đã có nhiều thay đổi cơ bản. Trong nông nghiệp, nông thôn mọi nguồn lực phát triển
kinh tế - xã hội đã được phát huy mạnh mẽ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
nói chung và nông dân nói riêng đã được cải thiện một bước quan trọng. Tổng sản phẩm
trên địa bàn tỉnh trong 5 năm trở lại đây liên tục tăng trưởng khá. Nông nghiệp có sự phát
triển nhảy vọt, nhiều cơ sở vật chất hạ tầng trong nông nghiệp được xây dựng, an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu phát triển kinh tế xã hội, trên địa bàn tỉnh

nghèo trong nền kinh tế thị trường ở Nhật Bản từ 1945 lại nay, Dương Phú Hiệp, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Phân hóa giàu nghèo ở một số quốc gia khu vực châu
á - Thái bình Dương, Dương Phú Hiệp, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998; Kinh tế thị
trường và sự phân hóa giàu nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nước ta hiện
nay, Lê Du Phong - Hoàng Văn Hoa (đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1999
Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhưng trên địa bàn tỉnh Kiên Giang đến
nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ khoa học kinh tế
chính trị.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phân hóa giàu nghèo của các HND trong
nền kinh tế thị trường (KTTT). Từ đó phân tích thực trạng phân hóa giàu nghèo của
các HND ở tỉnh KG hiện nay nhằm đề xuất các giải pháp để hạn chế sự phân hóa này.
Nhiệm vụ của đề tài này được cụ thể hóa như sau:
Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề phân hóa giàu nghèo của các HND
với tư cách là những đơn vị sản xuất tự chủ trong quá trình phát triển kinh tế thị trường.
Phân tích thực trạng và chỉ rõ nguyên nhân của sự phân hóa giàu nghèo của các
HND trên các địa bàn của tỉnh KG.
Đề xuất quan điểm, phương hướng và các giải pháp để giải quyết vấn đề phân
hóa giàu nghèo đối với các HND KG.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn lấy đối tượng nghiên cứu là các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản
xuất của các HND trong nền KTTT. Những quan hệ này là nguyên nhân dẫn tới sự phân
hóa, do đó giải quyết vấn đề phân hóa giàu nghèo, thực chất là điều chỉnh các quan hệ
kinh tế để phát triển lực lượng sản xuất của HND nghèo. Luận văn đi sâu phân tích các
HND nghèo đói, từ đó, đề ra phương hướng và giải pháp về vấn đề này.
Chương 1
Cơ sở lý luận và thực tiễn
của phân hóa giàu nghèo hộ nông dân
trong quá trình phát triển kinh tế hàng hóa

1.1. Phát triển kinh tế hàng hóa tất yếu dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo của
Hộ nông dân với tư cách là đơn vị sản xuất tự chủ
1.1.1. Hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân
Trong tiếng Việt, hộ là một danh từ được dùng để chỉ gia đình - được coi như
một đơn vị xã hội trong các quan hệ với chính quyền, có liên quan đến tài sản, tư liệu
lao động, nhân khẩu [38, 385]. Chính vì vậy mà người ta thường gộp chung hộ và gia
đình. Tiêu biểu là cách sử dụng thuật ngữ kép "hộ gia đình" trong khẩu ngữ.
Tuy vậy, giữa hộ và gia đình có điểm phân biệt. Cụ thể: gia đình là một nhóm
người có quan hệ hôn nhân hoặc huyết tộc. Nó cũng là một loại hộ cơ bản và chứa đựng
nhiều yếu tố để hình thành hộ. Song điều mà chúng ta chú ý là mối quan hệ giữa các
thành viên của hộ không đơn thuần chỉ là huyết thống.
Trên thế giới và ở nước ta đã có nhiều quan niệm về hộ. Theo Liên Hợp Quốc
(UN), "Hộ là những người cùng chung sống một mái nhà cùng ăn chung và có chung
ngân quỹ" [51, 8]. Quan niệm này nhấn mạnh đến các tiêu thức: cơ sở kinh tế và sinh
sống.
Tiếp cận khái niệm hộ từ góc độ vai trò và đặc thù của hộ, tại Hội thảo quốc tế
lần thứ 4 về quản lý nông trại (Hà Lan, 1980), nhiều đại biểu có đồng quan điểm: "Hộ là
đơn vị kinh tế cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất tiêu dùng và các loại hoạt
động xã hội khác". Hộ trong nông nghiệp, nông thôn chủ yếu là HND, gắn liền với canh
tác nông nghiệp.

là hàng hóa còn thấp.
Các HND có số thu lợi nhuận thấp, phần lớn sản phẩm của họ làm ra khi bán ra
chỉ vừa đủ để trang trải chi phí sản xuất. Vì vậy mức độ tích lũy để mở rộng sản xuất hầu
như không đáng kể. Các HND thường sản xuất độc canh trên diện tích sản xuất nhỏ, thời
gian lao động của họ chưa được tận dụng tối đa, không có thu nhập thêm nếu không tạo ra
được việc làm tại chỗ.
Cơ cấu kinh tế HND khá đa dạng theo nhiều nghề khác nhau. Tổ chức phân
công lao động trong hộ có khả năng linh hoạt, vừa chuyên môn lại vừa có khả năng theo
hướng kinh doanh tổng hợp. Kinh tế HND có tính ổn định tương đối cao và có khả năng
điều chỉnh linh hoạt phương hướng sản xuất theo mùa vụ, ngành nghề cho phù hợp với
thời tiết và nhu cầu của xã hội. Mặt khác, tính khép kín chu trình sản xuất (từ sản xuất,
chế biến đến tiêu thụ) lại cho phép HND có tính ổn định tương đối trước những diễn
biến bất thường của mùa vụ hay thị trường.
Tính độc lập của kinh tế HND tương đối cao, quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ
bé, vốn liếng hạn hẹp, trình độ sản xuất còn thấp cũng là những nhân tố khiến cho HND
gặp nhiều khó khăn trong ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ nên không có khả năng
chuyển hướng sản xuất trước những tác động của thiên tai hay biến động của thị trường.
Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự PHGN của đối tượng HND mà ở
các nhóm xã hội khác không có.
Gắn với nông nghiệp và nông thôn, kinh tế HND còn mang trong nó nhiều đặc
điểm kinh tế - xã hội, văn hóa của cộng đồng nông thôn được hình thành trong lịch sử.
Với nhiều quốc gia, trong đó có nước ta, những đặc điểm này vừa mang lại những thuận
lợi (chẳng hạn, làng nghề truyền thống, văn hóa truyền thống, những tục lệ tốt đẹp trong
kinh doanh ), và cũng gây ra không ít những trở ngại trên con đường phát triển kinh tế
hộ (chẳng hạn, tính chất cô lập của phường hội, những hủ tục, quan niệm lạc hậu trong
sản xuất ).
Từ những ý kiến trên đây và từ thực tiễn có thể rút ra một số kết luận về hộ và

dẫn tới sự phá sản một bộ phận lớn HND, đòi hỏi xuất hiện các hình thức kinh tế hợp tác,
liên doanh, liên kết để bảo vệ kinh tế HND.
Ba là, kinh tế HND bao gồm toàn bộ tư liệu tiêu dùng bảo đảm cuộc sống các
thành viên trong gia đình và những tư liệu sản xuất hoặc vốn bằng tiền mà các thành
viên trong hộ sử dụng để đem lại thu nhập, trong đó có thu nhập từ hoạt động kinh
doanh nông nghiệp.
Từ những phân tích trên chúng tôi quan niệm kinh tế HND là một bộ phận
quan trọng của nền kinh tế quốc dân, sự phát triển hay trì trệ của nó có tính quy định
với quá trình PHGN của các HND. Với nhiều quốc gia đang phát triển có nền kinh tế
mà nông nghiệp còn đang đóng vai trò lớn trong nền kinh tế quốc dân, "hình ảnh" HND
làm ăn phát đạt có thể được xem là hình mẫu tiêu biểu cho quá trình chống những hậu
quả tiêu cực của quá trình PHGN trong xã hội
1.1.2. Sự phân hóa giàu nghèo của các hộ nông dân trong phát triển kinh tế
hàng hóa
1.1.2.1. Về phân hóa giàu nghèo
Để làm rõ PHGN phải bắt đầu từ các khái niệm giàu, nghèo, phân hóa. Theo Từ
điển tiếng Việt, giàu là khái niệm dùng để chỉ tình trạng "có nhiều tiền của, có tài sản
lớn hơn mức bình thường" [38, 380]; còn nghèo "là tình trạng không có hoặc có rất ít
những gì thuộc yêu cầu tối thiểu của đời sống vật chất", là trái với giàu [38, 653]; phân
hóa là "chuyển một khối thành các phần đối lập nhau", khác hẳn nhau [38, 633].
Thu nhập, tài sản, vốn liếng và chi tiêu là những yếu tố cấu thành giàu và nghèo
của mỗi cá nhân và hộ gia đình. Trong đó, thu nhập là yếu tố quan trọng nhất, bởi vì nó
sẽ quyết định mức độ, cơ cấu của tài sản, vốn liếng và chi tiêu. Như vậy, giữa giàu và
nghèo tồn tại một khoảng cách chênh lệch về độ lớn của các yếu tố cấu thành theo
hướng đối lập nhau giữa cao và thấp, giữa nhiều và ít ở các nước TBCN phát triển
người ta cho rằng, thu nhập bình quân đầu người của xã hội là đường ranh giới giữa
giàu và nghèo. Nếu cá nhân hộ gia đình nào có mức thu nhập cao hơn thu nhập bình

PHGN [16, 11].
Cũng từ quan niệm duy vật lịch sử, V.I. Lênin (1870-1924) chỉ ra: "Sự khác
nhau về địa vị trong một hệ thống sản xuất xã hội là khác nhau về quyền sở hữu tư liệu
sản xuất và về vai trò trong tổ chức lao động cũng như về cách hưởng thụ và chiếm đoạt
lao động, đó là những yếu tố chi phối sự phân hóa xã hội" [16, 15].
Về PHGN, nhiều tác giả khác cũng đã đề cập tới vấn đề này. Nhà xã hội học
Max Weber (1864-1920) có cách tiếp cận khác khi nghiên cứu cơ sở của sự PHGN.
Theo ông: "Phân công lao động xã hội, quyền lực và uy tín của mỗi cá nhân đều có ảnh
hưởng tới PHGN". Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, hoàn cảnh giai cấp, địa vị xã
hội xét đến cùng, như một nhận xét của ông, cũng là "hoàn cảnh thị trường" [16, 17].
KTTT là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa. Trong KTTT, lợi nhuận
là mục tiêu và động lực của hoạt động kinh tế. Nó đòi hỏi mọi chủ thể của các thành
phần kinh tế phải tích cực suy nghĩ, tính toán, tổ chức sản xuất kinh doanh sao cho phù
hợp với yêu cầu thị trường. Giá cả hàng hóa - dịch vụ trên thị trường là "mệnh lệnh" đối
với người sản xuất. Tiếp cận thị trường được hay không là yếu tố quan trọng ảnh hưởng
đến "số phận" mỗi cá nhân. Mỗi người đều có sự khác nhau về năng lực thể chất, trí tuệ,
đạo đức. Từ đó khả năng thâm nhập "hoàn cảnh thị trường" là khác nhau và dẫn đến thu
nhập, tài sản khác nhau.
Nhờ phát huy được nhân tố con người, tận dụng được thành tựu của khoa học
công nghệ, mở rộng được thị trường kinh doanh nên KTTT đã tạo ra sự phát triển vượt
bậc của lực lượng sản xuất. Dưới sự tác động của các quy luật kinh tế như quy luật giá trị,
quy luật cung cầu chủ thể sản xuất hàng hóa phải tìm mọi cách thức để nâng cao năng
suất lao động trong đó áp dụng khoa học kỹ thuật là cốt yếu nhất. KTTT cũng tạo điều
kiện, cơ hội cho mỗi con người phát huy năng lực của mình trong sản xuất và đời sống
xã hội. Đây cũng được coi là những cơ sở khách quan cho việc giải quyết PHGN. Nhận
định về vấn đề này, có tác giả cho rằng: "Sự PHGN là hệ quả tất yếu của nền kinh tế
hàng hóa vận hành theo cơ chế thị trường [18, 199].

tiện; nạn chặt phá rừng, khai thác cạn kiệt tài nguyên môi trường, những bệnh tật hiểm
nghèo cũng đang gia tăng theo quá trình này.
ở Việt Nam, vấn đề PHGN đã từng diễn ra trong lịch sử nhưng chưa trở thành vấn
đề lý luận và thực tiễn nóng bỏng như hiện nay. Những năm trước đổi mới, trong cơ chế
quản lý kinh tế tập trung bao cấp, ở nước ta tuy vẫn có sự chênh lệch về thu nhập, tài
sản, chi tiêu giữa các cá nhân và hộ gia đình nhưng không lớn. Bởi vì, khi mà "có tới
70% dân số nghèo" [49, 3] ở cả nông thôn và thành thị thì hiện tượng này cũng có thể
được coi là kết quả của việc lực lượng sản xuất kém phát triển và chế độ phân phối theo
lối "bình quân, cào bằng".
Từ khi cả nước tiến hành sự nghiệp đổi mới, một trong những thành tựu nổi bật
của công cuộc đổi mới là sự phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Nhờ khai
thác giải phóng sức sản xuất của kinh tế HND mà năng suất, sản lượng lương thực liên
tục tăng lên. Hơn mười năm qua Việt Nam luôn là nước xuất khẩu gạo có thứ hạng cao
trên thế giới.
Kinh tế nông nghiệp và nông thôn có những bước phát triển to lớn. Nếu lấy
mức tăng giá trị sản lượng nông sản giai đoạn 1976-1980 chỉ đạt 1,7%/ năm, thì giai
đoạn 1991-1997 đạt bình quân 4,5%/năm. Sản lượng lương thực năm 1991 là 21,5 triệu
tấn. Đến năm 1997 là 30,5 triệu tấn. Năm 1999 giá trị sản xuất nông nghiệp tăng so với
năm 1998 là 5,2-5,5%. Sản lượng lương thực ước khoảng 33,8 triệu tấn.
Thu nhập của nông dân ngày càng nâng cao. Năm 1995 so với năm 1990 thu
nhập bình quân đầu người ở nông thôn tăng 22,2%, năm 1996 so với năm 1995 là 8,9%.
GDP bình quân đầu người năm 1999 cả nông thôn và thành thị tăng 1,7 lần so với năm
1990.
Được hưởng thành tựu của công cuộc đổi mới sản xuất và đời sống của nhiều
HND được nâng lên rõ rệt. Nhận định tình hình này, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VIII viết: "Số hộ có thu nhập trung bình và số hộ giàu tăng lên, số hộ nghèo giảm"
[48, 59]. Nhiều cơ sở vật chất hạ tầng ở cả nông thôn và thành thị được nâng cấp và xây

nhất thì bội số chênh lệch trung bình là 7 đến 8 lần. Còn nếu so sánh theo tiêu thức thu
nhập của hộ giàu nhất và hộ nghèo nhất trong cùng một thời điểm, ở trên cùng một địa
phương, như ở Nam Bộ là hàng trăm lần.
Chúng ta có thể tham khảo mức chênh lệch về thu nhập giữa các hộ ở nông thôn
các vùng trong cả nước ở bảng 1:
Bảng 1
So sánh tỷ lệ hộ giàu và hộ nghèo và mức phân tầng trong cả nước
Vùng
Thu nhập
(1.000đ)
Tỷ lệ hộ
nghèo %
Tỷ lệ hộ
giàu %
Mức phân
tầng (lần)
Chung cả nước 68-94 12,5-23,1 1,5 5,5
Vùng núi Bắc Bộ 50-71 11,0-31,0 0,8 4,8
Đồng bằng trung du Bắc
Bộ
71-93 10,7-17,0 1,3 5,31
Duyên hải Bắc Trung Bộ

60-91 15,2-32,9 2,0 6,42
Tây Nguyên 55-74 14,4-26,5 1,3 7,07
Đông Nam Bộ 80-13,8 18,7-23,7 4,6 7,69
Đồng bằng sông Cửu

HND giàu có thực sự là một nhân tố mới, góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa (CNH, HĐH) trong nông nghiệp, nông thôn mà chúng ta cần ủng hộ,
nghiên cứu và phổ biến kinh nghiệm.
Mặt tiêu cực của PHGN của các HND, làm cho một bộ phận HND mất dần khả
năng và cơ hội bình đẳng với các chủ thể khác trên thị trường. Họ không tự vươn lên
được theo quỹ đạo của cơ chế thị trường. Vì nhiều lý do khách quan - chủ quan, họ phải
cầm cố hết các tư liệu sản xuất, buộc phải đi làm thuê, làm mướn kiếm sống hàng ngày.
Bộ phận dân cư này thường gắn với những điều kiện sống tối thiểu: thu nhập thấp, nhà
cửa tạm bợ, lụp xụp, con đông, thất học, không điện và nước sạch Đây cũng là những
đối tượng thường xuyên phải cứu trợ giúp đỡ của cộng đồng và xã hội. Rõ ràng, nghèo
đói, lạc hậu trong nông nghiệp, nông thôn đang là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và
Nhà nước ta trong sự nghiệp CNH, HĐH cũng như quá trình hội nhập với khu vực và
quốc tế.
Mặt khác, cũng phải thừa nhận rằng việc xuất hiện ngày càng nhiều hộ giàu,
người giàu bằng các hoạt động phi pháp thì công bằng xã hội, lành mạnh xã hội cũng là
những vấn đề nhức nhối. Không ít tiêu cực gắn với hộ giàu, cách làm giàu như buôn lậu,
ăn cắp, cho vay nặng lãi, coi thường người nghèo v.v Còn hộ nghèo thì bất lực, an phận,
buông xuôi, trông chờ, thậm chí còn sa vào rượu chè, cờ bạc và các tệ nạn xã hội khác.
Nổi bật là những hệ quả xã hội: "phân hóa giàu nghèo tạo nên sự bất công bằng xã hội
dẫn đến sự tha hóa con người, môi trường sinh thái mất cân bằng " [35, 296].
Như vậy, PHGN của các HND nước ta là hiện tượng kinh tế-xã hội trong đó
diễn ra quá trình chuyển các HND thành các tầng lớp khác hẳn nhau theo chuẩn mực
giàu nghèo.
Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên đây có thể rút ra một số kết luận:
Thứ nhất: PHGN là một hệ quả tất yếu của sự phát triển kinh tế thị trường.
PHGN có liên quan đến tính giai đoạn của KTTT và thay đổi các hình thức tổ chức kinh
tế như: kinh tế hộ, kinh tế cổ phần, kinh tế tư bản tư nhân. Thực tế cho thấy từ thể chế

quốc nội (GDP) mà còn phải đề ra cả chỉ số phát triển con người (HDI) để đánh giá mức
độ giàu - nghèo.
Thông thường người ta sử dụng các tiêu chí để đánh giá giàu nghèo như: thu
nhập, nhà ở, tiện nghi sinh hoạt gia đình, chi tiêu, hưởng thụ văn hóa Nhưng tiêu chí
thu nhập về kinh tế (thông qua v + m) và nhà ở cùng các tiện nghi sinh hoạt được xem
là quan trọng nhất. Hai tiêu chí này phản ánh trực tiếp mức sống của các cá nhân và hộ
gia đình. Ngoài ra, còn có tiêu chí tư liệu sản xuất và vốn liếng để dành cũng có ý nghĩa
không nhỏ. Như đã phân tích ở trên, thường những cá nhân và hộ gia đình rơi vào hoàn
cảnh nghèo đói chẳng hạn, thì thu nhập hết sức ít ỏi, nhà ở tạm bợ, nghèo nàn cũ kỹ, tư
liệu sản xuất và vốn liếng hầu như không có gì. Nhưng với hộ giàu thì những tiêu chí đó
có sự cách biệt ngược lại tương ứng rất rõ nét.
Để có đơn vị thống nhất, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội nước ta đã quy
định lấy mức thu nhập bình quân đầu người/tháng được quy ra gạo và tiền tương ứng
thu nhập bằng tiền quy ra gạo là dựa trên cơ sở mức chi tiêu lương thực, thực phẩm bảo
đảm khẩu phần ăn duy trì nhiệt lượng tiêu dùng cho một người, một ngày là 2.100 calo.
Căn cứ vào thu nhập, có thể chia các HND thành các mức độ tương ứng với các khái
niệm: nghèo tương đối; nghèo tuyệt đối; thiếu đói; đói gay gắt; trung lưu; giàu [26, 7].
Sự phân loại giàu nghèo ở nông thôn Việt Nam trong cải cách ruộng đất trước đây
thường căn cứ vào số ruộng đất, trâu bò, tư liệu sản xuất. Do đó, "xét về cơ cấu sản xuất
thì trong giai cấp nông dân có các tầng lớp phú nông, trung nông, bần nông, cố nông"
[1, 187] là phù hợp. Trong điều kiện chuyển sang nền KTTT thì tiêu chí thu nhập bằng
tiền đang nổi lên để xác định chuẩn mực; chẳng hạn: "Thu nhập bình quân đầu
người/tháng ở các loại hộ" năm 1993 được phản ánh trong bảng 2.
Bảng 2
So sánh các loại hộ theo địa bàn
Loại hộ Nông thôn Thành thị
1. Hộ nghèo, trong đó: Dưới: 50.000đ Dưới: 70.000đ

và các điều kiện như trên thuộc nhóm II (có phương tiện đi lại từ 2-3 loại phương tiện
phổ thông, có từ 3-5 loại phương tiện sinh hoạt, nhà "kê" (nhà có nền móng tốt) giá trị
cao, nhà cấp 4.
Hộ giàu: Bao gồm cả những hộ rất giàu, triệu phú, tức những hộ loại 1-2-3.
Với thu nhập bình quân đầu người năm khoảng 5.000.000đ trở lên và các điều kiện như
trên thuộc nhóm III (có từ 4 loại phương tiện đi lại trở lên; có từ 6 loại phương tiện sinh
hoạt trở lên; nhà ở kiên cố, có lầu (tầng), biệt thự.
Cũng có thể tham khảo thêm một số tiêu chí khác để nhận diện rõ hơn PHGN
của nông dân KG. Chẳng hạn, xét về thu nhập, HND đạt danh hiệu sản xuất giỏi theo
quy định của Bộ và của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn KG giai đoạn 1997-
2000 có thể xem là hộ giàu với thu nhập sau khi trừ chi phí sản xuất, từ 20 triệu
đồng/năm trở lên [32]. Nếu so sánh với mức tăng GDP bình quân đầu người từ đầu thập
kỷ 90 lại đây và giữa các địa phương trong cả nước thì tiêu chí này cũng tương đương
như cách đánh giá của một số tác giả khác [37].
Có thể nhận định rằng, nếu đối tượng HND nghèo được phân tích khảo sát
tương đối kỹ cả về định tính và định lượng, thì với những hộ giàu, vấn đề giàu ở nước ta
chưa thật được rõ, vì còn thiếu nhiều dữ kiện, số liệu chính thức. Một lý do khiến các
cuộc điều tra về hộ giàu ở ta chưa chính xác vì chưa có hình thức, biện pháp, cơ chế về
kê khai tài sản, thu thập của các cá nhân và HND.
Để xác định mức độ PHGN, người ta thường sử dụng hai phương pháp. Một là,
xác định tỷ lệ phần trăm của các loại hộ giàu - nghèo trong tổng số hộ khảo sát theo
những tiêu chí cụ thể của mỗi thời kỳ để đánh giá xu hướng diễn biến của sự PHGN.
Hai là, để đo sự chênh lệch giàu - nghèo trong xã hội thì tiêu chí thường được sử dụng
là thu nhập bình quân của 20% tổng số hộ có thu nhập thấp nhất so sánh với thu nhập
bình quân của 20% số hộ có thu nhập cao nhất. Từ đó, có bội số thu nhập trung bình
giữa hai nhóm. Bội số chênh lệch càng lớn thì khoảng cách giàu - nghèo càng tăng. Với
tỷ lệ này thì hệ số chênh lệch giàu nghèo có giá trị phổ biến cho các loại hộ cũng như

xét từ những điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội chưa thuận lợi cho quá trình sản
xuất và đời sống của HND. Chẳng hạn, về nguyên nhân tự nhiên, có thể liệt kê như sau:
Đất canh tác ít; đất cằn cỗi, sỏi đá, phèn mặn, vị trí xa xôi hẻo lánh; thời tiết khí hậu
không thuận lợi cho sản xuất, canh tác; giao thông vận chuyển khó khăn
Những nguyên nhân xã hội là những nguyên nhân liên quan đến chính sách cơ
chế của Nhà nước và tác động của cộng đồng đối với hộ nghèo và vấn đề nghèo đói. Ví
dụ, chính quyền trung ương, địa phương chưa xây dựng cơ sở hạ tầng: điện, đường,
trường, trạm; chưa có chính sách điều chỉnh ruộng đất hợp lý; do thiếu thị trường, giá cả
thị trường không ổn định, giá nông sản thấp khó tiêu thụ, bị ép cấp, ép giá, giá vật tư
phân bón cao; chưa có biện pháp hành chính, giáo dục thích đáng để hạn chế các tệ nạn
xã hội; [31, 219].
Nhóm 3: Là nhóm các hộ nghèo đói do các nguyên nhân kết hợp. Các nhóm 1, 2
nêu trên là những nguyên nhân trực tiếp có tính chất chủ quan và khách quan, kết hợp
lại tạo thành ba dạng nguyên nhân gây nghèo đói. Chẳng hạn: Vì mắc các tệ nạn xã hội;
thiếu ruộng đất, do bị thu hồi điều chỉnh bớt ruộng đất; do không biết làm gì khác ngoài
nghề nông
Gần đây, chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1998 - 2000
đã xác định những nguyên nhân chính và phân thành ba nhóm:
* Nhóm nguyên nhân do điều kiện tự nhiên không thuận lợi: khí hậu khắc
nghiệt, thiên tai, bão lụt, hạn hán, sâu bệnh, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao
thông khó khăn đã và đang kìm hãm sản xuất, gây ra tình trạng nghèo đói.
* Nhóm nguyên nhân do chủ quan của người nghèo: thiếu vốn, đông con, thiếu
lao động, không có việc làm, thiếu kiến thức làm ăn, mắc các tệ nạn xã hội hay lười lao
động.
* Nhóm nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: thiếu hoặc không đồng bộ về
chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn, chính sách khuyến
khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, lâm, ngư, chính

chính trị của giai cấp cầm quyền, quan điểm nhận thức, phương thức, phương pháp giải
quyết, xử lý vấn đề công bằng xã hội của hệ thống chính trị.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(CNXH) của Đảng ta đã đề ra trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế, xã hội coi
mục tiêu cao nhất là vì con người và do con người, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng văn minh. Chính những điều này thể hiện và quán triệt trong mọi văn
kiện chỉ đạo và thực hiện của Đảng và chính quyền các cấp. PHGN của các HND cũng
như với các đối tượng khác trong xã hội nước ta chịu tác động, chi phối của nhân tố này
cả về quy mô, mức độ, xu hướng.
1.2. phân hóa giàu nghèo của hộ nông dân và kinh nghiệm giải quyết vấn đề
này ở một số nước trong khu vực
1.2.1. Phân hóa giàu nghèo hộ nông dân ở Trung Quốc
Khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời, một trong những mục tiêu mà
Đảng Cộng sản Trung Quốc xác định là xóa bỏ nghèo đói, tiêu diệt áp bức bóc lột, đem
lại hạnh phúc no ấm cho nhân dân. Tuy nhiên, cho đến đầu những năm 70 của thế kỷ
XX mục tiêu đó cũng chưa đạt được. Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn.
Cuối năm 1978 từ công cuộc cải cách do Đảng cộng sản khởi xướng, Trung
Quốc sửa chữa được những sai lầm, từng bước xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần. Kể từ Đại hội lần thứ XIV của đảng Cộng sản Trung Quốc (1992) Trung
Quốc chính thức khẳng định mục tiêu cải cách theo cơ chế KTTT XHCN. Nhờ vậy
Trung Quốc đã giải phóng được tiềm năng kinh tế xã hội, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng

Trích đoạn Đẩy mạnh quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế gắn với phân công lại lao động ở nông thôn theo hướng CNH, HĐH Phát triển các hình thức kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, nông Đẩy mạnh việc thực hiện chương trình quốc gia về xóa đói giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong nông thôn, đổi mới chính sách xã Giải pháp về lao động việc làm của các hộ nông dân Tiếp tục hoàn thiện chính sách ruộng đất trong nông nghiệp, nông thôn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status