1Luận văn
Đầu tư phát triển bằng nguồn vốn ngân
sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Thanh
Hóa thực trạng và giải pháp 2
LỜI NÓI ĐẦU
Thanh Hóa là một có địa hình phức tạp , gồm nhiều huyện vùng cao. Khi
bước vào thực hiện công cuộc đổi mới, Thanh Hóa gặp không ít khó khăn cả về địa
hình, khí hậu và xuất phát điểm kinh tế chủ yếu là thuần nông. Trong những năm
qua, với quyết tâm cao Thanh Hóa đã từng bước chuyển tư nền kinh tế thuần nông
tự cấp tự túc sang nền kinh tế sản xuất hàng hoá và thực hiện chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng CNH-HĐH.
Nhìn lại 10 năm đổi mới, kinh tế Thanh Hóa liên tục phát triển, GDP tăng
đều qua các năm, tỷ lệ hộ đói nghèo giảm đáng kể, cơ sở hạ tầng phát triển.
Một trong những yếu tố góp phần làm nên sự thành công của Thanh Hóa đó
chính là hoạt động đầu tư. Sự nỗ lực của tỉnh trong việc gia tăng đầu tư đã đem lại
cho kinh tế Thanh Hóa những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, bên cạnh đó hoạt
động đầu tư của tỉnh trong những năm qua còn tồn tại nhiều khó khăn bất cập cần
phải được khắc phục như: đầu tư toàn xã hội còn thấp, hiệu quả và chất lượng đầu
tư một số ngành còn chưa cao, sức cạnh tranh còn yếu, cơ cấu đầu tư chuyển dịch
chậm chưa phát huy lợi thế so sánh của từng ngành, từng vùng, năng lực sản xuất và
kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Chính
vì vậy, việc nâng cao hiệu quả đầu tư, đầy mạnh đầu tư trên địa bàn tỉnh trong
những năm tới là vấn đề nổi cộm cần được quan tâm hàng đầu. Vì lý do này, chuyên
nước. Về vị trí địa lý kinh tế, chính trị của Thanh Hóa có những điểm nổi bật sau:
- Nằm ở cửa ngõ giao lưu giữa Bắc Bộ với Trung Bộ và Nam Bộ, giữa Vùng
KTTĐ Bắc Bộ với Vùng KTTĐ Trung Bộ, đồng thời nằm trên các tuyến giao lưu
quan trọng của hệ thống đường quốc tế và quốc gia như: tuyến đường sắt Thống
Nhất, quốc lộ 1A, quốc lộ 10; đường 15A và đường Hồ Chí Minh xuyên suốt vùng
Trung du Miền núi của tỉnh; có đường 217 nối Thanh Hóa với tỉnh Hủa Phăn của
Lào nên có nhiều điều kiện để phát triển. Thanh Hoá có đường biên giới chung với
nước CHDCND Lào dài trên 190 km; có các cửa khẩu Na Mèo, Tén Tần Trong
đó, tại cửa khẩu Na Mèo được quy hoạch xây dựng thành Khu kinh tế Cửa khẩu
thời kỳ 2008-2015 (Quyết định số 52/2005/QĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2008 của
Chính phủ); đây là những lợi thế lớn để Thanh Hóa phát triển kinh tế cửa khẩu, mở
rộng hợp tác và giao lưu thương mại quốc tế với các tỉnh Bắc Lào, Đông Bắc Thái
Lan và các vùng lân cận thông qua hệ thống các tuyến đường xuyên á trong khu
vực.
- Trong tương lai Vùng KTTĐ Bắc Bộ có khả năng sẽ được mở rộng không
gian về phía Nam (đến Thanh Hóa) tạo cơ hội để Thanh Hóa thu hút đầu tư phát
triển nhanh hơn. Đặc biệt Thanh Hóa có Khu kinh tế Nghi Sơn, tại đây ngoài Khu
liên hợp lọc hóa dầu (công trình trọng điểm quốc gia), khu cảng Nghi Sơn (tương
lai sẽ là cảng nước sâu lớn ở phía Bắc), nhiều công trình kinh tế lớn khác sẽ được
xây dựng… mở ra cơ hội phát triển mới, tạo bước đột phá trong tăng trưởng và 4
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh cũng như của vùng Bắc Trung Bộ theo hướng
CNH, HĐH.
- Thanh Hóa có nhiều dân tộc anh em sinh sống, có nền văn hóa rất đa dạng
về ngôn ngữ, phong tục tập quán Đây là một lợi thế lớn để khai thác phục vụ phát
triển du lịch, song cũng đặt ra nhiệm vụ hết sức quan trọng trong vấn đề giữ gìn
khối đại đoàn kết các dân tộc và ổn định chính trị xã hội. Vùng núi phía Tây của
tỉnh rộng lớn, địa hình phức tạp, giao thông cách trở, kết cấu hạ tầng yếu kém, kinh
và công nghiệp.
* Vùng ven biển: gồm 6 huyện chạy dọc bờ biển từ huyện Nga Sơn, Hậu
Lộc, Hoằng Hoá, Sầm Sơn, Quảng Xương đến Tĩnh Gia, với diện tích hơn 1230,6
km
2
(chiếm 11,1% diện tích tự nhiên). Vùng có địa hình bằng phẳng, độ cao trung
bình từ 3 - 6 mét, riêng phía Nam huyện Tĩnh Gia địa hình có dạng sống trâu do các
dẫy đồi kéo dài ra biển. Đây là vùng có nhiều tiềm năng để phát triển nông nghiệp
(trồng trọt, chăn nuôi gia cầm), đặc biệt là nuôi trồng thủy sản, phát triển công 5
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cảng và phát triển dịch vụ vận tải sông,
biển
1.3. Đặc điểm khí hậu
Thanh Hoá nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm hai mùa rõ rệt
là mùa hạ nóng, ẩm, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa.
Thanh Hoá có chế độ nhiệt tương đối cao, nhiệt độ trung bình 23,7
o
C nhưng
có sự khác biệt giữa các vùng. Vùng đồng bằng ven biển nhiệt độ cao hơn vùng núi
từ 0,5 - 1,5
o
C. Nhiệt độ trung bình các tháng nóng nhất (tháng 6 - 7) là 30 - 31
o
C,
nhiệt độ trung bình các tháng lạnh nhất (tháng 12 năm trước đến tháng 2 năm sau) là
17
0
C. Biên độ nhiệt ngày đêm khá cao, từ 8 - 10
6
hình cao, chia cắt mạnh và dễ bị rửa trôi nên việc khai thác sử dụng gặp nhiều khó
khăn và cần có biện pháp bảo vệ đất.
- Nhóm đất phù sa: Diện tích 191.216 ha, chiếm 17,2% diện tích tự nhiên,
phân bố chủ yếu ở các vùng đồng bằng, ven biển. Đất có thành phần cơ giới thường
là thịt nhẹ, ít chua, giàu chất dinh dưỡng nên có chất lượng tốt, thích hợp với nhiều
loại cây trồng, nhất là các loại cây ngắn ngày như lương thực, hoa màu và cây công
nghiệp ngắn ngày khác.
- Nhóm đất tầng mỏng: Diện tích 16.537 ha, chiếm 1,49% diện tích đất tự
nhiên, phân bố chủ yếu ở vùng trung du và các dãy núi độc lập ở đồng bằng ven
biển như Nông Cống, Thiện Hoá, Yên Định, Hoằng Hoá, Hà Trung, Hậu Lộc, Tĩnh
Gia, Đông Sơn Đặc điểm của nhóm đất này là có tầng mỏng và bị xói mòn trơ sỏi
đá, trên cần được đầu tư, cải tạo và đưa vào khai thác.
- Nhóm đất glây: Diện tích 2.583 ha, chiếm 0,23% diện tích đất tự nhiên. Hầu
hết đất đã bị bạc màu cần được cải tạo đưa vào sản xuất nông lâm nghiệp.
- Nhóm đất đen: Diện tích 5.903 ha, chiếm 0,53% diện tích tự nhiên. Đất bị lầy
thụt và bùn, cần cải tạo đưa vào sản xuất nông lâm nghiệp.
- Nhóm đất mặn: Diện tích 21.456 ha, chiếm 1,93% diện tích tự nhiên, phân bố
chủ yếu ở vùng ven biển. Đất thường có độ phì nhiêu khá cao, thành phần cơ giới từ
trung bình tới thịt nặng, độ pH từ 6,0 - 7,5 thích hợp cho trồng cói và nuôi trồng
thuỷ sản.
- Nhóm đất cát: Diện tích 20.247 ha, chiếm 1,82% diện tích tự nhiên, phân
bố tập trung ở các huyện ven biển. Đất có thành phần cơ giới nhẹ, nghèo chất dinh
dưỡng, khả năng giữ nước, giữ màu kém nên năng suất cây trồng thấp. Song đất
có thành phần cơ giới nhẹ nên dễ canh tác, thích hợp cho nhiều loại cây trồng như
trồng rừng, hoa màu, cây công nghiệp, cây ăn quả và nuôi trồng thủy sản. Tuy
nhiên trong quá trình canh tác cần tăng cường bón phân cho đất và áp dụng các biện
pháp cải tạo đất.
một số địa bàn vùng cao, vùng sâu, vùng xa, địa hình hiểm trở và tại các khu bảo
tồn, vườn Quốc gia.
Về động vật, có thể nói hệ động vật rừng ở Thanh Hóa trước đây rất phong
phú, nhưng do trong nhiều năm bị săn bắt bừa bãi nên đã bị giảm sút nhiều. Tuy
nhiên hiện nay vẫn thuộc loại phong phú so với nhiều tỉnh khác ở Bắc Bộ. Trong
một số khu rừng còn xuất hiện các loài bò rừng, nai, hoẵng, vượn, khỉ, lợn rừng và
nhiều loại chim, thú, bò sát khác… Đặc biệt một số nơi còn có các loài động vật quý
như hổ, báo, gấu, gà lôi, công trĩ… Riêng ở Vườn quốc gia Bến En hiện còn hệ
động vật rất phong phú gồm 162 loài chim, 53 loài thú, 39 loài bò sát…, trong đó có
nhiều loài quý hiếm không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với cả thế giới, do vậy
cần được bảo vệ nghiêm ngặt.
Tóm lại, rừng của Thanh Hóa rất phong phú và đa dạng về chủng loại rừng
và lâm sản, nhưng chất lượng rừng thấp. Do địa hình phức tạp, giao thông cách trở
nên công tác quản lý và bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn; Tình trạng đốt nương làm 8
rẫy và khai thác lâm sản trái phép vẫn còn tái diễn.
2.3. Tài nguyên nước và thủy năng
a/ Nước mặt.
Trên địa bàn Thanh Hoá có 4 hệ thống sông lớn là Sông Mã, sông Yên, sông
Hoạt, sông Bạng và 173 sông suối nhỏ, tạo ra một mạng lưới thuỷ văn dày đặc và
phân bố khá đều trên địa bàn, bình quân mật độ sông suối đạt 0,5 - 0,6 km/km
2
.
Tổng lượng dòng chảy trung bình hàng năm từ 20 - 21 tỷ m
3
năm, trong đó khoảng
10 tỷ m
3
Gia); vùng lãnh hải rộng hơn 1,7 vạn km
2
. Vùng biển và ven biển Thanh Hoá có tài 9
nguyên khá phong phú, đa dạng, trong đó nổi bật là tài nguyên thuỷ sản, tài nguyên
du lịch biển và tiềm năng xây dựng cảng và dịch vụ hàng hải.
* Về tài nguyên thuỷ sản: Vùng biển Thanh Hoá chịu ảnh hưởng của các
dòng hải lưu nóng và lạnh tạo thành những bãi cá, tôm có trữ lượng lớn so với các
tỉnh phía Bắc. Tại vùng biển Thanh Hoá đã xác định có hơn 120 loài cá, thuộc 82
giống, 58 họ gồm 53 loài cá nổi, 69 loài cá đáy và các loại hải sản khác. Tổng trữ
lượng hải sản ước khoảng 140.000 - 165.000 tấn; khả năng khai thác từ 60.000 -
70.000 tấn/năm, trong đó cá nổi chiếm hơn 60% và cá đáy chiếm gần 40%.
* Về tiềm năng xây dựng cảng: Với bờ biển dài và nhiều cửa lạch, Thanh Hoá
có tiềm năng rất lớn về xây dựng cảng và phát triển vận tải biển, trong đó đáng chú
ý nhất là khu vực Nghi Sơn. Đây là khu vực được đánh giá có điều kiện thuận lợi
nhất của vùng ven biển từ Hải Phòng đến Nam Hà Tĩnh. Tại đây trong tương lai sẽ
xây dung cụm cảng nước sâu lớn trong vùng (gắn với Khu kinh tế Nghi Sơn) với 3
khu cảng chính là cảng tổng hợp Nghi Sơn, cảng cho Khu liên hợp lọc hóa dầu và
các cảng chuyên dùng cho nhà máy xi măng, nhà máy nhiệt điện và nhà máy đóng
tầu Nghi Sơn tạo điều kiện để Thanh Hóa mở rộng giao lưu hàng hoá với các tỉnh
trong nước và với thế giới.
Tóm lại, Thanh Hoá có bờ biển dài, có tiềm năng lớn về khai thác, nuôi trồng
thuỷ sản, phát triển du lịch, phát triển cảng và vận tải biển Đây là lợi thế rất lớn để
Thanh Hoá phát triển kinh tế nhanh, hội nhập mạnh với khu vực và với thế giới.
2.5. Tài nguyên du lịch
Thanh Hoá có tiềm năng du lịch rất phong phú, đa dạng, gồm cả tài nguyên
du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn, là điều kiện thuận lợi để phát triển
nhiều loại hình du lịch hấp dẫn như du lịch biển, du lịch mạo hiểm, du lịch văn hóa-
không lớn nhưng có giá trị cao, có thể khai thác ở quy mô nhỏ phục vụ phát triển
công nghiệp địa phương.
3. Đặc điểm kinh tế xã hội
3.1.Về kinh tế:
* Về tốc độ tăng trưởng
Tốc độ tăng trưởng bình quân 2001-2005 là 9,1%/năm và dự kiến 11,5% giai
đoạn 2006-2010; trong đó nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,2%/năm, công
nghiệp - xây dựng tăng 15,8%/năm và dịch vụ tăng 12,2%/năm. Điều đáng chú ý là
tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh có xu hướng tăng dần vào các năm cuối kỳ của
kế hoạch 5 năm, tạo đà tăng trưởng thuận lợi cho thời kỳ tiếp theo. 11
Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế thời kỳ 2001 - 2010
Đơn vị: Tỷ đồng, giá CĐ
Chỉ tiêu 2000 2005 DK 2010
Tăng BQ (%/n.)
2001
-
2010
2001
-
2005
2006
-
2010
Tổng GDP 7700.8 11910.0 20.563.0
1.932.608
6.627.791
10.000.000
1 Thu trên địa bàn 789.071 1.968.670 3.400.000
2 Thu bổ sung từ TW 1.017.816 4.246.230
6.600.000
II
T
ổng chi t
rên đ
ịa b
àn
2.032.504
6.379.102
10.000.000
1 Chi đầu tư phát triển 315.520 1.042.253
6.000.000Tr.đó: Chi đ
ầu t
5
10
15
20
25
30
35
40
45
2000 2005 DK 2010
lâm nghiệp
công nghiệp,xây dựng
dịch vụ
Cơ cấu kinh tế của Thanh Hoá cũng từng bước chuyển dịch theo hướng tích
cực, tỷ trọng công nghiệp-xây dựng trong tổng GDP ngày càng tăng lên. Năm
2007, cơ cấu giữa 3 khối ngành nông lâm nghiệp - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ
trong tổng GDP của tỉnh là 28,4-36,8-34,8 so với 31,6%-35,1%-33,3% năm 2005 và
39,6%-26,6%-33,8% (năm 2000); dự kiến năm 2010, các con số tương ứng là
24,1%-40,6%-35,3%. Nền kinh tế của tỉnh đang hình thành rõ nét cơ cấu kinh tế:
công nghiệp-dịch vụ-nông nghiệp. Đây là một kết quả đáng khích lệ trong chuyển
dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh
13
Biểu 2: Cơ cấu thành phần kinh tế
27.6 27.8
23
68.8
lệch về thu nhập giữa lao động nông lâm nghiệp với lao động trong các ngành nghề
khá cao, khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn cũng ngày càng lớn.
* Cơ cấu vùng: Kinh tế các vùng đều tăng trưởng nhanh, nhưng đang có xu
hướng tập trung cao ở vùng đồng bằng và ven biển.
- Vùng ven biển : Kinh tế vùng ven biển liên tục tăng trưởng với tốc độ cao, từ
8,6% giai đoạn 1996 - 2000 lên hơn 12% giai đoạn 2001 - 2010, đứng đầu các vùng
về tốc độ tăng trưởng. Tỷ trọng kinh tế của vùng này trong nền kinh tế cũng tăng dần
từ 25,6% năm 1995 lên 29,7% năm 2005, khoảng 35% năm 2010. Đây là vùng có
nhiều tiềm năng, dự báo trong thời gian tới vùng này còn phát triển với tốc độ cao
hơn. 14
- Vùng Đồng bằng. Có nhiều thuận lợi về điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng
nền kinh tế khá phát triển, trong nhiều năm duy trì tốc độ ở mức 8-10%/năm. Tỷ
trọng trong GDP toàn tỉnh giữ mức khá cao, trên 50%.
- Vùng Trung du-Miền núi là vùng có nhiều khó khăn so với các vùng khác về
nhiều mặt. Tốc độ tăng trưởng bình quân của vùng chỉ đạt 5-6%/năm thấp hơn nhiều
so với mức tăng trưởng chung của nền kinh tế cả tỉnh. Tuy nhiên trong những năm
gần đây, thực hiện Quyết định 253 của Chính phủ, một số huyện miền núi đã có mức
tăng trưởng trên 10%/ năm, như : Thạch Thành, Như Thanh,
Nhìn chung cơ cấu kinh tế của Thanh Hoá thời gian qua có sự chuyển dịch
đúng hướng, phù hợp với lợi thế của tỉnh, góp phần bảo đảm cho nền kinh tế phát
triển nhanh phù hợp với yêu cầu đẩy mạnh tiến trình CNH, HĐH. Tuy nhiên, tỉnh
cần có những chính sách và giải pháp tích cực để tăng nhanh tỷ trọng các ngành
công nghiệp và dịch vụ, đồng thời giảm dần mức chênh lệch bảo đảm phát triển bền
vững giữa các vùng miền trong tỉnh.
3.2.Về xã hội
Sự nghiệp giáo dục-đào tạo của Thanh Hóa đã có sự chuyển biến tích cực và
đạt nhiều thành quả cả về số lượng và chất lượng. Niên học 2008-2009 toàn tỉnh có
3.3.Dân số
Năm 2009 dân số trung bình của tỉnh là 3,7 triệu người (lớn thứ 2 trong cả
nước, sau Tp. Hồ Chí Minh), chiếm xấp xỉ 34,6% dân số vùng Bắc Trung Bộ và
4,4% dân số cả nước. Mật độ dân số bình quân gần 332 người/km
2
, gấp 1,6 lần mật
độ dân số trung bình của vùng (207 người/km
2
) và 1,3 lần mật độ dân số trung bình
cả nước (255 người/km
2
).
Thanh Hoá có cơ cấu dân số tương đối trẻ, sức khỏe tốt. Đây là nguồn nhân
lực chủ yếu sẽ được huy động vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong
10 - 15 năm tới. Trình độ học vấn của người dân cũng ngày càng được nâng cao. Đến
nay, tỉnh đã hoàn thành phổ cập giáo dục THCS đúng độ tuổi; 473 trường đạt chuẩn
quốc gia, trong đó 69 trường mầm non, 343 trường tiểu học, 56 trường THCS và 5
trường THPT. Tuy nhiên, tại một số huyện miền núi phía Tây, nhất là các huyện giáp
biên do phần lớn dân cư là người dân tộc với nhiều tập tục lạc hậu, lại sống rải rác ở
các khu vực vùng cao, vùng sâu, vùng xa, điều kiện đầu tư cho giáo dục khó khăn
nên trình độ dân trí và học vấn của dân cư còn thấp, tình trạng tái mù chữ còn tương
đối phổ biến.
II. THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN BĂNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC TỈNH THANH HÓA GIAI ĐOẠN 2005-2009
1. Tình hình đầu tư phát triển của tỉnh Thanh Hóa
1.1. Vốn đầu tư của tỉnh Thanh Hóa
Vốn đầu tư là yếu tố vật chất trực tiếp quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế,
phát triển xã hội và bảo vệ, cải thiện môi trường. Nhận thức được tầm quan trọng
này, Thanh hóa đã huy động tối đa mọi nguồn nhân lực cho đầu tư , khối lượng vốn
đầu tư của tỉnh tăng nhanh trong các năm đó là một tín hiệu đáng mừng và là tiền đề
Tốc độ
tăng
định gốc
% - 55.82177286
48.77163365
40.84846105
42.66491865
Tổng
vốn đầu
tư cả
nước
Triệu
đồng
161635000 185102000
208100000
580000000
416200000
%Tổng
vốn đầu
tư Thanh
Hóa/cả
nước
%
hành sản xuất kinh doanh, nhờ đó mà nguồn vốn đầu tư phát triển của tỉnh không
ngừng tăng lên qua các năm và luôn vượt kế hoạch đề ra.
1.2. Cơ cấu nguồn vốn đầu tư của tỉnh Thanh Hóa Vốn đầu tư vào tỉnh Thanh Hóa gồm 2 nguồn là nguồn vốn đầu tư trong nước và
nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Vốn đầu tư nước ngoài bao gồm nguồn vốn đầu tư
trực tiếp và một số nguồn tài trợ khác như ODA, JIBIC, NGO được thực hiện thông 18
qua hình thức hỗ trợ tín dụng đầu tư phát triển nhà nước… Nguồn vốn đầu tư toàn
xã hội bao gồm:
Vốn ngân sách nhà nước
Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước
Vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước
Vốn đầu tư tư nhân
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 19
Bảng 4 : Quy mô nguồn vốn đầu tư phát triển tỉnh Thanh Hóa
Năm Chỉ tiêu Đơn vị
Tổng VĐT
toàn XH
Ngu
ồn Cân Đối
NS Tỉnh
Vốn TD ĐTPT
của NN
Tỷ trọng % 100 16.5380486 1.366822836 34.78142355
43.50065978
34.9906646 4.295729
2009 Quy mô triệu đồng 4664.774 377.25 80 1012.872 3127.909 1802.123 98.8
Tỷ trọng % 100 8.08720851 1.714981262 21.71320626
67.05381654
38.6325897 2.118002
20
Nhìn chung vốn đầu tư của tỉnh dựa phần lớn vào 2 nguồn đó là nguồn cân
đối ngân sách tỉnh và nguồn trung ương hỗ trợ theo mục tiêu, 2 nguồn nay chiếm tỷ
trọng khá lớn trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội của tỉnh.
Năm 2005 chiếm lần lượt là 33,4% và 40% trong khi các nguồn vốn còn lại chỉ
chiếm con số nhỏ so với tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Tình hình này chỉ khác đi rõ rệt vào những năm 2008 và 2009 , nhìn vào
bảng số liệu và so sánh ta thấy tỷ trọng nguồn vốn cân đối ngân sách tỉnh giảm dần
16.53% năm 2008 và chỉ còn 8.08% năm 2009 mà thay vào đó là sự tăng lên của
mạnh mẽ của nguồn vốn bổ xung khác ( 3127.9 tỷ dồng ở năm 2009 gần gấp 3 lần
vốn bổ xung khác năm 2008 ). Tỷ trọng của nguồn cân đối ngân sách tỉnh giảm
đáng kể lý do không phải nguồn vốn này bị giảm đi mà thực chất là sự gia tăng
mạnh mẽ của của một số nguồn vốn bổ xung khác và vốn trái phiếu chính phủ tạo ra
một sự vươt trội hơn hẳn so với nhưng năm trước đó.
Trong giai đoạn này tỉnh Thanh Hóa chủ trương đầu tư vào cơ sở hạ tầng
2005
2006
-
2010
T
ỷ đ.
%
T
ỷ đ.
%
T
ỷ đ.
%T
ổng đầu t
ư
14.823,5
100
11.400
25,6
4 Vốn khác 514,6
3,5
1.607.7
7,3
1.000
2,2
Nguồn. Niên giám Thống kê Thanh hoá; sở KH&ĐT.
Cơ cấu vốn đầu tư đã có chuyển biến đáng kể, đã huy động tốt mọi nguồn vốn
trong xã hội. Vốn đầu tư từ khu vực ngoài quốc doanh đã tăng lên từ 5.047,8 tỷ(giai
đoạn 1996 - 2000) lên 10.923,7 tỷ đồng (giai đoạn 2001 - 2005) và giai đoạn 2006-
2010, dự kiến đạt 16.100 tỷ đồng . Tuy nhiên vốn đầu tư từ ngân sách và có nguồn
gốc từ ngân sách vẫn chiếm tỷ lệ khá cao.
Bảng 6 : So sánh vốn đầu tư ngân sách nhà nước so với tổng vốn
đầu tư toàn xã hội
Năm Đơn vị
2005 2006 2007 2008 2009
Tổng vốn đầu t
ư
toàn xã hội
Triệu
đồng
839,199
% 91.0927 86.184159
92.369278
94.337448
96.16701688Trong nhưng năm qua nguồn vốn đầu tư cho toàn xã hội không ngừng tăng 22
lên từ 839199 triệu đồng vào năm 2005 nhưng sang đến năm 2009 con số này đã là
4664774 triệu đồng gấp 5,6 lần năm 2005.
Biểu 3: so sánh nguồn vốn đầu tư ngân sách và VĐT toàn xã hội
0
500,000
1,000,000
1,500,000
2,000,000
2,500,000
3,000,000
3,500,000
4,000,000
4,500,000
5,000,000
2005 2006 2007 2008 2009
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội
Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước
nâng tỷ lệ nhựa hóa và bê tông hoá lên 27%. Dự kiến đến năm 2010, sẽ tập trung
đầu tư nâng cấp các tuyến đường lên cấp III, cấp IV ở vùng Đồng bằng và cấp IV ở
Miền núi; thi công hoàn thành tuyến đường Tây Thanh Hóa (183 km); đầu tư nâng
cấp 7 tuyến đường ngang đạt tiêu chuẩn đường nông thôn loại A, mặt rải nhựa. Đã
hoàn thành và đưa vào sử dụng bến số 1 và số 2 của cảng tổng hợp Nghi Sơn cùng
hệ thống bến bãi, thiết bị xếp dỡ cho phép tiếp nhận tàu đến 30.000 tấn.
Tổng năng lực tưới của hệ thống thủy lợi đạt 222.000 ha, trong đó tưới tự chảy
là 119.000 ha; năng lực tiêu đạt 114.736 ha. Tỷ lệ kênh mương được kiên cố hóa đạt
gần 50%. Đặc biệt công trình thủy lợi, thủy điện Cửa Đặt đang được gấp rút hoàn
thành, tạo nguồn nước tưới ổn định cho vùng lúa trọng điểm của tỉnh.
Đã xây dựng mới thêm 1 trạm biến áp 220 KV, 5 trạm 110 KV, 3 trạm trung
gian; cải tạo 23 trạm trung gian và mỗi năm xây dựng được 23,8 km đường dây 110
KV Hệ thống điện lưới quốc gia được đầu tư đến 27/27 huyện thị, thành phố trong
tỉnh.
Ngoài khu vực đồng bằng ven biển, đến nay 11 thị trấn huyện miền núi trong
tỉnh đã được phủ sóng di động. Hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin có bước phát
triển đáng kể. Hệ thống internet được đầu tư phát triển trên diện rộng, tạo điều kiện
tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội.
Đã hoàn thành và đưa vào sử dụng Trung tâm thương mại Thanh Hoá và một
số siêu thị, hệ thống các cửa hàng và các chợ trên toàn tỉnh được cải tạo, nâng cấp.
Nhiều khu du lịch, nghỉ dưỡng được đầu tư xây dựng như: Vạn Chài Resort; khu du
lịch biển Hải Tiến, Hải Hoà Kết cấu hạ tầng khu du lịch Sầm Sơn, suối cá Cẩm
Lương, khu di tích lịch sử Lam Kinh được quan tâm đầu tư, từng bước đáp ứng
nhu cầu của khách du lịch trong và ngoài tỉnh.
Hệ thống kết cấu hạ tầng xã hội như y tế, giáo dục, văn hoá, thể dục thể thao,
phát thanh truyền hình cũng được đầu tư cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới, đáp
ứng ngày càng cao nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân.
4278369
95.372131
Chi ĐTPT
khác 62233 8.140896253
92313 10.10125
178338 10.6757 269985 11.1763423
207605 4.627869