LUẬN VĂN: Quản lý thu thuế ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi - Thực trạng và giải pháp - Pdf 15


LUẬN VĂN: Quản lý thu thuế ngoài quốc doanh trên
địa bàn tỉnh Quảng Ngãi - Thực trạng và
giải pháp
Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế do Nhà nước tổ chức và thực hiện. Đó là sự chuyển dịch một chiều thu nhập từ
phía doanh nghiệp và dân cư (khu vực tư) vào khu vực công. Phía sau quá trình chuyển dịch
này gồm nhiều vấn đề đặt ra như: tương quan giữa số thuế thu được trong hiện tại và tương

thu đúng, thu đủ theo quy định của pháp luật.
Việc chọn đề tài "Quản lý thu thuế ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Quảng
Ngãi - Thực trạng và giải pháp" có ý nghĩa thiết thực và bức xúc cả về mặt lý luận và
thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay đã có một số đề tài nghiên cứu xung quanh vấn đề về thuế - công
tác quản lý thu thuế. Mỗi đề tài nghiên cứu đều có mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên
cứu, cách tiếp cận và mục tiêu cụ thể khác nhau.
Tuy nhiên, chưa có một tác giả nào nghiên cứu bàn về quản lý thu thuế NQD trên
địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Vì vậy, luận văn nghiên cứu là cần thiết, qua đó chỉ những
nguyên nhân còn hạn chế trong quản lý thu thuế NQD, trên cơ sở đó đề xuất những giải
pháp khả thi ở địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, nhằm thực hiện được mục tiêu của hệ thống thuế
tại địa phương.
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
- Mục đích: làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và những giải pháp thiết thực nhằm
tăng cường, hoàn thiện quản lý thu thuế NQD trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
- Nhiệm vụ của luận văn:
+ Hệ thống hóa những vấn đề lý luận của quản lý thu thuế đối với khu vực
KTNQD.

+ Phân tích đánh giá thực trạng quản lý thu thuế NQD trên địa bàn tỉnh Quảng
Ngãi.
+ Đề xuất quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục hoàn thiện và tăng cường
quản lý thu thuế NQD tại tỉnh Quảng Ngãi.
- Phạm vi nghiên cứu:
Quản lý thu thuế đối với khu vực KTNQD rất rộng, đa dạng và phức tạp. Vì vậy,
phạm vi của đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về quản lý thu thuế khu vực NQD trong các hoạt
động sản xuất kinh doanh - dịch vụ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi gồm: Công ty cổ phần,
Công ty trách nhiệm hữu hạn, Doanh nghiệp tư nhân, Hộ kinh doanh công thương nghiệp
và dịch vụ từ năm 1999 - 2001.

Chương 1
Một Số Vấn Đề CƠ Bản Về Thuế
Và Quản Lý THU Thuế ngoài quốc doanh

1.1. Thuế và vai trò của thuế trong nền kinh tế nước ta hiện nay
1.1.1. Khái niệm - bản chất, đặc điểm của thuế
- Khái niệm - bản chất:
Thuế là một phạm trù kinh tế tài chính mang tính khách quan, đồng thời cũng là
một phạm trù lịch sử, nó ra đời, tồn tại, phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển
của một nhà nước. Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, Nhà nước xuất hiện khi
xã hội có sự phân chia thành giai cấp, để duy trì bộ máy hoạt động của mình như: an
ninh, quốc phòng; chi hoạt động của bộ máy nhà nước; chi sự nghiệp giáo dục, y tế; ;
đòi hỏi Nhà nước phải có nguồn tài chính để chi. Nguồn tài chính này có được là do sự
đóng góp của mọi thành viên trong xã hội và sự đóng góp này mang tính bắt buộc. Theo
Ph.Ăngghen: "Để duy trì quyền lực công cộng cần phải có sự đóng góp của những người
công dân cho Nhà nước đó là thuế má" [24, tr. 522]. Trong thời kỳ Cộng sản nguyên
thủy, khi điều kiện lao động của con người còn thô sơ, con người lao động đủ để duy trì
sự sống của mình, chưa có Nhà nước lúc đó xã hội chưa biết thuế là gì. Với tiến trình
phát triển của xã hội loài người, Nhà nước xuất hiện, thuế cũng từ đó ra đời, tồn tại và
phát triển.
Lịch sử phát triển của xã hội loài người cho thấy, một khi Nhà nước chỉ làm
nhiệm vụ quản lý hành chính đơn thuần thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước ở chừng mực
nhất định, xã hội ngày càng phát triển hơn nên Nhà nước có thêm nhiệm vụ điều hành,
quản lý nền kinh tế thì chi tiêu của Nhà nước ngày càng nhiều hơn. Đến khi Nhà nước

trong sự trao đổi đó họ không nhận được một cách trực tiếp hàng hóa hoặc

dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà tòa án tuyên phạt do
hành vi vi phạm pháp luật [31, tr. 10].
ở nước ta đến nay cũng chưa có một định nghĩa thống nhất về thuế. Theo một số
nhà nghiên cứu: thuế là hình thức động viên, phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm
xã hội và thu nhập quốc dân theo pháp luật của Nhà nước quy định, nhằm đáp ứng những
khoản chi tiêu cần thiết của Nhà nước. Đó là khoản thu của Nhà nước đối với các tổ chức
(chủ yếu là tổ chức kinh tế) và mọi thành viên trong xã hội; khoản thu này mang tính bắt
buộc không hoàn trả trực tiếp [25, tr. 1].
Gần đây, trong một số công trình nghiên cứu về thuế, các nhà kinh tế cho rằng,
để vạch rõ bản chất của thuế thì trong định nghĩa phải nêu bật các khía cạnh sau đây: nội
dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà nước với các pháp
nhân và thể nhân; những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách
khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt
buộc theo mệnh lệnh nhà nước; xét theo khía cạnh luật pháp thuế là khoản nộp cho Nhà
nước được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định.
Kết hợp những hạt nhân hợp lý của những quan niệm về thuế kể trên, có thể nêu
lên khái niệm tổng quát về thuế như sau: Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập bắt
buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật
quy định, nhằm sử dụng cho mục đích công cộng [30, tr. 11].
- Đặc điểm:
Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của thuế.
Những thuộc tính đó có tính ổn định qua từng giai đoạn phát triển. Nghiên cứu về thuế
người ta thấy nó có những đặc điểm riêng để phân biệt với các công cụ tài chính khác.
+ Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp trong xã hội cho
Nhà nước mang tính bắt buộc phi hình sự:
Tính bắt buộc phi hình sự là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế, nó phân biệt thuế
với các hình thức huy động tài chính khác của NSNN. Đặc điểm này vạch rõ nội dung
kinh tế của thuế là những quan hệ tiền tệ, được hình thành một cách khách quan và có


phí, lệ phí, công trái nói chung mang tính tự nguyện và có tính chất đối giá. Tính bắt buộc
của phí và lệ phí chỉ xảy ra khi người trả phí, lệ phí thụ hưởng trực tiếp những dịch vụ do
Nhà nước cung cấp.
+ Việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không mang tính hoàn trả trực
tiếp:
Tính không hoàn trả trực tiếp của thuế được biểu hiện trên các mặt sau:
Thứ nhất, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đối giá,
nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp xã hội chuyển giao cho Nhà nước không hoàn toàn
dựa trên mức độ người nộp thuế thụ hưởng những dịch vụ và hàng hóa công cộng do Nhà
nước cung cấp. Người nộp thuế cũng không có quyền đòi hỏi Nhà nước phải cung cấp
hàng hóa, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới phát sinh khoản chuyển giao thu
nhập cho Nhà nước; mặt khác mức độ cung cấp dịch vụ công cộng của Nhà nước cũng
không nhất thiết ngang bằng mức độ chuyển giao. Mức chuyển giao thu nhập nhiều hay ít
chỉ căn cứ vào kết quả hoạt động kinh tế và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cũng như
nhu cầu tài chính chung của Nhà nước.
Thứ hai, khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không được hoàn trả
trực tiếp có nghĩa là người nộp thuế suy cho cùng sẽ nhận được một phần các dịch vụ
công cộng mà Nhà nước cung cấp chung cho cả cộng đồng, giá trị phần dịch vụ đó không
nhất thiết tương đồng với khoản tiền thuế mà họ nộp cho Nhà nước. Đặc điểm này giúp ta
phân biệt sự khác nhau giữa thuế và các khoản phí, lệ phí.
+ Việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế được quy định trước bằng luật
pháp:
Đặc điểm này một mặt thể hiện tính pháp lý cao của thuế, mặt khác phản ánh sự
chuyển giao thu nhập không mang tính chất tùy tiện mà dựa trên những cơ sở pháp luật
nhất định và đã được xác định trước trong Luật thuế; Pháp lệnh thuế. Những tiêu thức
thường được xác định trước trong các Luật thuế, Pháp lệnh thuế là: đối tượng chịu thuế;
đối tượng nộp thuế; mức thuế phải nộp; thời hạn cụ thể và những chế tài mang tính cưỡng
chế khác.


Chính sách động viên về thuế cần có tác dụng bồi dưỡng nguồn thu vững chắc,
lâu dài cho NSNN. Cơ chế thuế suất không nên quá phức tạp, quá cao mà cần nghiên cứu
và tính toán dựa trên những căn cứ khoa học và sự phát triển của nền kinh tế sẽ phù hợp
hơn với khả năng đóng góp của đối tượng nộp thuế, đảm bảo nguồn thu ngân sách được
ổn định thường xuyên. Thuế suất được điều chỉnh giảm có thể sẽ dẫn đến phát sinh lo
lắng không đảm bảo nguồn thu cho ngân sách. Nhưng trên thực tế nếu hệ thống thuế hợp
lý, thuế suất ở mức vừa phải thì sẽ tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của mọi tầng lớp
nhân dân, đối tượng nộp thuế thấy mức thuế công bằng hợp lý sẽ tự nguyện khai báo nộp
thuế tốt hơn. Diện thu thuế được mở rộng, diện miễn giảm thu hẹp, vừa được lòng dân
vừa đảm bảo nhiệm vụ thu theo kế hoạch. Tỷ lệ động viên về thuế cần tính toán khoa
học, đầy đủ mọi khoản đóng góp cho NSNN, bao gồm mọi khoản thuế, phí và lệ phí. Cần
khắc phục tình trạng các ngành, các địa phương tùy tiện đặt ra các khoản thu trái với
quy định của Nhà nước.
Thuế tạo nguồn thu cho NSNN, nhưng nguồn thu đó được hình thành trên cơ sở
nền kinh tế tăng trưởng và đạt hiệu quả cao. Đây là vấn đề luôn được các quốc gia quan
tâm đúng mức trong quá trình hoạch định chính sách và tổ chức quản lý thu thuế.
+ Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế:
Thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước dùng để quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh
tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng lưu thông hàng hóa, nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh. Một chính sách thuế đặt ra không chỉ đơn thuần tạo nguồn thu cho NSNN,
mà quan trọng hơn là thực hiện chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Hiện nay, nền kinh tế nước ta đã và đang chuyển sang nền kinh tế thị trường,
cùng với sự kích thích sản xuất phát triển, cơ chế thị trường cũng là môi trường làm nảy
sinh những khuyết tật vốn có của nó. Vì vậy, để phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước, Nhà nước phải sử dụng các công cụ kinh tế,
trong đó đặc biệt là công cụ thuế nhằm tạo lập các cân đối vĩ mô, điều tiết thị trường,
đảm bảo sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.

Sự điều tiết của Nhà nước thông qua thuế gồm hai mặt: khuyến khích và hạn chế.
Điều đó được thể hiện ra trong việc xây dựng cơ cấu các loại thuế và mối quan hệ giữa

Với học thuyết "Bàn tay vô hình" của Adam Smith nền kinh tế thị trường không
có sự điều chỉnh, can thiệp của Nhà nước, thị trường tự điều chỉnh nền kinh tế. Như vậy,
thì sự phân phối thu nhập sẽ gây ra sự phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc. Một bộ
phận dân chúng sẽ giàu lên nhanh chóng, đại đa số người nghèo càng khó khăn hơn, đời
sống không được cải thiện. Tình trạng trên không chỉ liên quan đến vấn đề đạo đức, công
bằng xã hội mà còn tạo nên tình trạng lũng đoạn, độc quyền và về lâu dài sẽ không thể
đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng được.
Trong thực tế, sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đều có sự đóng góp của
cộng đồng, của toàn xã hội. Chính vì vậy mà thành quả kinh tế đạt được trong hiện tại và
tương lai phải được phân phối trên cơ sở của cộng đồng. Cho nên, cần có sự can thiệp
của Nhà nước trong quá trình phân phối thu nhập, sự phân phối này chủ yếu nhờ vào
công cụ thuế để điều tiết. Nền kinh tế của nước ta hiện nay là nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước, thì vai trò tạo sự bình đẳng giữa các thành
phần kinh tế và người dân trong động viên điều tiết thuế và công bằng xã hội ngày càng
được nâng cao hơn, bao quát hơn.
Sự thành công trong việc đổi mới chính sách thuế của Nhà nước ta trong những
năm qua là: hệ thống thuế mới được áp dụng chung cho các ngành nghề, hoạt động sản
xuất kinh doanh, không phân biệt thành phần kinh tế cũng như các tầng lớp nhân dân
nhằm mục tiêu đảm bảo sự công bằng bình đẳng trong điều tiết. Sự bình đẳng, công bằng
thể hiện thông qua các chính sách động viên như nhau giữa các thành phần kinh tế, chủ
thể sản xuất kinh doanh và mọi tầng lớp dân cư. Thông qua một hệ thống các sắc thuế,
Nhà nước điều chỉnh mức thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội, người có thu nhập cao
phải đóng thuế cao và ngược lại (thể hiện thông qua hoạt động tiêu dùng chịu sự điều tiết
của các sắc thuế gián thu và thuế thu nhập đối với những người có thu nhập cao). Tổ
chức và cá nhân kinh doanh có lợi nhuận cao phải đóng góp thuế cao hơn những tổ chức
và cá nhân kinh doanh có lợi nhuận thấp (thể hiện ở sắc thuế TNDN).

1.2. Đặc điểm của quản lý thu thuế ngoài quốc doanh
1.2.1. Một số vấn đề chung về kinh tế ngoài quốc doanh
- Kinh tế thị trường và sự tồn tại tất yếu của khu vực KTNQD:

động kinh doanh, khuyến khích sử dụng nguồn vốn có hiệu quả, góp phần thúc đẩy kinh
tế xã hội ngày càng phát triển.
Từ đặc điểm cạnh tranh, thị trường tuy thống nhất nhưng các thành phần kinh tế
hoạt động với khả năng, trình độ và mục tiêu khác nhau. Cơ chế thị trường tạo điều kiện
cho một số doanh nghiệp có tiềm lực về trí tuệ, tiền vốn, kỹ thuật, làm ăn có hiệu quả
được phép làm giàu một cách chính đáng. Tuy nhiên, trong cơ chế thị trường luôn tồn tại
những khuyết tật vốn có của nó, nhất là khi tình trạng phát triển tự phát hoặc cạnh tranh
không lành mạnh. Nếu Nhà nước không đủ sức điều chỉnh thị trường thì với xu thế
"mạnh được, yếu thua" phát triển, thị trường sẽ bị rối loạn, hoạt động trốn lậu thuế, mua
bán chèn ép nhau, thậm chí có cả những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, lừa gạt, triệt tiêu lẫn
nhau để tồn tại và phát triển ngày càng gia tăng theo thời gian. Đối lập với một số người
giành thắng lợi làm giàu một cách nhanh chóng sẽ có nhiều người thất bại làm ăn thua lỗ,
phá sản, gây lãng phí tiền vốn, tăng thất nghiệp, kinh tế bị kìm hãm, an ninh trật tự xã hội
không đảm bảo, các tầng lớp dân cư ngày càng bị phân hóa cao về thu nhập đời sống,
Như vậy, từ trong bản thân của cơ chế thị trường đã bao hàm hai mặt thống nhất:
mặt tích cực thúc đẩy kinh tế phát triển, đời sống xã hội được nâng cao; mặt tiêu cực là
kìm hãm sự phát triển kinh tế, phân hóa đời sống xã hội.
ở Việt Nam, kinh tế thị trường định hướng XHCN được tiếp tục khẳng định ở Đại
hội Đảng lần thứ IX. Nền kinh tế đó phát triển dựa trên hình thức sở hữu nhà nước, sở hữu
tập thể, sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp giữa Nhà nước với tư nhân trong và ngoài
nước, trong đó sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể là nền tảng của nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN hiện nay ở nước ta.
Yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường đặt ra cho tất cả các hình thức sở hữu
là phải xác định rõ quyền sở hữu về tài sản, tiền vốn, trí tuệ, nhằm mục đích định lượng

hóa sở hữu của từng đối tượng làm cơ sở để Nhà nước xây dựng cơ chế, chính sách quản
lý thuế và thu thuế cho NSNN.
Nền kinh tế thị trường ở Việt Nam vừa chịu sự điều tiết theo cơ chế "Bàn tay vô
hình" của thị trường, theo quy luật cung cầu, quy luật giá trị, vừa chịu sự điều tiết theo cơ
chế "Bàn tay hữu hình" của Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật, chủ trương chính

triển ở mỗi quốc gia. Song rõ ràng đây là một lĩnh vực phức tạp trong quản lý thu thuế.
Trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong những năm gần đây số lượng cơ sở NQD tăng
nhanh, cụ thể: khối doanh nghiệp NQD: năm 1999 có 137 cơ sở, năm 2000 có 190 cơ sở,
năm 2001 có 284 cơ sở, đến tháng 4/ 2002 có 316 cơ sở; khối hộ kinh doanh cá thể: năm có
1999 có 14.301 hộ, năm 2000 có 15.270 hộ, năm 2001 có 15.131 hộ (hộ thuộc diện quản
lý thuế môn bài) [4], [6], [7], [8].
Sự phát triển ở khu vực KTNQD ở nước ta những năm qua đã tạo thêm nhiều của
cải vật chất cho xã hội, giải quyết việc làm cho người lao động, góp phần không nhỏ vào
sự ổn định xã hội và tăng trưởng kinh tế.
- Ưu nhược điểm của kinh tế NQD:
KTNQD có tiềm năng lớn về trí tuệ, kiến thức, tiền vốn, lao động, sản phẩm, hợp
tác, liên doanh, liên kết
+ Tiềm năng quan trọng nhất của KTNQD là khả năng vô tận về trí tuệ, sáng kiến
cá nhân trong đội ngũ những người lao động, trong nhân dân. Kinh nghiệm của các nước có
nhiều thành công trong phát triển kinh tế (Hồng Kông, Đài Loan, Singapo, Nhật Bản, Hàn
Quốc ) cho thấy các tiềm năng bên trong như đất đai, tiền vốn trong thời kỳ đầu của sự
phát triển ở các nước này đều rất hạn chế. Nhưng nhờ phát huy được trí tuệ, sáng kiến cá
nhân và đầu tư xây dựng kinh tế, đồng thời có sự quản lý đúng đắn của Nhà nước, cho nên
chỉ sau một thời gian không dài đã làm nên những kỳ tích vĩ đại trong phát triển kinh tế.
Đối với nước ta, khi công cuộc đổi mới được triển khai từ Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI, nhiều sáng kiến cá nhân của quần chúng lao động, của nhân dân đã và đang

được phát huy cả trong lao động sản xuất cũng như trong việc tìm tòi các hình thức kinh
doanh thích hợp, năng động, từng bước đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng và phong
phú của thị trường.
+ Tiềm năng về kiến thức, kinh nghiệm quản lý, nâng cao tay nghề, đặc biệt là
phát huy kiến thức, bí quyết truyền thống được tích lũy qua nhiều đời là nguồn tiềm năng
vô cùng to lớn cho sự tăng trưởng kinh tế nếu được khởi động với những chính sách, chủ
trương thích hợp. Hiện nay nguồn "chất xám" của KTNQD cũng rất đa dạng, có loại
được Nhà nước đào tạo trong các trường chính quy từ công nhân, kỹ sư, nhà kinh tế đến

thông qua quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung,
quan liêu, bao cấp, bộ máy nhà nước đã bành trướng quá mức. Khi chuyển sang kinh tế
thị trường định hướng XHCN với cơ chế quản lý mới có sự quản lý của Nhà nước, chính
khu vực kinh tế nhà nước đã là nguồn cung cấp nhân lực dồi dào cho KTNQD. Theo tài
liệu điều tra của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, đã có 72% giám đốc các
công ty trách nhiệm hữu hạn đã từng là công chức Nhà nước; 10,4% giám đốc các công ty
này đã từng là giám đốc doanh nghiệp nhà nước. Đối với các doanh nghiệp tư nhân, 30%
giám đốc đã từng là cán bộ công chức nhà nước. Khi chuyển sang lĩnh vực KTNQD,
không những họ đã sử dụng trình độ lành nghề trong kinh doanh mà còn có cả vốn liếng
tích lũy được (bằng tiền trợ cấp thôi việc, bằng tiền hưu trí ), thậm chí máy móc kỹ thuật
từ nguồn thanh lý, giải thể của các doanh nghiệp nhà nước. Điều này có thể lý giải phần
nào tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong khi một bộ phận lớn của kinh tế
nhà nước bị thu hẹp, giải thể hoặc ngưng sản xuất do làm ăn thua lỗ, không thích ứng
được với cơ chế kinh tế mới [30].
+ KTNQD còn là môi trường thuận lợi để hợp tác kinh tế với nước ngoài. Trong
nền kinh tế mở hiện nay, sự giao lưu với các nước phát triển mạnh về mọi mặt đó là một
tất yếu khách quan. Đại hội Đảng lần IX đã xác định:
Phát triển đa dạng kinh tế nhà nước dưới các hình thức liên doanh,
liên kết giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong nước, ngoài
nước, mang lại lợi ích thiết thực cho các bên đầu tư kinh doanh; chú trọng phát

triển các hình thức kinh doanh đan xen, hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu, giữa
các thành phần kinh tế với nhau, giữa trong nước, ngoài nước [21, tr. 99].
Tại các nước, liên doanh với nước ngoài chủ yếu là do KTNQD thực hiện vì là
khu vực năng động, làm ăn có hiệu quả, thích ứng nhanh với sự biến động hoặc thay đổi
của thị trường, của khách hàng. Trong khi đó ở nước ta hiện nay, các liên doanh với nước
ngoài chủ yếu là do kinh tế nhà nước thực hiện. Nhiều Việt kiều muốn đầu tư về quê
hương gặp không ít khó khăn trong việc tìm đối tác liên doanh.
+ Sự đa dạng của KTNQD tạo ra nguồn sản phẩm đa dạng, phong phú đáp ứng
mọi nhu cầu tiêu dùng của xã hội ở mọi nơi, mọi thời điểm. Thực tế nhiều năm qua ở các

việc buông lỏng quản lý, để mặc cho các thành phần kinh tế tự do phát triển. Ngược lại,
đòi hỏi Nhà nước phải quản lý, định hướng, phải có hệ thống pháp luật được thể chế hóa
đầy đủ rõ ràng cả ở tầm vĩ mô lẫn vi mô, để có thể phát huy đến mức tối đa mặt tích cực
và hạn chế đến mức thấp nhất mặt tiêu cực của KTNQD trong cơ chế thị trường.
1.2.2. Đặc điểm quản lý thu thuế NQD
- Mục tiêu, yêu cầu của hệ thống thuế:
Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến lần thứ IX, Đảng ta luôn khẳng định
chủ trương chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Công cuộc chuyển đổi này là phù hợp với
quy luật khách quan của một nền kinh tế nhiều thành phần, mở cửa buôn bán, hợp tác
kinh tế rộng rãi với nước ngoài. Do vậy, hệ thống thuế hiện hành đã cải cách bước hai,
phải đảm bảo những mục tiêu, yêu cầu cơ bản là:
 Mục tiêu của hệ thống thuế:
+ Về mục tiêu tài chính:
Có thể khẳng định mục tiêu này của cải cách thuế đợt I là rất thành công. Từ
ngày thành lập đến nay ngành thuế đã không ngừng phấn đấu vươn lên, khắc phục mọi
khó khăn để liên tục hoàn thành vượt mức nhiệm vụ kế hoạch thu thuế dược giao. Số thu
năm sau tăng nhiều hơn năm trước, số thuế thu trong năm 1999 bằng khoảng 9,7 lần số

thuế thu năm 1990. Trước đây thuế chỉ đảm bảo 50% - 60% tổng số thu NSNN, đến nay
đã chiếm trên 90%, nhờ vậy đã đáp ứng được nhu cầu chi thường xuyên ngày càng tăng
của NSNN, không phải phát hành cho chi tiêu hành chính nữa, đồng thời giảm bội chi
NSNN và dành được một phần tích lũy đáng kể cho phát triển kinh tế, góp phần đẩy lùi
lạm phát từ 3 con số trong những năm cuối thập kỷ 80, xuống còn 4% trong năm 1999,
tạo cơ sở ổn định và từng bước cải thiện đời sống nhân dân, nhất là những người hưởng
lương hành chính - sự nghiệp, hưu trí, hưởng phụ cấp xã hội, Về cơ bản chính sách
thuế thường xuyên được xem xét, sửa đổi, bổ sung kịp thời, phù hợp với sự biến động
phức tạp về tình hình kinh tế - xã hội của đất nước. Những biện pháp về cải tiến, tổ chức
thực hiện cũng đã góp phần đáng kể vào thành tích trên, đặc biệt là việc thường xuyên
củng cố, kiện toàn tổ chức, bộ máy đào tạo, rèn luyện cán bộ thuế theo 10 điều kỷ luật của

không có được những tiêu chuẩn đầy đủ, rõ ràng, thiếu phương tiện kiểm hóa để xác định
đúng mã số thuế, dẫn đến tình trạng hiểu thế nào cũng được làm thế nào cũng đúng, tạo
cơ sở phát sinh tùy tiện, tiêu cực.
Nhiều thuế suất xây dựng quá cao nhằm hạn chế sản xuất, tiêu dùng nhưng thực
tế lại thúc đẩy việc trốn lậu thuế, dẫn đến tình trạng "dân kêu thuế nặng, Nhà nước phê
phán thuế bị thất thu". Trong luật thuế lại quy định nhiều trường hợp được xem xét, miễn
giảm thuế, tạo tâm lý phổ biến cho nhiều doanh nghiệp là cố tìm vài khía cạnh để có thể
"xin" và được xem xét miễn giảm thuế. Một người được miễn giảm thuế, để kéo theo nhiều
trường hợp phải giải quyết, vì cán bộ có thẩm quyền khó có đủ lý lẽ, hiểu biết, số liệu,
tình hình để bác bỏ, thậm chí có cả trường hợp bị áp lực từ nhiều phía, khó có thể công
minh. Kết quả là miễn giảm tràn lan, gây tiêu cực và thất thu cho ngân sách.
Quan điểm bảo vệ sản xuất nội địa kéo dài, một chiều, qua thuế suất thuế nhập
khẩu, thuế suất thuế GTGT, vừa gây thiệt hại cho nhân dân (phải tiêu dùng hàng xấu, giá
cao) vừa không thúc đẩy các doanh nghiệp quan tâm cải tiến mẫu mã, nâng cao chất
lượng, hạ giá thành, giá bán để tạo được môi trường cạnh tranh lành mạnh trong thị
trường nội địa và hội nhập quốc tế. Trong thuế GTGT có nhiều trường hợp thu chồng
chéo, làm tăng giá, tác động không tốt đến sản xuất, kinh doanh, Không ít trường hợp
vì yếu tố thuế, giá bán hàng quá cao, không được xã hội chấp nhận nên thuế gián thu trở

thành gánh nặng của thuế trực thu mà cơ sở kinh doanh phải chịu để có thể tiêu thụ được
hàng hóa.
+ Về mục tiêu xã hội:
Chính sách thuế mới được áp dụng thống nhất đối với mọi thành phần kinh tế đã
cơ bản bảo đảm được sự động viên đóng góp bình đẳng và thực hiện công bằng xã hội.
Người có thu nhập cao, nộp thuế TNDN và thuế thu nhập đối với những người có thu
nhập cao nhiều hơn những người có thu nhập thấp nhưng vẫn đảm bảo được hưởng số
thu nhập còn lại cao hơn, thậm chí cao hơn nhiều so với người làm ăn lười biếng. Thông
qua kết quả thu thuế, Nhà nước có thêm điều kiện giải quyết nhiều việc mang tính xã hội:
xóa đói giảm nghèo; giúp đỡ khắc phục thiên tai.
Tuy vậy, trong hoàn cảnh còn nhiều cơ sở kinh doanh được nộp thuế theo hiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status