Tổ chức hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, huyện, xã thực trạng và giải pháp - Pdf 20

Tiểu luận tốt nghiệp TCLLCT-HC Trang 1/22
CHƯƠNG 1
TỔ CHỨC CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH, HUYỆN, XÃ
Trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, Hội đồng nhân dân là cơ
quan có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo hiệu lực, hiệu quả hoạt động
quản lý nhà nước, trật tự pháp luật, pháp chế và quyền làm chủ của nhân dân ở địa
phương cơ sở.
I. TỔ CHỨC CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH
Tại Điều 5 của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
(HĐND và UBND) năm 2003 quy định “HĐND các cấp có Thường trực HĐND.
HĐND cấp tỉnh, cấp huyện có các Ban của HĐND” và tại các Điều 52, Điều 54
quy định “Thường trực HĐND do HĐND cùng cấp bầu ra”, “HĐND cấp tỉnh lập
ra 3 Ban; Ban Kinh tế và Ngân sách, Ban Văn hoá - Xã hội, Ban Pháp chế; nơi nào
có nhiều dân tộc thì có thể thành lập Ban Dân tộc”.
Như vậy, theo quy định trên thì HĐND cấp tỉnh có Thường trực HĐND và
các Ban của HĐND.
Khi so sánh quy định tại Điều 5 của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm
2003 với quy định tại Điều 5 của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1994 thì
chúng ta thấy rằng tổ chức của HĐND cấp tỉnh không có sự thay đổi.
*Mô hình cơ cấu tổ chức của hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem Phụ lục 1
1. Cơ cấu, tổ chức của Thường trực HĐND cấp tỉnh
Theo quy định hiện hành thì Thường trực HĐND cấp tỉnh gồm có Chủ tịch,
Phó Chủ tịch và Ủy viên Thường trực (Điều 52 của Luật Tổ chức HĐND và
UBND năm 2003). Các chức danh này do HĐND cùng cấp bầu ra trong số đại biểu
HĐND theo sự giới thiệu của Chủ tịch HĐND khoá trước.
Các thành viên của Thường trực HĐND cấp tỉnh không thể đồng thời là
thành viên của Uỷ ban nhân dân cùng cấp.
Chủ tịch HĐND có thể làm nhiệm vụ kiêm nhiệm, Phó Chủ tịch HĐND và
Ủy viên Thường trực phải làm việc chuyên trách (điểm 5 Điều 18 Quy chế Hoạt
động của HĐND năm 2005).
Khi nghiên cứu các quy định trước khi Luật Tổ chức HĐND và UBND năm

HĐND và UBND
năm 1994
Cơ cấu tổ chức của
HĐND cấp xã theo
Luật Tổ chức HĐND
và UBND năm 2003
Về tổ
chức
Không tổ chức ra
Thường trực
HĐND cấp tỉnh
Tổ chức ra Thường
trực HĐND cấp
tỉnh
Tổ chức Thường
trực HĐND cấp
tỉnh
Tổ chức Thường trực
HĐND cấp tỉnh
Về cơ
cấu
Không có các chức
danh:
- Chủ tịch HĐND
- Phó Chủ tịch
HĐND
(kỳ họp do UBND
cùng cấp triệu tập)
Thường trực
HĐND gồm:

Luật Tổ chức
HĐND và UBND
năm 1994
Tại Điều 5, Điều 52 của
Luật Tổ chức HĐND và
UBND năm 2003
2. Cơ cấu, tổ chức của các Ban của HĐND cấp tỉnh
Theo quy định hiện nay thì HĐND cấp tỉnh có các Ban như sau: Ban Pháp
chế, Ban Kinh tế - Ngân sách, Ban Văn hoá - Xã hội. Ngoài ra, tuỳ theo đặc thù
của từng địa phương mà thành lập thêm Ban Dân tộc (đối với tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương có nhiều dân tộc).
Ví dụ: Căn cứ vào đặc thù của tỉnh Ninh Thuận có nhiều dân tộc, HĐND
tỉnh Ninh Thuận lập 4 Ban gồm: Ban Kinh tế và Ngân sách, Ban Văn hoá - Xã hội,
Ban Pháp chế, Ban Dân tộc (theo quy định tại Điều 54).
Về cơ cấu tổ chức của các Ban của HĐND cấp tỉnh:
Theo quy định của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 thì số lượng
thành viên của các Ban của HĐND cấp tỉnh sẽ do HĐND cùng cấp quyết định.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu các quy định của Quy chế Hoạt động của HĐND năm
2005 thì chúng ta có thể thấy rằng mỗi Ban sẽ gồm Trưởng ban, Phó Trưởng ban,
các thành viên khác và bộ phận giúp việc cho Ban. Trong đó Trưởng ban hoặc Phó
Đề tài: Tổ chức hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, huyện, xã thực trạng và giải pháp
Tiểu luận tốt nghiệp TCLLCT-HC Trang 3/22
Trưởng ban phải làm việc chuyên trách, người còn lại có thể làm việc kiêm nhiệm.
HĐND cùng cấp sẽ quy định thời gian mà Trưởng Ban hoặc Phó Trưởng Ban làm
việc kiêm nhiệm phải dành cho hoạt động của Ban (Điều 26 của Quy chế Hoạt
động của HĐND năm 2005).
Các thành viên của các ban của HĐND cấp tỉnh không thể đồng thời là
thành viên của UBND cùng cấp; Trưởng các Ban không thể đồng thời là thủ
trưởng các cơ quan chuyên môn của UBND cùng cấp, Chánh án Toà án nhân dân,
Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp (Điều 54).

2003 thì HĐND cấp huyện có Thường trực HĐND và 02 Ban: Ban Kinh tế - xã hội
và Ban Pháp chế.
Đề tài: Tổ chức hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, huyện, xã thực trạng và giải pháp
Tiểu luận tốt nghiệp TCLLCT-HC Trang 4/22
Khi so sánh đối chiếu quy định tại Điều 5 của Luật Tổ chức HĐND và
UBND năm 2003 và quy định tại Điều 5 của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm
1994 thì chúng ta thấy rằng tổ chức của HĐND cấp huyện không thay đổi.
Cũng giống như quy định đối với các thành viên Thường trực HĐND cấp
tỉnh, Trưởng các ban của HĐND cấp tỉnh, các thành viên của Thường trực HĐND
cấp huyện không thể đồng thời là thành viên của UBND cùng cấp; Trưởng các Ban
không thể đồng thời là thủ trưởng các cơ quan chuyên môn của UBND, Chánh án
Toà án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp (Điều 52, Điều 54
của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003).
Về tổ chức HĐND cấp huyện, theo Hiến pháp năm 1959 không quy định về
tổ chức HĐND cấp huyện nhưng kể từ Hiến pháp 1980 đến Hiến pháp 1992 đã quy
định về việc tổ chức HĐND ở tất cả các cấp (tỉnh, huyện, xã).
*Mô hình cơ cấu tổ chức của hội đồng nhân dân cấp huyện xem Phụ lục 2
1. Cơ cấu, tổ chức của Thường trực HĐND cấp huyện
Căn cứ vào các quy định hiện hành, có thể thấy rằng, Thường trực HĐND
cấp huyện gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Ủy viên thường trực. Trong đó, Chủ tịch
có thể làm việc kiêm nhiệm, Phó Chủ tịch, Ủy viên Thường trực làm nhiệm vụ
chuyên trách (điểm 5 Điều 18 của Quy chế hoạt động của HĐND năm 2005).
Cũng giống như ở cấp tỉnh, các chức danh trên được HĐND cấp huyện bầu
ra tại kỳ họp đầu tiên của mỗi khoá trong số đại biểu HĐND cấp huyện theo sự
giới thiệu của Chủ tịch HĐND khoá trước.
Khái niệm Thường trực HĐND chỉ tồn tại từ năm 1989 đến nay. Trước đó,
(Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1962, 1983), HĐND huyện không có
Thường trực HĐND nên trong thời gian giữa 2 kỳ họp Uỷ ban nhân dân cùng cấp
sẽ làm thay vai trò của cơ quan Thường trực của HĐND. Do vậy, vị trí của HĐND
ở địa phương bị lu mờ. Mặc dù vậy, từ năm 1989 đến trước khi có Luật Tổ chức

và UBND năm 2003
Về tổ
chức
Không tổ chức ra
Thường trực
HĐND cấp huyện
Tổ chức ra Thường
trực HĐND cấp
huyện
Tổ chức Thường
trực HĐND cấp
huyện
Tổ chức Thường trực
HĐND cấp huyện
Về cơ
cấu
Không có các chức
danh:
- Chủ tịch HĐND
- Phó Chủ tịch
HĐND
(kỳ họp do UBND
cùng cấp triệu tập)
Thường trực
HĐND gồm:
- Chủ tịch HĐND
- Phó Chủ tịch
HĐND
- Thư ký HĐND
Các chức danh trên

UBND năm 2003
2. Cơ cấu, tổ chức của các Ban của HĐND cấp huyện
Theo quy định tại đoạn 2 Điều 54 của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm
2003 thì HĐND huyện có 02 ban: Ban Kinh tế - xã hội và Ban Pháp chế. Mỗi ban
gồm có Trưởng ban, Phó trưởng ban và các thành viên khác.
Cũng giống như thành viên của các Ban của HĐND cấp tỉnh, thành viên của
các Ban của HĐND cấp huyện cũng không thể đồng thời là thành viên của UBND
cùng cấp; Trưởng Ban không thể đồng thời là thủ trưởng cơ quan chuyên môn của
UBND, Chánh án Toà án nhân dân, Viện Trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cùng
cấp (Điều 54 của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003). Quy định này nhằm
đảm bảo cho hoạt động của Ban, hoạt động của các thành viên của các Ban được
độc lập, khách quan.
Việc tổ chức các Ban như quy định hiện nay đã có sự đổi mới so với các quy
định trước đây. Vì trước năm 1994, việc thành lập các Ban không thống nhất nên
hoạt động của các Ban chưa thực sự hiệu quả. Cho đến khi ban hành Luật Tổ chức
HĐND và UBND năm 1994 thì các nhà làm luật đã quy định cụ thể HĐND cấp
huyện được thành lập 2 Ban (Gồm Ban Pháp chế, Ban Kinh tế - Xã hội). Luật Tổ
chức HĐND và UBND năm 2003 tiếp tục kế thừa quy định trên nhưng đã có sự
đổi mới đáng chú ý là việc quy định Trưởng ban hoặc Phó trưởng ban có thể hoạt
động chuyên trách (Điều 26 Quy chế Hoạt động của Hội đồng nhân dân năm
2005).
Đề tài: Tổ chức hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, huyện, xã thực trạng và giải pháp
Tiểu luận tốt nghiệp TCLLCT-HC Trang 6/22
Ngoài các Ban chuyên môn vừa nêu ở trên ra, tại kỳ họp đầu tiên của mỗi
khoá, HĐND cấp huyện còn thành lập các Ban lâm thời (Ví du:Ban thẩm tra tư
cách đại biểu nhân dân) và các Ban này sẽ tự giải tán khi xong nhiệm vụ.
3. Các Tổ đại biểu HĐND cấp huyện
Các tổ đại biểu HĐND cấp huyện được thành lập ở các địa phương để phối
hợp công tác giữa 2 kỳ họp HĐND. Thường trực HĐND cấp huyện sẽ giữ vai trò
điều hoà, phối hợp hoạt động của các Tổ đại biểu HĐND.

so sánh
Các luật trước
Luật Tổ chức
HĐND và UBND
năm 1989 (luật
1962, 1983)
Cơ cấu tổ chức
của HĐND cấp xã
theo Luật Tổ chức
HĐND và UBND
năm 1989
Cơ cấu tổ chức của
HĐND cấp xã theo
Luật Tổ chức
HĐND và UBND
năm 1994
Cơ cấu tổ chức của
HĐND cấp xã theo
Luật Tổ chức HĐND
và UBND năm 2003
Về tổ
chức
Không tổ chức ra
Thường trực
HĐND cấp xã
Không tổ chức ra
Thường trực
HĐND cấp xã
Không tổ chức
Thường trực HĐND

trách
Quy định
Xem thêm Luật Tổ
chức HĐND và
UBND năm 1962,
1983
Tại Điều 3 và Điều
18 Luật Tổ chức
HĐND và UBND
năm 1989
Tại Điều 5 của Luật
Tổ chức HĐND và
UBND năm 1994
Tại Điều 5, Điều 52 của
Luật Tổ chức HĐND và
UBND năm 2003
Các tổ đại biểu HĐND cấp xã được thành lập ở các địa phương để phối hợp
công tác giữa 2 kỳ họp HĐND. Thường trực HĐND cấp xã sẽ giữ vai trò điều hoà,
phối hợp hoạt động của các Tổ đại biểu HĐND (xem thêm phần hoạt động của đại
biểu HĐND và Thường trực HĐND). Thông thường thì các tổ đại biểu HĐND cấp
xã được thành lập theo các thôn, làng, các khu phố …
CHƯƠNG 2
HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH, HUYỆN, XÃ
HĐND các cấp thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình thông qua việc
triển khai các hoạt động của các bộ phận cấu thành, đó là: hoạt động của Đại biểu
HĐND, hoạt động của Thường trực HĐND, hoạt động của các Ban của HĐND
(Đối với HĐND cấp tỉnh và huyện). Các bộ phận trên hoạt động thông qua các
hình thức như Kỳ họp (hình thức chủ yếu và quan trọng nhất), tổ chức giám sát
(giám sát chuyên đề, giám sát đột xuất), tiếp xúc cử tri (trước và sau mỗi kỳ họp),
chất vấn; tiếp nhận đơn thư của công dân, chuyển cho cơ quan chức năng và theo

hiện nghị quyết của HĐND.
Tuy nhiên, tại kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa HĐND thì nội dung chủ yếu là
bầu ra các cơ cấu của HĐND, UBND nên kỳ họp này có thể coi là kỳ họp về tổ
chức bộ máy chính quyền ở địa phương. Tại kỳ họp này, HĐND sẽ bầu ra Thường
trực HĐND (Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên thường trực), các thành viên của
UBND (Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các ủy viên UBND), thành viên các Ban của
HĐND, thư ký kỳ họp.
Đại biểu HĐND có nhiệm vụ tham dự đầy đủ các Kỳ họp thường kỳ, Kỳ
họp chuyên đề, Kỳ họp bất thường của HĐND; tại kỳ họp, các đại biểu có trách
nhiệm tham gia thảo luận và quyết định những vấn đề liên quan đến nội dung,
chương trình của kỳ họp HĐND. Khi đại biểu HĐND vắng mặt, phải có lý do và
báo cáo Chủ tịch HĐND hoặc Chủ toạ phiên họp (Điều 38 Luật Tổ chức HĐND và
UBND năm 2003).
Thành phần quan trọng nhất của các kỳ họp là các đại biểu HĐND, do vậy
việc đảm bảo số lượng tham dự kỳ họp là yêu cầu bắt buộc của các kỳ họp (phải có
ít nhất 2/3 tổng số đại biểu HĐND tham dự). Ngoài ra dự kỳ họp còn có các thành
phần khác như Đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND cấp trên được bầu tại địa
phương, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, các đoàn thể cùng cấp, thủ
Đề tài: Tổ chức hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, huyện, xã thực trạng và giải pháp
Tiểu luận tốt nghiệp TCLLCT-HC Trang 9/22
trưởng các cơ quan chuyên môn của UBND, lãnh đạo các ban ngành như Tòa án
nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân và đại diện cử tri. Mặc dù các thành phần này
cũng được phát biểu ý kiến nhưng không được biểu quyết.
Để kỳ họp HĐND được tổ chức có chất lượng, hiệu quả, pháp luật quy định
các đại biểu có trách nhiệm nghiên cứu trước dự kiến nội dung, chương trình kỳ
họp, các văn bản liên quan đến nội dung kỳ họp như các báo cáo, các tờ trình, đề
án, dự thảo nghị quyết của kỳ họp …; chuẩn bị ý kiến phát biểu về các vấn đề liên
quan đến chương trình nội dung của kỳ họp.
HĐND mỗi năm họp thường lệ 2 kỳ, ngoài ra, khi cần thiết, HĐND cũng có
thể tổ chức các kỳ họp chuyên đề hoặc kỳ họp bất thường theo yêu cầu của Chủ

Đề tài: Tổ chức hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, huyện, xã thực trạng và giải pháp
Tiểu luận tốt nghiệp TCLLCT-HC Trang 10/22
người bị chất vấn trả lời trực tiếp. Nếu cơ quan, người bị chất vấn chưa thể trả lời
trực tiếp tại kỳ họp mà cần điều tra, xác minh thêm thì Hội đồng sẽ quyết định cho
người bị chất vấn phải trả lời bằng văn bản đến đại biểu đã chất vấn và thường trực
HĐND hoặc trả lời chất vấn tại kỳ họp sau.
Hoạt động chất vấn có thể thực hiện trực tiếp tại các kỳ họp hoăc trong thời
gian giữa các kỳ họp. Trong trường hợp chất vấn được thực hiện trong thời gian
giữa các kỳ họp thì đại biểu HĐND gửi chất vấn đến Thường trực HĐND để
chuyển đến cơ quan, người bị chất vấn.
Về hình thức chất vấn, các đại biểu có thể chất vấn bằng văn bản hoặc chất
vấn trực tiếp bằng lời nói.
3. Hoạt động tiếp xúc cử tri trước và sau mỗi kỳ họp thường lệ
Theo quy định tại Điều 39 của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 và
Điều 38 của Quy chế Hoạt động của HĐND năm 2005 thì trước và sau mỗi kỳ họp,
các đại biểu phải tiếp xúc cử tri.
Việc tiếp xúc cử tri trước mỗi kỳ họp của đại biểu là để lắng nghe tâm tư,
nguyện vọng nhân dân nơi đại biểu ứng cử, tiếp thu các ý kiến, kiến nghị của cử tri
với kỳ họp và với các cơ quan nhà nước cấp trên.
Sau kỳ họp, đại biểu phải tiếp xúc cử tri để báo cáo kết quả của kỳ họp, kết
quả giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri, phổ biến và giải thích các nghị
quyết của HĐND và vận động nhân dân thực hiện nghị quyết đó.
Ngoài ra, mỗi năm một lần vào cuối năm, kết hợp với việc tiếp xúc cử tri,
các đại biểu HĐND phải báo cáo với cử tri nơi được bầu kết quả hoạt động của
mình và của HĐND trong năm và phương hướng hoạt động trong năm tới.
Như vậy, qua xem xét, nghiên cứu các quy định về tiếp xúc cử tri của đại
biểu HĐND, chúng ta thấy rằng với hoạt động này sẽ đảm bảo cho các ý kiến, kiến
nghị, phản ánh của nhân dân đến được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, qua
đó giúp cho các cơ quan nhà nước hoàn thiện hiện thống pháp luật, củng cố tổ
chức, nâng cao hiệu quả hoạt động; giúp các cơ quan nhà nước cấp trên trong việc

mình đối với các cơ quan nhà nước, các tổ chức khác tại địa phương.
II. HOẠT ĐỘNG CỦA THƯỜNG TRỰC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
Tuỳ theo cấp hành chính mà cơ cấu của Thường trực HĐND có khác, chẳng
hạn Thường trực HĐND cấp xã chỉ có Chủ tịch và Phó Chủ tịch HĐND, đối với
cấp tỉnh và cấp huyện, thì Thường trực HĐND gồm 3 chức danh: Chủ tịch, Phó
Chủ tịch và Ủy viên Thường trực.
Thường trực HĐND các cấp hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tổ
chức các hoạt động của HĐND, chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước HĐND
cùng cấp. Các thành viên Thường trực HĐND chịu trách nhiệm tập thể về việc
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực HĐND; chịu trách nhiệm cá nhân
trước Thường trực HĐND về nhiệm vụ, quyền hạn được Thường trực HĐND phân
công. Chủ tịch HĐND chỉ đạo hoạt động của Thường trực HĐND cùng cấp; Phó
Chủ tịch, Ủy viên thường trực làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chủ tịch
HĐND.
Việc phân công nhiệm vụ, quyền hạn cho từng thành viên trong Thường trực
HĐND các cấp chưa có quy định cụ thể. Trên thực tế thì việc này do Chủ tịch
HĐND phân công nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể cho từng thành viên.
1. Triệu tập, chủ toạ các kỳ họp của HĐND; phối hợp với UBND cùng
cấp trong việc chuẩn bị cho kỳ họp
Theo quy định thì Thường trực HĐND có trách nhiệm phối hợp với UBND
cùng cấp trong việc chuẩn bị cho kỳ họp của HĐND; triệu tập và chủ toạ các kỳ
họp thường lệ, chuyên đề, đột xuất của HĐND (Điều 53 của Luật Tổ chức HĐND
và UBND năm 2003).
Đề tài: Tổ chức hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, huyện, xã thực trạng và giải pháp
Tiểu luận tốt nghiệp TCLLCT-HC Trang 12/22
Nói chung, hoạt động của HĐND các cấp chủ yếu được tổ chức, triển khai,
thực hiện tại các kỳ họp. Do đó, việc chuẩn bị chu đáo nội dung, chương trình, các
báo cáo, dự thảo các văn bản của HĐND, UBND như nghị quyết, đề án …là rất
quan trọng. Nếu làm tốt khâu chuẩn bị, kỳ họp sẽ được tiến hành khoa học, trôi
chảy, chất lượng và hiệu quả ….Còn ngược lại, sẽ ảnh hưởng kho nhỏ đến hiệu quả

Ví dụ: Từ năm 2004 đến nay, trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận đã và đang thực
hiện Chương trình 134, 135, Nghị quyết 30a của Chính phủ, nếu trong quá trình
triển khai thực hiện, HĐND các cấp thực hiện chức năng giám sát không sát,
không tốt thì rất có thể ở một nơi nào đó, một khâu nào đó sẽ thực hiện không
đúng, dẫn đến một vài nội dung của các Chương trình trên không đạt yêu cầu gây
Đề tài: Tổ chức hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, huyện, xã thực trạng và giải pháp
Tiểu luận tốt nghiệp TCLLCT-HC Trang 13/22
thất thoát ngân sách của nhà nước, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với
Đảng, Nhà nước.
4. Điều hoà, phối hợp hoạt động của các Ban của HĐND, xem xét kết
quả giám sát của các Ban và báo cáo cho HĐND khi cần thiết
Thường trực HĐND cấp tỉnh, cấp huyện có vai trò quan trọng trong việc
điều hoà, phối hợp hoạt động của các Ban của HĐND, trong đó tập trung vào một
số hoạt động sau:
- Phân công cho các Ban thẩm tra các dự thảo nghị quyết, báo cáo, tờ trình,
đề án trình do UBND và các ngành trình ra kỳ họp của HĐND.
- Phân công cho các Ban đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nghị quyết của
HĐND và các công việc khác.
- Phân công cho các Ban một số nội dung trong chương trình giám sát của
HĐND thông qua và Thường trực HĐND.
- Điều hoà, phối hợp chương trình hoạt động của các Ban; đôn đốc các Ban
hoạt động.
- Xem xét kết quả giám sát của các Ban, trong trường hợp cần thiết thì báo
cáo với HĐND để HĐND xem xét, quyết định.
- Tổ chức tập huấn, trao đổi kinh nghiệm hoạt động của các ban nhằm nâng
cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các Ban.
5. Giữ mối quan hệ với đại biểu HĐND, các Tổ đại biểu HĐND; tổng
hợp chất vấn của đại biểu để báo cáo HĐND
- Đôn đốc các Tổ đại biểu HĐND tổ chức để đại biểu HĐND tiếp xúc cử tri,
thu thập ý kiến, nguyện vọng của cử tri.

Ngoài những hoạt động chính như đã trình bày ở trên trên, Thường trực
HĐND còn thực hiện các hoạt động khác như phê chuẩn kết quả bầu các chức
danh của Thường trực HĐND cấp dưới trực tiếp; trình HĐND bỏ phiếu tín nhiệm
đối với các chức danh do HĐND bầu ra theo đề nghị của Mặt trận tổ quốc cùng
cấp hoặc ít nhất 1/3 tổng số đại biểu yêu cầu; phối hợp đưa ra bãi miễn những đại
biểu HĐND không còn xứng đáng theo đề nghị của Mặt trận tổ quốc cùng cấp;
hàng quý, 6 tháng, hàng năm báo cáo tình hình hoạt động của HĐND dân cấp mình
lên HĐND, UBND cấp trên trực tiếp; giữ mối quan hệ phối hợp công tác với Mặt
trận tổ quốc cùng cấp; tổ chức các Hội nghị giao ban giữa thường trực HĐND cấp
mình với Thường trực HĐND cấp dưới nhằm trao đổi, học hỏi kinh nghiệm hoạt
động; hàng tháng tổ chức họp giao ban thường trực HĐND cấp mình nhằm kiểm
điểm việc thực hiện nhiệm vụ, các nghị quyết của HĐND, các quyết định của
chính Thường trực HĐND và đề ra nhiệm vụ tháng sau.
III. HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC BAN CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
Các Ban của HĐND các cấp hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ,
chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND cùng cấp. Các thành viên của
Ban của HĐND chịu trách nhiệm tập thể về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
của Ban trước HĐND; chịu trách nhiệm cá nhân trước Ban về việc thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn được Ban phân công.
Như vậy, hoạt động của Ban của HĐND các cấp gồm hoạt động chung của
Ban và hoạt động của các thành viên trong Ban theo sự phân công của Ban.
Hoạt động của các Ban của HĐND các cấp thể hiện qua các nội dung sau:
1. Hoạt động chuẩn bị cho kỳ họp của HĐND
Các ban của HĐND các cấp chuẩn bị cho kỳ họp HĐND thông qua các nội
dung công việc:
Đề tài: Tổ chức hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, huyện, xã thực trạng và giải pháp
Tiểu luận tốt nghiệp TCLLCT-HC Trang 15/22
- Tham gia chuẩn bị nội dung kỳ họp của HĐND liên quan đến lĩnh vực mà
từng Ban được phân công.
- Thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án của Uỷ ban nhân dân, các

I. THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG
NHÂN DÂN CẤP TỈNH, HUYỆN, XÃ
Trong những năm qua, HĐND các cấp đã từng bước được kiện toàn về tổ
chức, đổi mới phương thức hoạt động, không ngừng phát huy vai trò là cơ quan
quyền lực Nhà nước ở địa phương. Những kết quả mà HĐND các cấp đạt được đã
Đề tài: Tổ chức hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, huyện, xã thực trạng và giải pháp
Tiểu luận tốt nghiệp TCLLCT-HC Trang 16/22
góp phần quan trọng vào việc thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách của
Đảng và pháp luật của Nhà nước, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, thực hiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nuớc mạnh, xã hội dân
chủ, công bằng, văn minh. Song bên cạnh đó vẫn còn bộc lộ những bất cập so với
yêu cầu thực tiễn như sau:
1. Những kết quả đạt được
1.1. Thực hiện vai trò đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân
Thực hiện vai trò đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Những
năm qua, thông qua các hoạt động tiếp dân, tiếp xúc cử tri của HĐND, cử tri đã
đóng góp được nhiều ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị để phản ánh và giúp đại biểu
HĐND quyết định tại các kỳ họp HĐND. Quyền làm chủ của nhân dân cũng được
thực hiện bằng hình thức dân chủ. Nhân dân tham gia ý kiến trực tiếp vào những
vấn đề quan trọng ở địa phương trước khi HĐND xem xét, quyết định. Các kiến
nghị của nhân dân được tổng hợp, báo cáo trước HĐND, chuyển đến các cơ quan,
tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giải quyết.
Những vấn đề HĐND quyết định hầu hết là phù hợp với lòng dân, xuất phát
từ ý chí, nguyện vọng và vì lợi ích của nhân dân, có ý nghĩa thiết thực của địa
phương. Ví như, HĐND ra nghị quyết chuyên đề về việc chống mại dâm, ma tuý;
về an toàn giao thông; về giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân Các
nghị quyết này có hiệu quả rõ rệt trong đời sống xã hội của địa phương, được nhân
dân đồng tình, ủng hộ và thực hiện tốt.
Khi nhận được yêu cầu của UBTVQH về việc tham gia đóng góp ý kiến vào
các dự án luật, pháp luật, tuỳ theo yêu cầu, nội dung, phạm vi, đối tượng, Thường

chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp HĐND, cử tri thấy cần thiết thì gọi điện đề
nghị chủ tọa yêu cầu người bị chất vấn phải trả lời đúng trọng tâm câu hỏi
và đầy đủ rõ ràng hơn, không được vòng vo, ne tránh. Đây là việc làm thể hiện
tính dân chủ cao, mang lại hiệu quả thiết thực được nhân dân đồng tình.
Nhìn chung, đa số cử tri cho rằng, việc chuẩn bị nội dung, chương trình và
tổ chức kỳ họp HĐND các cấp đã có nhiều chuyển biến tích cực, đảm bảo đúng
luật, dân chủ, công khai. Tính hình thức trong các kỳ họp đã được khắc phục từng
bước. Các đại biểu HĐND trong các kỳ họp đã sôi nổi thảo luận những vấn đề
thuộc chương trình nghị sự của kỳ họp một cách dân chủ, thẳng thắn, cởi mở. Chất
lượng các ý kiến phát biểu đã được nâng lên. Nhiều vấn đề quan trọng ở địa
phương đã được HĐND xem xét, thảo luận kỹ trước khi quyết định.
1.3. Hoạt động của Thường trực HĐND
Với chức năng, nhiệm vụ do luật định và thực tiễn hoạt động, Thường trực
HĐND các cấp đã khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong việc tổ chức hoạt
động của HĐND, góp phần ngày một tốt hơn trong việc nâng cao chất lượng, hiệu
quả hoạt động của HĐND.
Việc tổ chức các kỳ họp HĐND được Thường trực HĐND phối hợp với
UBND và các cơ quan, tổ chức hữu quan chuẩn bị tốt. ở nhiều địa phương, các báo
cáo, đề án chỉ trình tại kỳ họp nội dung tóm tắt, dành thời gian cho thảo luận, tham
gia ý kiến của đại biểu, không khí dân chủ, thẳng thắn, cởi mở hơn, tạo nên sự hiệu
quả, chất lượng hoạt động của HĐND.
Thường trực HĐND thống nhất với chủ tịch UBND về các phương pháp
triển khai, đôn đốc triển khai và kiểm tra thực hiện nghị quyết của HĐND. Trong
quá trình tổ chức triển khai nghị quyết, Thường trực HĐND phối hợp với các
Ban HĐND đôn đốc, kiểm tra và tổ chức các đoàn đi giám sát thực tế tại một số cơ
quan, đơn vị.
Việc tiếp dân, đôn đốc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân.
Các địa phương có nhiều hình thức tổ chức tiếp dân: các cấp Uỷ đảng, Thường trực
Đề tài: Tổ chức hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, huyện, xã thực trạng và giải pháp
Tiểu luận tốt nghiệp TCLLCT-HC Trang 18/22

cố hoá kênh mương; khôi phục, phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp; giải
quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo; xoá phòng học tạm; đã được UBND, các
ngành, các cấp ở địa phương triển khai thực hiện có hiệu quả, tạo chuyển biến tích
cực về mọi mặt ở địa phương, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn
xã hội, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân.
1.5. Công tác giám sát của HĐND
HĐND các cấp đã thực hiện ngày càng tốt hơn chức năng giám sát, góp
phần thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước và nghị quyết của HĐND.
Đề tài: Tổ chức hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, huyện, xã thực trạng và giải pháp
Tiểu luận tốt nghiệp TCLLCT-HC Trang 19/22
Tại kỳ họp, HDND đã chú trọng xem xét, thảo luận các đề án, báo cáo công
tác của cơ quan Nhà nước ở địa phương; các đại biểu HĐND đã tích cực thực hiện
quyền chất vấn đối với người đứng đầu các cơ quan Nhà nước ở địa phương.
Trong những năm gần đây, quyền chất vấn của đại biểu HĐND đã được phát
huy, đặc biệt là chất vấn của đại biểu tại kỳ họp. Nội dung chất vấn phong phú, đa
dạng liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như: phát triển kinh tế, xã
hội, quốc phòng - an ninh, hoạt động của bộ máy Nhà nước, thi hành pháp luật,
vấn đề dân chủ, chống tham nhũng, quan liêu, buôn lậu, HĐND các địa phương
đã có cải tiến phương pháp hoạt động, từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả
hoạt động giám sát của HĐND.
HĐND nhiều địa phương đã có sự phối hợp với các đoàn khảo sát, giám sát
của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, của Thường trực, các Ban của
HĐND cấp trên; MTTQ và các tổ chức thành viên, mời đại diện UBND, ban
ngành cùng cấp tham gia tiến hành các cuộc giám sát việc thi hành pháp luật, tình
hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế, xã hội và ngân sách, hoạt động tư pháp,
bắt, giam giữ, thi hành án, chống tham nhũng, buôn lậu và các tệ nạn xã hội,
công tác giải quyết việc làm và xoá đói giảm nghèo, giao thông nông thôn, thuỷ lợi
nội đồng; Thông qua giám sát của Thường trực, các Ban và đại biểu HĐND,
nhiều kiến nghị đã được UBND, các ngành, các cấp triển khai thực hiện và có

chức năng, nhiệm vụ. HĐND cấp dưới chịu sự lãnh đạo của UBND cấp trên,
không tổ chức thành hệ thống dọc, không có sự chỉ đạo thống nhất từ trung ương
tới cơ sở. Đó là những bất cập khi HĐND cấp tỉnh phải báo cáo tình hình tổ chức
và hoạt động của HĐND các cấp với Quốc hội.
Các thành viên của các Ban HĐND tỉnh, huyện (5 đến 7 thành viên/Ban)
chủ yếu hoạt động kiêm nhiệm. Phần lớn uỷ viên các Ban, kể cả trưởng, phó Ban
HĐND là trưởng, phó các cơ quan Đảng hoặc cơ quan chuyên môn của UBND
cùng cấp hay cơ quan Nhà nước cấp dưới.
2.2. Về cơ chế giao nhiệm vụ, quyền hạn
HĐND, Thường trực, các Ban HĐND và mỗi đại biểu rất nhiều nhiệm vụ,
nhưng lại giao quyền không tương ứng. Ví như, Thường trực, các Ban và đại biểu
HĐND đều có nhiệm vụ “tiếp dân, đôn đốc kiểm tra và xem xét giải quyết kiến
nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân, ” và “khi nhận được khiếu nại, tố cáo của
công dân, đại biểu HĐND có trách nhiệm nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người
có thẩm quyền giải quyết, theo dõi, đôn đốc việc giải quyết Trong thời hạn do
pháp luật quy định, người có thẩm quyền phải xen xét, giải quyết và thông báo
bằng văn bản cho đại biểu HĐND biết kết quả”. Trên thực tế, không ít trường hợp
người có thẩm quyền không làm đầy đủ yêu cầu này không phải vì lý do khách
quan. Đến nay, chưa có một văn bản pháp quy nào hướng dẫn cụ thể có hiệu lực
pháp lý về công tác giám sát giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân.
HĐND, Thường trực, các Ban, đại biểu HĐND và cử tri không có quyền lực gì
ngoài quyền “kiến nghị”, “yêu cầu”, “chất vấn” chung chung. Bởi thế, hiện tượng
phổ biến hiện nay là nhân dân rất ít đến với HĐND để kiến nghị.
Nội dung kỳ họp HĐND các cấp có rất nhiều vấn đề (ít nhất không dưới 9
nội dung theo luật định, lại còn các nội dung chuyên đề, báo cáo thẩm định của các
Ban HĐND), trong khi đó thời gian của mỗi kỳ họp lại rất ít. HĐND thường mỗi
năm có hai kỳ họp, mỗi kỳ họp cấp tỉnh thường từ 3 đến 4 ngày, cấp huyện từ 2
đến 3 ngày, cấp xã từ 1 đến 2 ngày, cá biệt có cấp xã chỉ họp có 1/2 ngày. Điều đó
dẫn tới các vấn đề cần thảo luận, quyết định và ra nghị quyết không tương xứng
với thời gian kỳ họp, là một nguyên nhân làm cho kỳ họp HĐND nhiều khi chỉ là

vật chất; quyền giám sát, quyền bỏ phiếu tín nhiệm những người giữ chức vụ do
HĐND bầu ra hoặc phê chuẩn, quyết định ngân sách địa phương. Số người dự ứng
cử bầu làm đại biểu HĐND nên nhiều hơn số lượng được bầu tối thiểu là 30% để
cử tri dân chủ lựa chọn.
2. Về cơ chế giao nhiệm vụ, quyền hạn
Cần nâng cao chất lượng tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND. Tiếp xúc cử tri
là điều kiện để người đại biểu thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trước sự tín
nhiệm của nhân dân. Trên cơ sở đó, đại biểu, HĐND tiếp thu, nghiên cứu, đề xuất
với cấp trên để có chủ trương, chính sách, giải pháp phù hợp; giải quyết kịp thời
những bức xúc, chấn chỉnh những sai lệch, yếu kém trong quản lý Nhà nước. Để
hoạt động tiếp xúc cử tri của Đại biểu HĐND phát huy đầy đủ, đáp ứng những yêu
cầu nêu trên thì những cơ chế, giải pháp cần tập trung làm tốt là:
- Tiếp tục nâng cao chất lượng đại biểu HĐND, chất lượng các cuộc tiếp xúc
cử tri trước và sau kỳ họp HĐND dưới nhiều hình thức: tiếp xúc cử tri ở đơn vị
bầu cử, ở nơi công tác, ở nơi cư trú; tiếp xúc cử tri thông qua cuộc sống sinh hoạt
Đề tài: Tổ chức hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, huyện, xã thực trạng và giải pháp
Tiểu luận tốt nghiệp TCLLCT-HC Trang 22/22
cộng đồng; tiếp xúc cử tri theo giới, ngành, lĩnh vực; không nên hạn chế thành
phần, số lượng cử tri tham gia tiếp xúc, tránh chỉ tiếp xúc với “đại cử tri” như hiện
nay. Bằng nhiều hình thức tuyên truyền để nhân dân hiểu đầy đủ về quyền và nghĩa
vụ của cử tri trong việc tham gia xây dựng chính quyền. Sớm ban hành những quy
định pháp lý về khen thưởng, về bãi nhiệm, miễn nhiệm đối với đại biểu HĐND.
- Cần nâng cao năng lực, hiệu lực giám sát của HĐND. Giám sát của HĐND
phải góp phần tích cực vào việc giải quyết trả lời các kiến nghị của cử tri; các đơn
thư, khiếu nại, tố cáo của công dân; các vụ việc tiêu cực; các vi phạm về quản lý
kinh tế, tài chính và các vấn đề khác liên quan đến quyền và lợi ích của các cơ
quan, tổ chức Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Hoạt động giám
sát của HĐND cũng như của cử tri đối với Nhà nước hiện là khâu yếu nhất của
HĐND cũng như của cử tri, vì thiếu những chế tài pháp lý và những giải pháp đủ
mạnh. Để hoạt động giám sát của HĐND cũng như của cử tri được nâng cao: Cần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status