LUẬN VĂN:
Quản lý thu thuế ngoài quốc doanh trên
địa bàn tỉnh Quảng Ngãi -
Thực trạng và giải pháp
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế do Nhà nước tổ chức và thực hiện. Đó là sự chuyển dịch một chiều thu nhập từ
phía doanh nghiệp và dân cư (khu vực tư) vào khu vực công. Phía sau quá trình chuyển dịch
thu đúng, thu đủ theo quy định của pháp luật.
Việc chọn đề tài " Quản lý thu thuế ngoài quốc doanh trờn địa bàn tỉnh Quảng
Ngói - Thực trạng và giải phỏp " có ý nghĩa thiết thực và bức xúc cả về mặt lý luận và
thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay đã có một số đề tài nghiên cứu xung quanh vấn đề về thuế - công tác
quản lý thu thuế. Mỗi đề tài nghiên cứu đều có mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu,
cách tiếp cận và mục tiêu cụ thể khác nhau.
Tuy nhiên, chưa có một tác giả nào nghiên cứu bàn về quản lý thu thuế NQD trên
địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Vì vậy, luận văn nghiên cứu là cần thiết, qua đó chỉ những
nguyên nhân còn hạn chế trong quản lý thu thuế NQD, trên cơ sở đó đề xuất những giải
pháp khả thi ở địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, nhằm thực hiện được mục tiêu của hệ thống thuế
tại địa phương.
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
- Mục đích: làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và những giải pháp thiết thực nhằm
tăng cường, hoàn thiện quản lý thu thuế NQD trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
- Nhiệm vụ của luận văn:
+ Hệ thống hóa những vấn đề lý luận của quản lý thu thuế đối với khu vực
KTNQD.
+ Phân tích đánh giá thực trạng quản lý thu thuế NQD trên địa bàn tỉnh Quảng
Ngãi.
+ Đề xuất quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục hoàn thiện và tăng cường
quản lý thu thuế NQD tại tỉnh Quảng Ngãi.
- Phạm vi nghiên cứu:
Quản lý thu thuế đối với khu vực KTNQD rất rộng, đa dạng và phức tạp. Vì vậy,
phạm vi của đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về quản lý thu thuế khu vực NQD trong các hoạt
động sản xuất kinh doanh - dịch vụ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi gồm: Công ty cổ phần,
Công ty trách nhiệm hữu hạn, Doanh nghiệp tư nhân, Hộ kinh doanh công thương nghiệp
và dịch vụ từ năm 1999 - 2001.
xã hội có sự phân chia thành giai cấp, để duy trì bộ máy hoạt động của mình như: an ninh,
quốc phòng; chi hoạt động của bộ máy nhà nước; chi sự nghiệp giáo dục, y tế; ; đòi hỏi
Nhà nước phải có nguồn tài chính để chi. Nguồn tài chính này có được là do sự đóng góp
của mọi thành viên trong xã hội và sự đóng góp này mang tính bắt buộc. Theo
Ph.Ăngghen: "Để duy trì quyền lực công cộng cần phải có sự đóng góp của những người
công dân cho Nhà nước đó là thuế má" [24, tr. 522]. Trong thời kỳ Cộng sản nguyên thủy,
khi điều kiện lao động của con người còn thô sơ, con người lao động đủ để duy trì sự sống
của mình, chưa có Nhà nước lúc đó xã hội chưa biết thuế là gì. Với tiến trình phát triển của
xã hội loài người, Nhà nước xuất hiện, thuế cũng từ đó ra đời, tồn tại và phát triển.
Lịch sử phát triển của xã hội loài người cho thấy, một khi Nhà nước chỉ làm nhiệm
vụ quản lý hành chính đơn thuần thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước ở chừng mực nhất
định, xã hội ngày càng phát triển hơn nên Nhà nước có thêm nhiệm vụ điều hành, quản lý
nền kinh tế thì chi tiêu của Nhà nước ngày càng nhiều hơn. Đến khi Nhà nước đảm nhận
thêm công việc chăm lo đời sống, văn hóa, xã hội của cộng đồng thì thuế lại được động
viên càng lớn với nhiều sắc thuế và ở tất cả mọi hoạt động trong nền kinh tế.
Như vậy, khi vai trò, nhiệm vụ của Nhà nước ngày càng được mở rộng, đòi hỏi
nguồn tài chính phục vụ cho việc chi tiêu ngày càng tăng lên. Điều đó, không thể thiếu sự
đóng góp của người dân và các tổ chức kinh tế, đó là thuế.
Theo phân tích trên, thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước và thuế ra
đời khi hoạt động lao động sản xuất của xã hội loài người tạo ra sản phẩm thặng dư. Với
sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, sự chuyển dịch giá trị sản phẩm thặng dư từ thành
phần kinh tế này sang thành phần kinh tế khác, từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác rất đa
dạng và phức tạp. Cho nên, đứng trên giác độ toàn xã hội, đòi hỏi phải có hệ thống thuế để
điều tiết thỏa đáng số sản phẩm thặng dư xã hội tạo ra sao cho hợp lý và công bằng. Vì
vậy, khi xã hội càng văn minh thì thuế khóa lại càng đa dạng và phát triển.
Tóm lại, qua quá trình phát triển của Nhà nước và thuế cho chúng ta thấy, thuế và
Nhà nước là hai phạm trù gắn bó hữu cơ với nhau. Nhà nước tồn tại tất yếu phải có thuế.
Thuế là cơ sở vật chất đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của Nhà nước.
Trên các sách báo kinh tế thế giới, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt
Kết hợp những hạt nhân hợp lý của những quan niệm về thuế kể trên, có thể nêu
lên khái niệm tổng quát về thuế như sau: Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập bắt
buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật
quy định, nhằm sử dụng cho mục đích công cộng [30, tr. 11].
- Đặc điểm:
Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của thuế.
Những thuộc tính đó có tính ổn định qua từng giai đoạn phát triển. Nghiên cứu về thuế
người ta thấy nó có những đặc điểm riêng để phân biệt với các công cụ tài chính khác.
+ Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp trong xã hội cho Nhà
nước mang tính bắt buộc phi hình sự:
Tính bắt buộc phi hình sự là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế, nó phân biệt thuế
với các hình thức huy động tài chính khác của NSNN. Đặc điểm này vạch rõ nội dung kinh
tế của thuế là những quan hệ tiền tệ, được hình thành một cách khách quan và có một ý
nghĩa xã hội đặc biệt - việc động viên mang tính chất bắt buộc của Nhà nước. Phân phối
mang tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế - như một nhà kinh tế định nghĩa: là một
phương thức phân phối của Nhà nước mà kết quả của quá trình đó là một bộ phận thu nhập
của người nộp thuế được chuyển giao cho Nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát
hoặc những quyền lợi nào khác trực tiếp cho người nộp thuế.
Tính chất cưỡng chế bắt buộc của việc chuyển giao thu nhập bắt nguồn từ những
lý do sau:
Thứ nhất, hình thức chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không gắn với lợi
ích cụ thể của người nộp thuế, do đó không thể sử dụng phương pháp tự nguyện trong việc
chuyển giao. Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng, Nhà nước tất yếu phải sử dụng
quyền lực chính trị để bắt buộc mọi đối tượng có thu nhập phải chuyển giao.
Thứ hai, trong xã hội văn minh nhu cầu của các thành viên cộng đồng về hàng
hóa công cộng ngày càng tăng cao. Để duy trì hoạt động đó thì thu nhập về hàng hóa công
cộng từ những người thụ hưởng phải bù đắp đủ các chi phí bỏ ra. Nhưng hàng hóa công
cộng lại có tính chất đặc biệt, nó không thể phân bổ theo "khẩu phần" để sử dụng và người
thụ hưởng cũng không muốn sử dụng theo "khẩu phần". Mặt khác, hàng hóa công cộng
trực tiếp có nghĩa là người nộp thuế suy cho cùng sẽ nhận được một phần các dịch vụ công
cộng mà Nhà nước cung cấp chung cho cả cộng đồng, giá trị phần dịch vụ đó không nhất
thiết tương đồng với khoản tiền thuế mà họ nộp cho Nhà nước. Đặc điểm này giúp ta phân
biệt sự khác nhau giữa thuế và các khoản phí, lệ phí.
+ Việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế được quy định trước bằng luật
pháp:
Đặc điểm này một mặt thể hiện tính pháp lý cao của thuế, mặt khác phản ánh sự
chuyển giao thu nhập không mang tính chất tùy tiện mà dựa trên những cơ sở pháp luật
nhất định và đã được xác định trước trong Luật thuế; Pháp lệnh thuế. Những tiêu thức
thường được xác định trước trong các Luật thuế, Pháp lệnh thuế là: đối tượng chịu thuế;
đối tượng nộp thuế; mức thuế phải nộp; thời hạn cụ thể và những chế tài mang tính cưỡng
chế khác.
+ Các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế chịu sự ảnh hưởng của các
yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội trong những thời kỳ nhất định:
Yếu tố kinh tế tác động đến thuế thường là mức độ tăng trưởng của nền kinh tế
quốc dân, thu nhập bình quân đầu người, giá cả, thị trường, sự biến động của NSNN
Yếu tố chính trị, xã hội tác động đến thuế thường là thể chế chính trị của Nhà
nước, tâm lý, tập quán của các tầng lớp dân cư, truyền thống văn hóa, xã hội của dân tộc
Do thuế chịu sự ràng buộc của các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội nên người ta
thường nói thuế mang ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội tổng hợp.
+ Các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế chỉ được giới hạn trong
phạm vi biên giới quốc gia với quyền lực pháp lý của Nhà nước đối với con người và tài
sản.
Tóm lại: những đặc điểm cơ bản trên đây của thuế đã phản ánh bản chất và nội
dung bên trong của thuế. Từ những đặc điểm đó, giúp chúng ta phân biệt thuế với các hình
thức động viên khác của NSNN trên nhiều phương diện khác nhau.
1.1.2. Vai trò của thuế
+ Thuế là công cụ chủ yếu huy động tập trung nguồn lực cho Nhà nước:
Bất kỳ một chế độ Nhà nước nào muốn tồn tại và phát triển đều phải tạo cho mình
tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng lưu thông hàng hóa, nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh. Một chính sách thuế đặt ra không chỉ đơn thuần tạo nguồn thu cho NSNN, mà
quan trọng hơn là thực hiện chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Hiện nay, nền kinh tế nước ta đã và đang chuyển sang nền kinh tế thị trường, cùng
với sự kích thích sản xuất phát triển, cơ chế thị trường cũng là môi trường làm nảy sinh
những khuyết tật vốn có của nó. Vì vậy, để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN có sự quản lý của Nhà nước, Nhà nước phải sử dụng các công cụ kinh tế, trong đó
đặc biệt là công cụ thuế nhằm tạo lập các cân đối vĩ mô, điều tiết thị trường, đảm bảo sự
thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.
Sự điều tiết của Nhà nước thông qua thuế gồm hai mặt: khuyến khích và hạn chế.
Điều đó được thể hiện ra trong việc xây dựng cơ cấu các loại thuế và mối quan hệ giữa
chúng cũng như việc xác định thuế suất, chế độ miễn - giảm thuế phù hợp với điều kiện
thực tế. Khuyến khích đối với những ngành nghề, hoạt động sản xuất kinh doanh cần thiết
cho nền kinh tế quốc dân hoặc những ngành nghề những hoạt động sản xuất kinh doanh phục
vụ cho đại đa số quần chúng nhân dân thì áp dụng thuế suất thấp. Hạn chế, thu hẹp những
ngành nghề không có lợi cho sự phát triển của nền kinh tế, cho nhu cầu tiêu dùng của nhân
dân hoặc những ngành nghề ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục, đến sức khỏe của nhân
dân thì áp dụng thuế suất cao. Trong nền kinh tế thị trường, các thành phần kinh tế tự do
lựa chọn ngành nghề sản xuất, kinh doanh, với mục tiêu đầu tư vào những ngành nghề nào
mang lại lợi nhuận cao nhất mà không tính đến hậu quả để lại sau quá trình sản xuất kinh
doanh. Nhà nước dùng công cụ thuế để điều chỉnh và hướng các hoạt động sản xuất kinh
doanh đi vào con đường phát triển có hiệu quả mang lại nhiều lợi ích cho quốc kế dân
sinh.
Trong điều kiện nay, hệ thống thuế của Nhà nước Việt Nam thể hiện rất rõ quan
điểm khuyến khích các ngành nghề sản xuất hơn là các hoạt động thương mại, dịch vụ.
Sản xuất các mặt hàng thiết yếu được khuyến khích hơn sản xuất các mặt hàng và dịch vụ
khác. Để khuyến khích các ngành nghề sản xuất hàng xuất khẩu, sản xuất sản phẩm thay
thế hàng nhập khẩu cần thiết khi trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất nhưng chưa
đáp ứng đủ nhu cầu, hay đầu tư vào những vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, vùng
mục tiêu đảm bảo sự công bằng bình đẳng trong điều tiết. Sự bình đẳng, công bằng thể
hiện thông qua các chính sách động viên như nhau giữa các thành phần kinh tế, chủ thể sản
xuất kinh doanh và mọi tầng lớp dân cư. Thông qua một hệ thống các sắc thuế, Nhà nước
điều chỉnh mức thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội, người có thu nhập cao phải đóng
thuế cao và ngược lại (thể hiện thông qua hoạt động tiêu dùng chịu sự điều tiết của các sắc
thuế gián thu và thuế thu nhập đối với những người có thu nhập cao). Tổ chức và cá nhân
kinh doanh có lợi nhuận cao phải đóng góp thuế cao hơn những tổ chức và cá nhân kinh
doanh có lợi nhuận thấp (thể hiện ở sắc thuế TNDN).
1.2. Đặc điểm của quản lý thu thuế ngoài quốc doanh
1.2.1. Một số vấn đề chung về kinh tế ngoài quốc doanh
- Kinh tế thị trường và sự tồn tại tất yếu của khu vực KTNQD:
Trong điều kiện nước ta hiện nay, việc nghiên cứu KTNQD nói chung và thuế đối
với KTNQD nói riêng không thể tách rời việc nghiên cứu những đặc điểm của môi trường
mà KTNQD tồn tại và phát triển. Đó chính là nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị
trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Bởi lẽ, khi chuyển từ cơ chế
kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường chính là nội dung bao trùm nhất của công
cuộc đổi mới được khởi xướng từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, được tiếp tục khẳng
định ở những Đại hội lần thứ VII, VIII, IX. Vậy kinh tế thị trường có những đặc trưng cơ
bản gì? Nhiều đặc trưng, song có thể nêu ít nhất mấy đặc trưng đáng quan tâm sau đây:
Thứ nhất, Đó là tính chất đa thành phần của nền kinh tế. Nếu kinh tế kế hoạch hóa
tập trung phủ nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế thì ngược lại kinh tế thị trường
coi sự tồn tại của các thành phần kinh tế khác nhau là một tất yếu khách quan, một động
lực để thúc đẩy kinh tế phát triển. ở đây, nền kinh tế được chia thành hai khu vực cơ bản
đó là: Khu vực kinh tế nhà nước (kinh tế quốc doanh cũ) và kinh tế NQD. Mỗi khu vực
đều có chức năng và nhiệm vụ riêng, cùng nhau tồn tại, phát triển theo nguyên tắc hỗ trợ,
hỗn hợp, đan xen và bổ sung cho nhau.
Thứ hai, Trong cơ chế thị trường mọi sản phẩm sản xuất đều mang tính chất hàng
hóa với đầy đủ ý nghĩa của nó. Không những thế, vật tư, kỹ thuật, sức lao động, trí tuệ,
thông tin, đều được coi là hàng hóa, tiêu thụ trên thị trường với giá cả được xác định chủ
thể, sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp giữa Nhà nước với tư nhân trong và ngoài nước, trong
đó sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể là nền tảng của nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN hiện nay ở nước ta.
Yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường đặt ra cho tất cả các hình thức sở hữu
là phải xác định rõ quyền sở hữu về tài sản, tiền vốn, trí tuệ, nhằm mục đích định lượng hóa
sở hữu của từng đối tượng làm cơ sở để Nhà nước xây dựng cơ chế, chính sách quản lý
thuế và thu thuế cho NSNN.
Nền kinh tế thị trường ở Việt Nam vừa chịu sự điều tiết theo cơ chế "Bàn tay vô
hình" của thị trường, theo quy luật cung cầu, quy luật giá trị, vừa chịu sự điều tiết theo cơ
chế "Bàn tay hữu hình" của Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật, chủ trương chính sách
đồng bộ. Thị trường và Nhà nước đóng vai trò là người phân bổ các nguồn lực cho sự phát
triển các thành phần kinh tế. Đề cao quá mức vai trò của thị trường mà coi nhẹ hay phủ
nhận vai trò của Nhà nước hoặc ngược lại đều không đạt được sự phát triển và tăng trưởng
nền kinh tế một cách hiệu quả và bền vững.
- Khái niệm và đặc điểm kinh tế NQD:
Trong cơ chế thị trường nền kinh tế bao gồm hai khu vực: Kinh tế nhà nước chủ
yếu thực hiện chức năng dịch vụ công cộng, nặng về mục tiêu chính là lợi ích chung của
toàn xã hội; KTNQD chủ yếu làm chức năng kinh doanh mưu cầu lợi nhuận. Từ đó trong
cơ cấu sản xuất xã hội, KTNQD được coi là một thực thể khách quan, gồm các thành phần
kinh tế được xác định tùy theo đặc điểm kinh tế - xã hội và đường lối chính trị của mỗi
Nhà nước trong từng giai đoạn khác nhau như, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế cá
thể, kinh tế tư bản nhà nước
Khu vực KTNQD: là khu vực kinh tế bao gồm các tổ chức, cá nhân hoạt động
kinh doanh bằng vốn của các tổ chức, của một số cá nhân góp lại; hoạt động kinh doanh
theo cơ chế thị trường vì mục tiêu lợi nhuận. KTNQD có nhiều đặc điểm riêng biệt, nhưng
có thể khái quát một số đặc điểm cơ bản sau:
+ Sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, do tư nhân quản lý và phân phối lợi nhuận;
+ Có tính tư hữu cao, trình độ phổ biến thấp, cho nên hiểu biết về luật cũng như ý
thức chấp hành pháp luật chưa cao;
Đối với nước ta, khi công cuộc đổi mới được triển khai từ Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI, nhiều sáng kiến cá nhân của quần chúng lao động, của nhân dân đã và đang
được phát huy cả trong lao động sản xuất cũng như trong việc tìm tòi các hình thức kinh
doanh thích hợp, năng động, từng bước đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng và phong phú
của thị trường.
+ Tiềm năng về kiến thức, kinh nghiệm quản lý, nâng cao tay nghề, đặc biệt là
phát huy kiến thức, bí quyết truyền thống được tích lũy qua nhiều đời là nguồn tiềm năng
vô cùng to lớn cho sự tăng trưởng kinh tế nếu được khởi động với những chính sách, chủ
trương thích hợp. Hiện nay nguồn "chất xám" của KTNQD cũng rất đa dạng, có loại được
Nhà nước đào tạo trong các trường chính quy từ công nhân, kỹ sư, nhà kinh tế đến các thạc
sĩ, tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư Có loại cá nhân tự bỏ tiền ra để học lấy một nghề nhất
định ở trong hoặc ngoài nước. Có loại do các doanh nghiệp NQD sau khi tuyển dụng lao
động bỏ tiền đào tạo hoặc đào tạo lại.
+ Nguồn vốn trong khu vực KTNQD nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác đã và
đang được tích lũy ngày càng lớn. ở hầu hết các nước, nguồn vốn đầu tư từ phía Nhà nước
không đáng kể (chiếm từ 13% - 30% tổng vốn đầu tư). Các nước đều có chính sách thỏa
đáng để huy động nguồn lực to lớn từ nguồn vốn của KTNQD. Nếu Chính phủ có chính
sách đúng đắn, tạo môi trường thuận lợi, tạo lòng tin trong nhân dân, nhất định họ sẽ sẵn
sàng bỏ vốn đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển
và tăng trưởng mạnh mẽ.
+ KTNQD có tiềm năng lao động to lớn và góp phần đáng kể vào việc giải quyết
việc làm cho xã hội. ở nước ta hàng năm bình quân có khoảng 1,243 triệu người đến tuổi
lao động [35, tr. 248], bao gồm: lực lượng thanh niên đến tuổi lao động, số học sinh tốt
nghiệp dạy nghề, trung học, cao đẳng, đại học hoặc những người lao động thất nghiệp do
sắp xếp lại biên chế trong các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp hoặc do sắp xếp lại
sản xuất trong các ngành kinh tế quốc dân, những người bán thất nghiệp ở nông thôn,
thành thị. Đây là nguồn lao động rất dồi dào mà Nhà nước ta chưa khai thác hết được. Nếu
chỉ thông qua các doanh nghiệp nhà nước thì sẽ không thu hút được hết những người lao
động. Thực tế trong những năm qua cho thấy, ở thời điểm cao nhất kinh tế nhà nước chỉ
mang lại lợi ích thiết thực cho các bên đầu tư kinh doanh; chú trọng phát triển
các hình thức kinh doanh đan xen, hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu, giữa các
thành phần kinh tế với nhau, giữa trong nước, ngoài nước [21, tr. 99].
Tại các nước, liên doanh với nước ngoài chủ yếu là do KTNQD thực hiện vì là
khu vực năng động, làm ăn có hiệu quả, thích ứng nhanh với sự biến động hoặc thay đổi
của thị trường, của khách hàng. Trong khi đó ở nước ta hiện nay, các liên doanh với nước
ngoài chủ yếu là do kinh tế nhà nước thực hiện. Nhiều Việt kiều muốn đầu tư về quê
hương gặp không ít khó khăn trong việc tìm đối tác liên doanh.
+ Sự đa dạng của KTNQD tạo ra nguồn sản phẩm đa dạng, phong phú đáp ứng
mọi nhu cầu tiêu dùng của xã hội ở mọi nơi, mọi thời điểm. Thực tế nhiều năm qua ở các
nước XHCN và ở Việt Nam đều cho thấy nền kinh tế chủ yếu dựa trên KTQD thì hàng hóa
sẽ nghèo nàn về chủng loại, số lượng. ở Liên Xô cũ, sau 70 năm xây dựng CNXH với hàng
ngàn doanh nghiệp nhà nước chỉ có 10 triệu loại sản phẩm. Trong khi đó ở Nhật Bản một
nước nhỏ bé hơn nhiều về dân số và diện tích có tới 1,4 triệu doanh nghiệp với hơn 50
triệu loại sản phẩm. ở nhiều nước Đông Nam á, KTNQD đang được đánh giá là nguồn lực
chủ yếu làm tăng trưởng kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu, có thể tạo thu nhập
quốc dân tính theo đầu người tăng lên rất nhanh.
Đường lối phát triển kinh tế - xã hội dựa vào KTNQD về cơ bản là một chiến lược
hướng vào thị trường. KTNQD có thể quyết định và điều chỉnh nhanh chóng sản xuất cái
gì, đầu tư vào đâu để có lợi nhuận nhiều nhất. ở các nước đang phát triển, KTNQD trở
thành động lực kích thích kinh tế phát triển tốt hơn so với sự can thiệp quá sâu của Nhà
nước vào quá trình kinh tế và dựa vào kinh tế nhà nước là chủ yếu.
Việt Nam, tuy KTNQD mới được công nhận và phục hồi nhưng trong những năm
qua đã xác định được chỗ đứng xứng đáng, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp đổi mới
đất nước.
Sự đóng góp của KTNQD không chỉ dừng lại ở mặt làm tăng tổng sản phẩm trong
nước, thêm nhiều hàng hóa với nhiều mẫu mã đẹp, giá cả hợp lý mà còn tạo ra môi trường
thuận lợi cho giải quyết việc làm, nâng cao đời sống xã hội, cả cho người sản xuất lẫn
người tiêu dùng.
trên 90%, nhờ vậy đã đáp ứng được nhu cầu chi thường xuyên ngày càng tăng của NSNN,
không phải phát hành cho chi tiêu hành chính nữa, đồng thời giảm bội chi NSNN và dành
được một phần tích lũy đáng kể cho phát triển kinh tế, góp phần đẩy lùi lạm phát từ 3 con
số trong những năm cuối thập kỷ 80, xuống còn 4% trong năm 1999, tạo cơ sở ổn định và
từng bước cải thiện đời sống nhân dân, nhất là những người hưởng lương hành chính - sự
nghiệp, hưu trí, hưởng phụ cấp xã hội, Về cơ bản chính sách thuế thường xuyên được
xem xét, sửa đổi, bổ sung kịp thời, phù hợp với sự biến động phức tạp về tình hình kinh tế
- xã hội của đất nước. Những biện pháp về cải tiến, tổ chức thực hiện cũng đã góp phần
đáng kể vào thành tích trên, đặc biệt là việc thường xuyên củng cố, kiện toàn tổ chức, bộ
máy đào tạo, rèn luyện cán bộ thuế theo 10 điều kỷ luật của ngành. Tuy vậy, kết quả thu
được còn chưa phản ánh đúng tình hình phát triển kinh tế. Cả nước còn có đến 60% - 70%
cơ sở kinh doanh được nộp thuế theo hình thức khoán, hiệp thương, chủ yếu theo cảm tính,
chưa đảm bảo kết quả thu thuế sát với hoạt động của từng cơ sở, vừa lạm thu, vừa thất thu,
đặc biệt là ở khu vực KTNQD. Số nợ đọng dây dưa kéo dài đến hàng trăm tỷ đồng cũng là
nguyên nhân gây thất thoát lớn cho NSNN. Tình hình đóng góp giữa khu vực kinh tế nhà
nước và KTNQD cũng cần được điều chỉnh. Tuy còn thất thu nhưng khu vực kinh tế nhà
nước chiếm khoảng 38% GDP, đã đóng góp khoảng 28% tổng số thu NSNN (loại trừ thuế
xuất nhập khẩu, thu khấu hao, thu về dầu thô, xổ số). Trong khi đó KTNQD chiếm khoảng
62% GDP, chỉ mới đóng góp 17% tổng số thu NSNN. Như vậy KTNQD làm ra tổng sản
phẩm quốc nội gấp 1,63 lần khu vực kinh tế nhà nước nhưng lại đóng góp cho NSNN chỉ
bằng 60% mức đóng góp của khu vực kinh tế nhà nước [26, tr.11].
+ Về mục tiêu kinh tế:
Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố
chủ quan (trang bị kỹ thuật, tiền vốn, trình độ quản lý, ) và khách quan (cung cầu, giá cả,
chính sách thuế, ) nhưng nhìn chung hệ thống thuế mới đã từng bước góp phần thực hiện
yêu cầu phục vụ có hiệu quả chủ trương giải phóng mọi khả năng tiềm tàng, bảo đảm sự
cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế, góp phần thúc đẩy sắp xếp lại tổ chức
sản xuất, kinh doanh, tăng cường hạch toán kinh tế, tăng năng suất, hạ giá thành, nâng cao
hiệu quả kinh tế, khắc phục tình trạng lãi giả, lỗ thật trong khu vực kinh tế nhà nước. Phát
Chính sách thuế mới được áp dụng thống nhất đối với mọi thành phần kinh tế đã
cơ bản bảo đảm được sự động viên đóng góp bình đẳng và thực hiện công bằng xã hội.
Người có thu nhập cao, nộp thuế TNDN và thuế thu nhập đối với những người có thu nhập
cao nhiều hơn những người có thu nhập thấp nhưng vẫn đảm bảo được hưởng số thu nhập
còn lại cao hơn, thậm chí cao hơn nhiều so với người làm ăn lười biếng. Thông qua kết quả
thu thuế, Nhà nước có thêm điều kiện giải quyết nhiều việc mang tính xã hội: xóa đói giảm
nghèo; giúp đỡ khắc phục thiên tai.
Tuy vậy, trong hoàn cảnh còn nhiều cơ sở kinh doanh được nộp thuế theo hiệp
thương, mức thuế phải nộp cao hay thấp tùy vào "thế mạnh" của cán bộ thuế hay người
nộp thuế, có trường hợp người có doanh thu cao, thu nhập lớn lại chỉ phải nộp thuế ít và
ngược lại.
Việc đánh thuế TNDN bổ sung chưa khuyến khích người làm ăn giỏi, có thu nhập
cao. Trong căn cứ tính thuế thu nhập đối với những người có thu nhập cao chưa có sự xem
xét đến hoàn cảnh gia đình (độc thân hay đông người ăn theo), đến các chi phí bỏ ra để có
thu nhập đánh thuế (học tập, nâng cao tay nghề) do đó chưa đảm bảo sự công bằng hợp lý
[26, tr. 10-12].
yêu cầu chủ yếu của hệ thống thuế:
Từ những mục tiêu cơ bản, yêu cầu đặt ra đối với hệ thống chính sách thuế và từng
sắc thuế là:
+ Phải bao quát hết nguồn thu để kiểm kê, kiểm soát và thu đúng, thu đủ cho
NSNN;
+ Góp phần khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển theo định hướng của Nhà
nước trong từng thời kỳ;
+ Đảm bảo tính bình đẳng và công bằng xã hội;
+ Phải rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu, dễ làm, dễ kiểm tra;
+ Chi phí hành thu thấp.
- Nội dung cơ bản của một số sắc thuế chủ yếu đối với KTNQD:
Nhằm bao quát mọi đối tượng phải thu thuế, đảm bảo tính công bằng trong động
viên điều tiết tiền thuế và đáp ứng yêu cầu thu của ngân sách, hệ thống thuế hiện nay ở
không có quy định miễn giảm thuế.
+ Thuế GTGT: [27], [8], [1]
Thuế GTGT tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở
từng khâu trong quá trình sản xuất, lưu thông, tiêu dùng. Thuế GTGT được hoàn đối với
hàng hóa xuất khẩu sẽ phát huy tốt tác dụng khuyến khích xuất khẩu, tạo điều kiện cho
hàng xuất khẩu có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế; thuế GTGT kết hợp với hàng nhập
khẩu làm tăng giá vốn đối với hàng nhập khẩu; góp phần tích cực bảo vệ hàng sản xuất
trong nước; tăng cường hạch toán kế toán kinh doanh, thúc đẩy việc mua bán hàng hóa
thực hiện tốt chế độ hóa đơn để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào; khuyến khích hiện đại
hóa, chuyên môn hóa sản xuất, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm,
Đối tượng đánh thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng ở Việt Nam, kể cả hàng
sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu, hàng tiêu dùng nội bộ hoặc làm quà biếu, quà tặng