Tình trạng nghèo ở huyện Tri Tôn - Thực trạng và giải pháp - Pdf 81

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC KINH TẾ TH
ÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
___________________
TRƯƠNG MINH LỄ
BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI
TÌNH TRẠNG NGHÈO Ở HUYỆN TRI TÔN
TH
ỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP.
Chuyên ngành: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Mã số: 60.31.05
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Đinh Phi Hổ
An Giang, Tháng 04 năm 2010
Tôi xin cam đoan với quý Hội đồng rằng, đề
tài này là công trình của chính bản thân tôi thực
hiện, và xin chịu trách nhiệm với lời cam đoan này
An Giang, tháng 4 năm 2010
Người thực hiện
Trương Minh Lễ
i
MỤC LỤC
Tên các đề mục ..………………………………………………………. trang
M
ục lục ………………………………………………………………… i
Danh m
ục phần phụ lục ………………................................................... iv
Danh m
ục các chữ viết tắt ....................................................................... v
L
ời cam đoan của tác giả: ……………………………………………… vi

Nguyên nhân nghèo đói ..................................................................... 12
2.8. Nhóm các y
ếu tố có ảnh hưởng đến tình trạng nghèo ở huyện Tri Tôn 13
2.8.1. Nhóm các y
ếu tố có liên quan tới hộ gia đình ……………………. 13
ii
2.8.1.1. Nh
ững hạn chế của người dân tộc Khmer .................................... 13
2.8.1.2. Gi
ới tính của chủ hộ………………………………….. ................ 15
2.8.1.3. Trình
độ học vấn của chủ hộ.......................................................... 15
2.8.1.4. Quy mô c
ủa hộ gia đình ................................................................ 16
2.8.1.5. V
ấn đề làm nông của hộ gia đình................................................... 17
2.8.1.6. S
ố năm định cư tại địa phương của hộ gia đình............................ 18
2.8.1.7. H
ộ có người đi làm xa................................................................... 18
2.8.2. Nhóm các y
ếu tố có liên quan tới nguồn lực sản xuất và cơ sở hạ tầng 19
2.8.2.1. V
ấn đề đất sản xuất ……………. ……………………………… 19
2.8.2.2. Vay ngân hàng ……………. ……………………………………. 20
2.8.2.3. Kho
ảng cách đến chợ và khả năng tiếp cận với cơ sở hạ tầng ..... 20
2.9. K
ết luận chương II :.............................................................................. 21
Chương III : THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

4.9.
Đường ô tô và khoảng cách của hộ gia đình đến trung tâm chợ.......... 43
4.10. V
ấn đề vốn vay và tình trạng của hộ gia đình.................................... 44
4.11. K
ết quả phân tích hồi quy …………………………………………. 46
4.12. K
ết luận chương IV ………………………………………………… 50
Chương V : ĐỀ NGHỊ MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN
TRI TÔN.
5.1. Diện tích đất của hộ gia đình................................................................ 52
5.2. V
ấn đề đi làm xa .................................................................................. 54
5.3. V
ấn đề giáo dục và học vấn.................................................................. 55
5.4. V
ấn đề làm nông của hộ gia đình ........................................................ 56
5.5. S
ố tiền vay ........................................................................................... 59
5.6. M
ột vài kiến nghị đối với công tác dân tộc Khmer …………………. 60
5.7. H
ệ thống nông hộ và phát triển bền vững …………………………... 61
5.8. Nh
ững hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo .................. 63
K
ết luận : ……………………………………………………………….. 64
Phần phụ lục :
Tài li
ệu tham khảo

ành
viên trong xã h
ội nhưng người nghèo bao giờ cũng nhận được phần ít hơn trong thành
quả tăng trưởng của nền kinh tế. Thiên tai, nạn đói và bệnh tật vẫn thường xuyên đe
dọa cuộc sống của người nghèo, cho nên, việc nghiên cứu tìm ra những yếu tố ảnh
hưởng đến sự nghèo đói để cải thiện đời sống của người nghèo đ
ã trở thành ưu tiên
hàng đầu cho chiến lược phát
triển kinh tế của các quốc gia.
Riêng đối với tỉnh An Giang, công cuộc xóa đói, giảm ngh
èo là một trong những
mục tiêu hàng đầu của Lãnh đạo Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân, lãnh đạo các cấp các
ngành và toàn thể người dân trong tỉnh. Tuy nhiên, cho đến nay, khi tìm hiểu về những
thông tin có liên quan đến
những nghiên cứu về đói nghèo tại An Giang và đặc biệt là
t
ại huyện Tri Tôn thì chỉ mang tính thống kê, định tính, hoặc nếu có những nghiên cứu
thực nghiệm bằng những mô hình khoa học thì chỉ tập trung ở quy mô cấp tỉnh hay
Vùng, Miền cụ thể như các công trình: Hiện trạng đói nghèo 12 tỉnh ĐBSCL (2003) do
AusAID tài trợ, PPA (2008) ở An giang, Chương trình phân tích hiện trạng nghèo đói
vùng ĐBSCL (2003) do AusAID tài trợ.
Với ý nghĩa đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu “ Tình trạng
nghèo ở huyện Tri Tôn thực trạng và giải pháp” nhằm tìm hiểu thực trạng nghèo của
các hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu, xác định những khả năng ảnh hưởng đến xác
suất nghèo của hộ gia đình đồng thời đề xuất các giải pháp cho những chính sách phù
h
ợp.
Tác giả xin chân thành cám ơn PGS. TS Đinh Phi Hổ đã tận tình hướng dẫn để
tôi có thể thực hiện đề tài nầy.
Tác giả xin chân thành cám ơn Quý Thầy Cô Khoa Kinh tế Phát triển của trường

phát tri
ển bền vững.
Theo BCPTVN (2008) số liệu điều tra hộ gia đình năm 2006 khẳng định xu
hướng giảm nghèo đang tiếp tục diễn ra ở Việt Nam, với tỷ lệ hộ gia đ
ình sống dưới
ngưỡng ngh
èo chỉ còn 16% so với 28,9% của năm 2002 và 58,1% của năm 1993.
Thành t
ựu giảm nghèo của Việt Nam trong thời gian qua là một trong những câu
chuyện thành công trong phát triển kinh tế và một câu hỏi đặt ra là làm thế nào để tiếp
tục được các thành quả của những năm trước.
An Giang là một trong 13 tỉnh thuộc khu vực ĐBSCL, là tỉnh ở biên giới Tây
Nam của Tổ quốc. An Giang có nền kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào nông nghiệp. Dân
s
ố khoảng 2,2 triệu người, mật độ dân số 636 người / km2, thuộc nhóm cao trong vùng.
T
ỷ lệ hộ nghèo của tỉnh năm 2008 là 6,96%, phần lớn hộ nghèo sống tập trung ở nông
thôn, trong đó, có 41% số hộ nghèo sống ở các huyện cù lao, tiếp đến là 28% ở vùng
mi
ền núi (Tri Tôn và Tịnh Biên), 24% sống ở các huyện đồng bằng và chỉ 7% số hộ
nghèo sống ở vùng thành thị.
2
Khi b
ắt đầu quyết định chọn luận văn nầy, bằng cố gắng của mình, tác giả đã thu
th
ập số liệu để tìm hiểu những nguyên nhân gây ra tình trạng nghèo tại huyện Tri Tôn,
tỉnh An Giang.
1.2. Ý nghĩa và mục tiêu của đề tài:
Tại huyện Tri Tôn, từ trước đến giờ chưa có công trình nào nghiên cứu mang
tính chất định lượng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng nghèo của hộ gia

Dân số
(người)
Người dân tộc
(người)
Số hộ
(hộ)
Số hộ
nghèo
T
ỷ lệ hộ
nghèo %
Toàn huyện 125.654 47.406 30.970 5.643 18,25%
Thị trấn Tri Tôn 14.752 3.174 3.338 500 14,47%
Xã Ô Lâm 10.304 10.138 2.865 726 25,34%
Xã Tà Đảnh 6.735 1.543 174 11,27%
Nguồn: Phòng LĐTBXH huyện Tri Tôn (2008)
1.6 . Bố cục của luận văn:
Chương I: Giới thiệu
Chương
II: Cơ sở lý thuyết về nghèo
Trình bày các lý thuy
ết về nghèo, các phương pháp xác định đối tượng nghèo,
các nguyên nhân d
ẫn đến nghèo của hộ gia đình để làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên
c
ứu.
Chương III: Thiết kế nghiên cứu
Mô tả địa bàn nghiên cứu và các cách thức nghiên cứu về nghèo ở huyện Tri tôn
Chương IV: Kết quả phân tích
Chương

những ai mà thu nhập thấp hơn 1 đô la Mỹ (USD) một ngày cho mỗi người, số tiền
được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”.
Theo Ngân hàng Thế giới, nghèo là tình trạng không có khả năng để có mức
s
ống tối thiểu, chúng bao gồm tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu
nh
ư giáo dục, y tế, dinh dưỡng.
Tóm lại: Tất cả những quan niệm trên về nghèo đói đều phản ảnh ba khía cạnh
chủ yếu sau đây: Những người được xem là nghèo đói khi:
* Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình.
*
Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con
người.
* Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.
2.2. Lý thuyết về phát triển kinh tế:
Theo Nguyễn Trọng Hoài (2007), phát triển kinh tế, hiểu một cách đầy đủ,
thường b
ao hàm những thay đổi toàn diện, liên quan đến những vấn đề chính trị, văn
hóa, xã hội và thể chế. Một khái niệm khác thường được đề cập đến trong giai đoạn
6
hi
ện nay đó là phát triển bền vững. Trong hội nghị Rio de Janerio, 1992, khái niệm nầy
được nhấn mạnh như sau: Phát triển bền vững l
à phát triển đáp ứng những nhu cầu của
hiện tại nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau.
Muốn cho dân giàu, nước mạnh và xã hội phồn vinh thì Chính phủ phải duy trì
được mức tăng trưởng kinh tế ổn định trong dài hạn. Đây là điều kiện tiền đề để thực
hiện các mục tiêu khác của quá trình phát triển. Nền kinh tế có tăng trưởng thì ngân
sách nhà nước ngày càng mở rộng, thu nhập của người dân cũng nâng lên và như vậy
mới có điều kiện nâng cao mức hưởng thụ về vật chất cũng như tinh thần cho người

nghiệp, tình trạng lạm dụng các hóa chất sử dụng vào sản xuất nông nghiệp ngày càng
tăng làm suy thoái tài nguyên đất và nước. Khi sự suy thoái này xuất hiện thì năng suất
và thu nhập giảm dần, trong khi dân số tăng, nông thôn không thu hút được việc làm và
h
ệ quả là thất nghiệp và sự nghèo đói xuất hiện.
Shepherd A (1998) cho rằng ngay cả việc đảm bảo không suy thoái tài nguyên
môi trường bằng kỹ thuật tốt cũng xuất hiện sự nghèo đói, do đặc điểm tự nhiên khác
nhau theo vùng và hi
ệu quả áp dụng tiến bộ kỹ thuật cũng đem lại kết quả khác nhau.
Giai đoạn đầu áp dụng kỹ thuậ
t mới, do đòi hỏi tăng nhanh đầu tư về giống, phân bón,
thuốc sâu, làm đất, thủy nông nội đồng … nên cũng gắn với rủi ro cao, và như vậy chỉ
các hộ giàu ở vùng nông thôn mới có khả năng thực hiện và hưởng lợi ích lớn từ việc đi
tiên phong đầu tư các kỹ thuật mới. Sau đó, với sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua t
ài
tr
ợ giá đối với các yếu tố sản xuất đầu vào và ưu đãi về tín dụng thì nông dân nghèo
m
ới có điều kiện áp dụng rộng rãi những kỹ thuật đó. Tuy nhiên, khi đại bộ phận nông
dân có thể áp dụng được mô hình này, sản lượng sẽ tăng nhanh và giá sẽ rớt xuống làm
gi
ảm hiệu quả đầu tư của nông dân. Nếu quá trình này tiếp tục, họ sẽ bị rơi vào gánh
nặng nợ nần, từ bỏ việc đầu tư, trong khi dân số tăng, làm tăng thất nghiệp và tình trạng
nghèo đói sẽ trầm trọng.
Trong bối cảnh như vậy, những người nông dân sẽ sẵn sàng đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng hàng hóa tự nhiên của bộ phận dân cư có thu nhập cao bằng cách khai thác
nguồn lực tự nhiên (hàng hóa công) như săn bắn, phá rừng để tăng thu nhập. Hệ quả là
môi trường tự nhiên tiếp tục bị suy thoái, thu nhập người dân giảm, và lại rơi vào vòng
l
ẩn quẩn của nghèo đói.

à kinh tế nông thôn vẫn có mức tăng trưởng đều và là
nhân t
ố tạo sự bình ổn cho kinh tế - xã hội của nước nhà. Michael Porter, chuyên gia về
lợi thế cạnh tranh quốc gia của Đại học Harvard, Hoa Kỳ, khi được hỏi điều gì đáng nói
nhất về Việt Nam, Ông đã trả lời: Lao động và nông nghiệp.
9
Ru
ộng đất sử dụng trong nông nghiệp được coi là tư liệu sản xuất đặc biệt, nên
vi
ệc bảo tồn quỹ đất và nâng cao chất lượng đất là vấn đề tồn tại của nông nghiệp.
Nông nghiệp có địa bàn sản xuất rộng lớn, nhưng lại mang tính khu vực nên các chính
sách kinh t
ế xã hội cho phát triển nông nghiệp phải thích hợp cho từng khu vực.
Lý giải cho tình trạng tụt hậu của nhiều nước đang phát triển, các nhà kinh tế mô
tả “Vòng lẩn quẩn của nghèo đói”.
Vòng lẩn quẩn của nghèo đói
Tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập cho dân cư là cơ sở để
thoát khỏi vòng lẩn quẩn này. Trong chiến lược phát triển kinh tế của các nước đang
phát triển, nông nghiệp cũng được chọn là một lĩnh vực sản xuất quan trọng để tác
động đến tăng trưởng. Điều n
ày càng quan trọng hơn đối với những nước có ưu thế về
tiềm năng tự nhiên gắn với nông nghiệp. Nông nghiệp tham gia giải quyết những khó
khăn của tình trạng kém phát triển ở các nước đang phát triển thông qua vai trò kích
thích tăng trưởng và đóng góp của nông nghiệp vào mức tăng trưởng GDP của nền
kinh tế.
Góc độ xã hội
Góc độ kinh tế
Năng
suất
Thu nhập

nông nghi
ệp do sự phát triển theo thời gian, một vài nguồn lực trở nên khan hiếm và
chi phí c
ủa chúng nâng cao tương đối so với một số nguồn lực khác. Đối với những
nước có
nguồn lao động dồi dào nhưng khan hiếm về đất nông nghiệp, con đường phát
triển nông nghiệp là tìm kiếm những công nghệ nhằm tăng năng suất trên một đơn vị
diện tích (sử dụng công nghệ sinh học, phân bón, giống, nước).
Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp sẽ mang lại sự gia
tăng năng suất cho cây trồng
và các cán bộ khuyến nông là những người giúp bà con
nông
dân có được những kiến thức đó.
2.6. Phương pháp xác định đối tượng nghèo:
Có nhiều cách phân loại giàu nghèo như: phân loại theo chi tiêu, phân loại theo
thu nhập, vẽ bản đồ nghèo, phân loại giàu nghèo theo tiêu chí của địa phương và xếp
hạng giàu nghèo. Mỗi phương pháp đều có những ưu, khuyết điểm riêng và có thể được
áp dụng tùy lúc, tùy nơi, tùy mục đích.
Nhìn chung, hầu hết các nước phát triển đã thống kê về tình trạng nghèo thông
qua m
ức thu nhập. Vì ở các nước này, thuế thu nhập được theo dõi rất chặt chẽ, thu
nhập của người dân được khai báo đầy đủ, thể hiện cụ thể qua các tài khoản ngân hàng.
11
M
ọi hành vi trốn hay gian lận thuế đều bị xử lý nghiêm khắc. Một trong những hạn chế
của phương pháp dựa vào thu nhập để đo nghèo đói là nó đòi hỏi rất nhiều số liệu.
Theo BCPTVN (2004),
ở những nước đang phát triển như nước ta, phương pháp đo
nghèo
đói bằng chi tiêu tỏ ra là một phép đo tốt.

12
2.7. Nguyên nhân của nghèo đói:
Hiện rất khó để có thể chỉ ra được tất cả những nguyên nhân của nghèo và cũng
khó để phân biệt trong những yếu tố cơ bản có ảnh hưởng đến nghèo, đâu là nguyên
nhân còn đâu là kết quả. Tuy nhiên nhìn chung, nghèo ở Việt Nam cũng có những nét
riêng biệt được tạo nên từ nhiều nguyên nhân tổng hợp có nguồn gốc từ những khác
biệt về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế-xã hội và điều kiện lịch sử.
Theo báo cáo của diễn đàn miền núi Ford (2004), các yếu tố có thể tác động
mạnh đến tình trạng đói nghèo tại các địa phương miền núi, vùng biên giới bao gồm:
sống ở khu vực nông thôn, người dân tộc, quy mô hộ gia đình, tỉ lệ phụ thuộc, tình
tr
ạng giáo dục, khả năng tiếp cận đường ô tô, giao thông chở khách, tiếp cận được
chương tr
ình khuyến nông và hộ sinh sống gần trung tâm chợ xã hoặc liên xã.
Theo chương trình Phân tích hiện trạng nghèo đói vùng ĐBSCL (2003) do
AusAID tài trợ, tình trạng nghèo đói có thể từ những nguyên nhân sau: mất đất đai hay
không có đất để canh tác, t
ình trạng thiếu việc làm, những yếu tố có liên quan tới thành
ph
ần dân tộc, chất lượng nguồn nhân lực, cơ hội tiếp cận thị trường, hạ tầng ở nông
thôn.
Theo PPA (2008)
ở tỉnh An Giang thì nguyên nhân gây ra nghèo đói có thể là
do: không có đất; không có vốn, không có nhà, không có việc làm ổn định, bệnh nhiều,
đông con, con không được đi học.
Theo Đinh Phi Hổ
- Chiv Vann Dy (2008) các yếu tố có thể ảnh hưởng đến
nghèo đói bao gồm: N
ghề nghiệp, tình trạng việc làm, trình độ học vấn, giới tính của
chủ hộ, quy mô hộ và số người sống phụ thuộc, quy mô diện tích đất của hộ gia đình,

ộ gia đình, việc làm của chủ hộ, thiếu đất, hạn chế tiếp cận với các nguồn lực
chính thức và khả năng phát triển kinh tế biên giới.
Tóm lại, để nghiên cứu những nguyên nhân có thể ảnh hưởng đến nghèo ở
huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, chúng tôi tập trung vào các yếu tố sau:
2.8. Nhóm các yếu tố có ảnh hưởng đến tình trạng nghèo ở huyện Tri Tôn:
2.8.1. Nhóm các yếu tố có liên quan tới hộ gia đình:
2.8.1.1. Nh
ững hạn chế của người dân tộc Khmer:
Số liệu của phòng LĐTBXH huyện Tri Tôn cho biết, người Khmer chiếm
38,31 % dân s
ố nhưng hộ nghèo người Khmer lại chiếm 47,29% số hộ nghèo trong
toàn huy
ện.
Theo Chương tr
ình phân tích hiện trạng đói nghèo tại vùng ĐBSCL (2003) do
AusAID tài tr
ợ, nguyên nhân tỷ lệ nghèo người Khmer cao hơn người Kinh và Hoa là
do: Đa số người Khmer cư trú tại vùng sâu, vùng xa, nơi mà đất trồng trọt có chất
14
lượng thấp và thường xuyên bị hạn hán, mặt khác do cơ sở hạ tầng và kênh mương
thủy lợi yếu kém nên họ ít có điều kiện phát triển kinh tế gia đình và trao đổi hàng hóa
v
ới những địa phương khác. Trong canh tác, họ ngại ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật sản
xuất mới.
Người Khmer thường quần cư theo dòng họ, theo các phum, sóc ở xung quanh
chùa Phật. Nhà cửa của người Khmer nói chung tạm bợ, tềnh toàng nhưng ngược lại,
họ lại dồn hết công sức, của cải và tài hoa cho nhà chùa. Chùa nguy nga, thoáng mát,
mái chùa cao vút trong khuôn viên cao ráo và u t
ịch, là nơi thờ phượng và cũng là trung
tâm sinh ho

13,5
60,7
16,0
3,9
20,4
10,3
52,3
Nghèo lương thực
Thành thị
Nông thôn
Kinh & Hoa
Dân tộc ít người
24,9
7,9
29,1
20,8
52,0
15,0
2,5
18,6
10,6
41,8
10,9
1,9
13,6
6,5
41,5
7,4
0,8
9,7

2,6
19,2
3,8
0,7
4,9
2,0
15,4
15
2.8.1.2. Giới tính của chủ hộ:
Ở các nước đang phát triển, nơi mà những thành kiến về vai trò của người phụ
nữ còn tương đối khắt khe thì giới tính của chủ hộ cũng có khả năng ảnh hưởng đến sự
nghèo đói của hộ. Những hộ có chủ hộ là nữ giới có nhiều khả năng rơi vào cảnh nghèo
h
ơn so với chủ hộ là nam giới. Phụ nữ ở đây đóng một vai trò quan trọng trong việc lao
động và cả trong việc quản lý tài chánh của gia đình nhưng họ thường phải đối mặt với
vi
ệc bị phân biệt đối xử. Người phụ nữ ở nông thôn phải gánh vác công việc đồng áng,
ngoài ra h
ọ còn phải tham gia làm thuê hay buôn bán trong những lúc nông nhàn,
chuy
ện cái ăn, cái mặc cho gia đình đã chiếm hết thời gian, họ ít có điều kiện giao lưu
ra bên ngoài xã h
ội hay mở mang tri thức. Mặc dù đã có nhiều thay đổi để thực hiện
kh
ẩu hiệu “nam nữ bình đẳng” nhưng ở nông thôn, trong gia đình, thường là người đàn
ông s
ẽ quyết định mọi việc.
2.8.1.3. Trình độ học vấn của chủ hộ:
Theo các nghiên cứu trước đây, trình độ học vấn có tương quan nghịch với tỷ lệ
đó

( %)
Không được đi học
Ti
ểu học
Ph
ổ thông cơ sở
Phổ thông trung học
D
ạy nghề
Đạ
i học
T
ổng cộng
57
42
38
25
19
4
37
12
39
37
8
3
0
100
8
35
36


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status