Ch ng 2 46ươ
K T LU N 111Ế Ậ
DANH M C T I LI U THAM KH O 113Ụ À Ệ Ả
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đói nghèo là một vấn đề xã hội bức xúc hiện nay trên thế giới nói
chung và ở Việt Nam cũng như ở Thanh Hoá nói riêng.
Trên thế giới hiện nay có tới 1/4 dân số đang sống trong tình trạng đói
nghèo. Đói nghèo không chỉ làm cho hàng triệu người không có cơ hội được
hưởng những thành quả văn minh tiến bộ của loài người mà còn gây ra những
hậu quả nghiêm trọng về kinh tế xã hội đối với sự phát triển, tàn phá môi
trường sinh thái. Vì vậy nếu đói nghèo không được giải quyết, thì không một
mục tiêu nào mà cộng đồng quốc tế, cũng như quốc gia đặt ra như tăng trưởng
kinh tế, cải thiện đời sống, hoà bình ổn định, bảo đảm các quyền con người
được thực hiện. Cũng như các nước trong khu vực và trên thế giới, Đảng và
Nhà nước ta luôn luôn đặt con người là vị trí trung tâm của sự phát triển, coi
XĐGN là một trong những mục tiêu cơ bản của chiến lược phát triển kinh tế
-xã hội.
Những năm gần đây, nhờ chính sách đổi mới, kinh tế nước ta tăng
trưởng nhanh, đời sống đại bộ phận nhân dân đã được nâng lên một cách rõ
rệt. XĐGN từ chỗ là phong trào (giai đoạn 1990-1997) đến năm 1998 đã trở
thành một chương trình mục tiêu quốc gia. Qua 7 năm thực hiện phong trào
và 10 năm thực hiện chương trình XĐGN, tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm đáng
kể, bình quân mỗi năm giảm 2%. Tuy nhiên một bộ phận không nhỏ dân cư,
đặc biệt là ở các vùng cao, vùng sâu, vùng xa vẫn đang chịu cảnh đói nghèo,
chưa đảm bảo được những điều kiện tối thiểu của cuộc sống.
Thanh Hoá là một tỉnh đông dân, có hơn 3,7 triệu người với 27 huyện,
thị xã, thành phố, 634 xã, phường thị trấn; có 11 huyện với 197 xã miền núi
văn tốt nghiệp đã đề cập đến vấn đề xoá đói giảm nghèo (XĐGN), trong đó có
các công trình như:
Các công trình do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội làm chủ biên có:
- Đói nghèo ở Việt Nam (Hà Nội, 1993);
- Nhận diện đói nghèo ở nước ta (Hà Nội, 1993);
- Xoá đói giảm nghèo (Hà Nội, 1996);
- Xoá đói giảm nghèo với tăng trưởng kinh tế (Nxb Lao động, 1997).
Về luận văn, luận án có các công trình sau:
- Luận án Tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Thị Hằng: Vấn đề xoá đói giảm
nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay, 1999;
- Luận án tiến sĩ kinh tế của Trần Thị Hằng: Vấn đề giảm nghèo trong
nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh, 2001;
- Luận văn Thạc sĩ kinh tế của Bùi Thị Lý: Vấn đề xoá đói giảm nghèo
ở tỉnh Phú Thọ hiện nay, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2000.
Liên quan đến vấn đề xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Thanh Hoá cũng đã có
2 đề tài:
Luận văn thạc sĩ kinh tế của Đỗ Thế Hạnh: "Thực trạng và những giải
pháp kinh tế chủ yếu nhằm xoá đói giảm nghèo ở vùng định canh định cư tỉnh
Thanh Hoá" Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 1998;
Luận văn thạc sĩ kinh tế của Tào Bằng Huy: "Những giải pháp cơ bản
nhằm xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 2001 - 2010" Đại học
kinh tế Quốc dân, năm 1999.
Các công trình nghiên cứu trên đề cập đến vấn đề đói nghèo dưới các
góc độ khác nhau cả về lý luận và thực tiễn nhưng chưa có công trình nghiên
cứu nào đề cập đến đói nghèo ở miền núi Thanh Hóa dưới góc độ kinh tế
chính trị. Vì vậy, đề tài mà tác giả lựa chọn để nghiên cứu không trùng với
các công trình nghiên cứu đã công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích:
đói giảm nghèo của tỉnh Thanh Hoá.
6. Những đóng góp của luận văn
- Phân tích, đánh giá thực trạng đói nghèo ở miền núi Thanh Hoá, tìm
ra những nguyên nhân, các giải pháp chủ yếu nhằm góp phần giải quyết vấn
đề đói nghèo của miền núi tỉnh Thanh Hoá trong giai đoạn hiện nay.
- Luận văn góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoạch
định chính sách xoá đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và chỉ
đạo thực tiễn công tác xoá đói giảm nghèo ở các địa bàn có đặc thù tương tự như
miền núi Thanh Hoá; làm tư liệu giảng dạy và nghiên cứu môn kinh tế chính trị.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết.
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở MIỀN NÚI
1.1. ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA ĐÓI NGHÈO VÀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
Ở MIỀN NÚI
1.1.1. Bản chất và tiêu chí xác định đói nghèo
1.1.1.1. Quan niệm về đói nghèo
Đói nghèo là một hiện tượng xã hội bức xúc hiện nay trên thế giới nói
chung và ở Việt Nam nói riêng, không những có thể gây ra thảm hoạ về nhân
đạo, mà còn có nguy cơ gây bất ổn xã hội. Nghèo đói thể hiện ở tình trạng
kiệt quệ của một bộ phận dân cư bao gồm nhiều khía cạnh, từ thu nhập kém
tới tình trạng dễ bị tổn thương khi phải đối mặt với những tai ương bất ngờ,
hoặc ít có khả năng tham gia vào quá trình ra quyết định của cộng đồng.
Nghèo đói là một phạm trù lịch sử và có tính tương đối. Tính chất và đặc trưng
của nghèo đói phụ thuộc vào điều kiện địa lý tự nhiên, hoàn cảnh chính trị,
trình độ phát triển kinh tế - xã hội và văn hoá của vùng, miền, quốc gia, khu
vực trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định.
đình nhưng lại không cấp cho họ phương tiện để có thể thường
xuyên và thật sự giải quyết nhưng nhu cầu ấy, cho nên mỗi người
công nhân, thậm chí là công nhân giỏi nhất cũng luôn luôn có thể bị
mất việc và do đó cũng sẽ không có ăn, [18, tr.418-419].
Sự bóc lột tàn bạo đó đã dẫn đến sự phân hoá xã hội thành hai cực đối
lập: tích luỹ sự giàu có đến tột độ về phía giai cấp tư sản và tích tích luỹ sự
nghèo khổ về phía giai cấp công nhân. C.Mác viết: “Như vậy, tích luỹ của cải
ở một cực này đồng thời cũng có nghĩa là tích luỹ sự đau khổ của lao động, sự
nô lệ, sự dốt nát, sự cục cằn và sự truỵ lạc tinh thần ở cực đối lập, tức là ở phía giai
cấp sản xuất ra bản thân sản phẩm của mình với tư cách là tư bản” [19, tr.909]. Sự
phân hoá giàu nghèo ấy ngày càng sâu sắc và đã trở thành sự phân hoá giai
cấp không thể điều hoà được.
Để làm rõ nguyên nhân của hiện tượng nghèo đói và sự bần cùng của
giai cấp công nhân, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đi vào lý giải vấn đề tiền công
trong xã hội tư bản. Theo Mác, tiền công là biểu hiện bằng tiền của giá trị
hàng hoá sức lao động, tiền công gồm có tiền công danh nghĩa và tiền công
thực tế. Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được do
bán sức lao động của mình cho nhà tư bản. Tiền công được sử dụng để sản
xuất và tái sản xuất sức lao động, do đó tiền công danh nghĩa phải được
chuyển thành tiền công thực tế.
Tiền công thực tế là tiền được biểu hiện bằng số lượng hàng hoá tư liệu
tiêu dùng và dịch vụ mà người công nhân mua được bằng tiền công danh
nghĩa của mình. Tiền công danh nghĩa là giá cả hàng hoá sức lao động, nó có
thể tăng lên hay giảm xuống tuỳ theo sự biến động trong quan hệ cung cầu về
hàng hoá sức lao động trên thị trường. Trong một thời gian nào đó, nếu tiền
công danh nghĩa vẫn giữ nguyên, nhưng giá cả tư liệu tiêu dùng và dịch vụ
tăng lên hay giảm xuống thì tiền công thực tế giảm xuống hay tăng lên.
Mác còn chỉ rõ, tính quy luật của sự vận động của tiền công trong chủ
nghĩa tư bản là: trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, tiền công
danh nghĩa có xu hướng tăng lên, nhưng mức tăng của nó nhiều khi không
nghèo đói, chúng ta đã quá thiên về chủ nghĩa bình quân trong phân phối, chia
đều sự nghèo khổ cho tất cả mọi người mà không tính đến trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất và điều đó đã dẫn đến việc xem nhẹ lợi ích kinh tế của cá
nhân, hạn chế cá nhân làm giàu và triệt tiêu động lực phát triển kinh tế - xã hội.
Bên cạnh quan điểm trên, lại có quan niệm cho rằng chỉ cần xác lập
quyền sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất, quyền làm chủ xã hội của nhân dân
lao động thì nghèo đói sẽ tự động biến mất, xã hội sẽ ngay lập tức đạt tới sự
phồn thịnh, mọi người ai cũng giàu có.
Song thực tế lại không phải như vậy, mặc dù trong chủ nghĩa xã hội,
không còn đối kháng giai cấp, nhưng những sự khác biệt của người lao động
vẫn luôn tồn tại. Sự khác biệt về phẩm chất, năng lực, trí tuệ, thể lực, cơ hội
của những người lao động đã dẫn đến sự khác nhau về kết quả lao động có ích
mà họ cống hiến cho xã hội, và do đó khác nhau về thu nhập do kết quả lao
động đó mang lại.
Trong chủ nghĩa xã hội, giàu, nghèo vẫn còn tồn tại, nhất là trong cơ
chế thị trường, bình đẳng và công bằng xã hội là tương đối chứ không phải là
tuyệt đối, là hướng tới ngày một thụ hưởng đầy đủ hơn những giá trị ấy, chứ
không phải lập tức đã có ngay những giá trị ấy, nhất là khi chủ nghĩa xã hội
mới ra đời chứ chưa ở trình độ thành thục, phát triển. Như vậy, nghèo đói là
một vấn đề kinh tế - xã hội chứ không đơn thuần chỉ là vấn đề kinh tế. Tuy
nhiên, các thước đo để đánh giá ai nghèo, ai giàu lại chủ yếu và trước hết dựa
trên thước đo về kinh tế.
Hội nghị bàn về giảm nghèo đói trong khu vực châu Á- Thái Bình
Dương do ESCAP tổ chức ở Băng Cốc tháng 9-1993 đã đưa ra khái niệm và
định nghĩa nghèo đói như sau:
"Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và
thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ
theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của các địa
phương".
Có thể xem đây là một quan niệm, một định nghĩa chung nhất về nghèo
bình của mỗi người (với trọng số tương ứng là 1/3). Mức sống được đo lường
theo mức GDP thực tế bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương
(PPP) của mỗi quốc gia. Theo số liệu của UNDP, HDI của nước ta năm 1998 là
0,671 đứng thứ 108; các nước có chỉ số phát triển con người cao là từ 0,801 trở
lên, còn mức trung bình là từ 0,505 đến 0,797; dưới 0,506 là các nước có chỉ số
phát triển con người thấp. Chỉ số này cao nhất là 1. Năm 1989 nước có chỉ số
cao nhất là Canađa đạt 0,935.
Sự kết hợp giữa chỉ tiêu HDI và chỉ tiêu GDP/ người như đã nêu ở trên
cho phép chúng ta đánh giá, nhận diện đói nghèo một cách khách quan và
chính xác hơn.
Đói nghèo còn được nhận diện ở bốn khía cạnh là thời gian, không
gian, môi trường và giới.
Về thời gian: Phần lớn người nghèo có mức sống dưới mức được xác
định như một chuẩn thấp nhất có thể chấp nhận được trong một thời gian
dài(tuy nhiên cũng cần phải bổ sung vào số người này những người nghèo
tình thế do thất nghiệp, do thiên tai, rủi ro hay do con người gây ra).
Về giới: Phần lớn người nghèo ở các nước đều là phụ nữ. Mặc dù trong
gia đình, nam giới là chủ gia đình, nhưng phụ nữ vẫn phải gánh chịu nhiều
hơn gánh nặng của nghèo đói.
Về không gian: nghèo đói diễn ra chủ yếu ở nông thôn, miền núi,vùng
sâu, vùng xa dù nền kinh tế có phát triển đến thế nào chăng nữa dân cư ở
các vùng kể trên vẫn dễ bị rơi vào nghèo đói.
Về môi trường: hầu hết những người nghèo đói đều phải sống trong môi
trường khắc nghiệt và xuống cấp nghiêm trọng, bởi vì những người nghèo đói
không đủ khả năng và điều kiện để gìn giữ, đảm bảo và cải thiện môi trường sống.
Tóm lại: Những quan niệm về nghèo đói do cách tiếp cận khác nhau
nên có những kiến giải khác nhau, sự nghèo đói là một khái niệm tương đối
và có tính biến đổi. Các chỉ số xác định giới hạn nghèo đói không phải là
cứng nhắc và bất biến. Nó biến đổi tuỳ theo sự chênh lệch, sự khác biệt giữa
các vùng, miền, quốc gia.
Theo từ điển tiếng Việt thì tiêu chí và chuẩn có các nghĩa sau đây:
Tiêu chí có nghĩa là: Tính chất, dấu hiệu làm căn cứ để nhận biết, xếp loại
một sự vật, một khái niệm [30, tr.990]. Như vậy, tiêu chí mang tính định tính.
Chuẩn có nghĩa là: cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, để hướng
theo đó mà làm cho đúng, vật được chọn làm mẫu để thể hiện một đơn vị đo
lường, cái được công nhận là đúng theo quy định hoặc đúng theo thói quen
trong xã hội [30, tr.181]. Như vậy, chuẩn mang tính định lượng. Từ đó ta có
thể hiểu chuẩn nghĩa là mốc giới hạn do nhà nước hay tổ chức quốc tế quy
định về mức thu nhập mà nếu ai có thu nhập thấp hơn mức này gọi là nghèo,
còn ai vượt qua giới hạn đó thì họ không phải là người nghèo. Chuẩn là công
cụ để phân biệt giữa người nghèo và người không nghèo. Giữa chuẩn nghèo
và tỉ lệ hộ nghèo có quan hệ tỷ lệ thuận với nhau, nếu chuẩn nghèo cao thì tỷ
lệ hộ nghèo cao và ngược lại
a. Tiêu chí xác định chuẩn nghèo của thế giới
Để đánh giá nghèo đói, UNDP dùng cách tính dựa trên cơ sở phân phối
thu nhập theo đầu người hay theo nhóm dân cư. Thước đo này tính phân phối
thu nhập cho từng cá nhân hoặc hộ gia đình nhận được trong thời gian nhất
định, nó không quan tâm đến nguồn mang lại thu nhập hay môi trường sống
của dân cư mà chia đều cho mọi thành phần dân cư. Phương pháp tính là:
Đem chia dân số của một nước, một châu lục hoặc toàn cầu ra làm 5 nhóm,
mỗi nhóm có 20% dân số bao gồm: Rất giàu, giàu, trung bình, nghèo và rất
nghèo. Theo cách tính này, vào những năm 1990 thì 20% dân số giàu nhất
chiếm 82,7% thu nhập toàn thế giới, trong khi 20% nghèo nhất chỉ chiếm
1,4%. Như vậy nhóm giàu nhất gấp 59 lần nhóm nghèo nhất [32, tr.11].
Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức
độ giàu, nghèo của các quốc gia dựa vào mức thu nhập quốc dân bình quân
tính theo đầu người trong một năm với 2 cách tính đó là: Phương pháp Atlas
tức là tính theo tỷ giá hối đoái và tính theo USD. Phương pháp PPP
(purchasing power parity), là phương pháp tính theo sức mua tương đương và
cũng tính bằng USD.
nghèo. Nhưng cũng cần thấy rằng nghèo đói còn chịu tác động của nhiều yếu
tố khác như văn hoá, chính trị, xã hội. Trong thực tế nhiều nước phát triển có
thu nhập bình quân theo đầu người cao nhưng vẫn chưa đạt được sự phát triển
toàn diện. Tình trạng thất nghiệp, nghèo đói, thiếu việc làm, ô nhiễm môi
trường và những bất công khác vẫn còn phổ biến, khoảng cách nghèo ngày
càng tăng lên, xu hướng này không chỉ xảy ra ở những nước nghèo mà còn
xảy ra ở những nước khá và giàu. Qua đó có thể thấy rằng: Nghèo khổ trong
xã hội không chỉ là hậu quả của mức thu nhập thấp hay cao mà còn là kết quả
của phân phối thu nhập và thực hiện công bằng xã hội. Vì vậy, để đánh giá
vấn đề nghèo đói, bên cạnh tiêu chí thu nhập quốc dân bình quân, UNDP còn
đưa ra chỉ số phát triển con người (HDI) bao gồm hệ thống ba chỉ tiêu; tuổi
thọ, tình trạng biết chữ của người lớn, thu nhập bình quân đầu người trong
năm. Đây là chỉ tiêu cho phép đánh giá đầy đủ và toàn diện về sự phát triển và
trình độ văn minh của mỗi quốc gia, nhìn nhận các nước giàu nghèo tương đối
chính xác và khách quan.
b. Tiêu chí xác định chuẩn nghèo của Việt Nam
Trong những năm qua nước ta tồn tại song song một số phương pháp xác
định chuẩn nghèo phục vụ mục đích khác nhau. Đó là cách xác định chuẩn nghèo
của Chính phủ do Bộ Lao động - Thương binh và xã hội công bố. Chuẩn nghèo
của Tổng cục thống kê và Ngân hàng thế giới đưa ra để đánh giá nghèo đói trên
giác độ vĩ mô.
* Phương pháp xác định chuẩn nghèo của Tổng cục thống kê và Ngân
hàng thế giới
Tổng Cục thống kê với vai trò thu thập, công bố và đánh giá số liệu cấp
quốc gia và có thể so sánh quốc tế đã cùng Ngân hàng thế giới áp dụng
phương pháp xác định chuẩn nghèo theo phương pháp đo lường mức sống của
Ngân hàng thế giới được thực hiện trong các cuộc khảo sát mức sống dân cư ở
Việt Nam (các năm 1992 – 1993 và 1997 – 1998) để xây dựng đường đói nghèo.
Đường đói nghèo ở mức thấp là đường đói nghèo về lương thực, thực
phẩm, được xác định bởi chi phí cần thiết để mua rỗ lương thực, thực phẩm
1993 – 1995 (Mức
thu nhập qui ra gạo)
Đói (KV nông thôn) Dưới 8Kg
Đói (KV thành thị) Dưới 13 kg
Nghèo (KV nông thôn) Dưới 15 kg
Nghèo (KV thành thị) Dưới 20 kg
1996 – 2000 (Mức thu
nhập qui ra gạo tương
Đói (Tính cho mọi khu vực) Dưới 13 kg (45.000 đồng)
Nghèo (KV nông thôn miền
núi, hải đảo)
Dưới 15kg(55.000đồng)
Nghèo (KV nông thôn, đồng
bằng trung du)
Dưới 20kg (70.000đồng)
Nghèo (KV thành thị) Dưới 25kg (90.000 đồng)
2001 – 2005 (Mức thu
nhập tính bằng tiền)
Nghèo (KV nông thôn miền
núi, hải đảo)
Dưới 80.000đồng
Nghèo (KV nông thôn đồng
bằng trung du)
Dưới 100.000 đồng
Nghèo (KV thành thị) Dưới 150.000 đồng
2006 – 2010 (Mức thu
nhập tính bằng tiền)
Nghèo (KV nông thôn) Dưới 200.000 đồng
Nghèo (KV thành thị) Dưới 260.000 đồng
Nguồn: Bộ LĐ - TB và XH, chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN
- Không có đường ô tô vào xã, các công trình điện, thuỷ lợi, nước sạch,
trường học, bệnh xá, các dịch vụ khác rất thấp kém hoặc không có.
- Môi trường XH chưa phát triển, trình độ dân trí quá thấp, tỷ lệ mù chữ
và thất học trên 50%, bệnh tật nhiều, hủ tục lạc hậu, không có thông tin.
- Điều kiện sản xuất rất khó khăn, thiếu thốn, số hộ không có đất và
thiết đất sản xuất trên 20% số hộ có người làm thuê trên 20%.
- Số hộ nghèo đói trên 30%. Đời sống còn nhiều khó khăn, còn tình
trạng đói giáp hạt.
Năm 2002, Bộ lao động - Thương binh và Xã hội có Quyết định số:
587/2002/QĐ-BLĐTBXH quy định xã nghèo (ngoài chương trình 135) là xã
có đủ 2 tiêu chí sau:
- Có tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên.
- Chưa có đủ 3 trong 6 hạng mục cơ sở hạ tầng thiết yếu, cụ thể như sau:
+ Dưới 30% số hộ được sử dụng nước sạch.
+ Dưới 50% số hộ được sử dụng điện sinh hoạt.
+ Chưa có đường ô tô tới trung tâm xã, ô tô không đi lại được cả năm.
+ Số phòng học mới đáp ứng dưới 70% nhu cầu của học sinh hoặc
phòng tam bằng tranh, tre, nứa, lá.
+ Chưa có trạm y tế hoặc có nhưng nhà tạm.
+ Chưa có chợ hoặc chợ tạm thời.
Theo tiêu chí nêu trên thì hiện nay nước ta có khoảng 1 780 xã đặc biệt
khó khăn (ĐBKK), và 639 xã nghèo (năm 2005).
1.1.2. Quan niệm về xoá đói giảm nghèo
1.1.2.1. Khái niệm xoá đói giảm nghèo
Giảm nghèo hay (xoá đói giảm nghèo) chính là làm cho bộ phận dân
cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Biểu
hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống. Nói một cách
khác, xoá đói giảm nghèo là một quá trình chuyển một bộ phận dân cư nghèo
lên một mức sống cao hơn.
Ở khía cạnh khác, xoá đói giảm nghèo là chuyển từ tình trạng có ít
và địa chủ đối với lao động như trước đây mà do nền kinh tế nước ta đang
trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu kém phát triển
sang nền kinh tế phát triển hiện đại. Trong nền kinh tế này tồn tại và đan xen
nhiều trình độ sản xuất khác nhau. Có trình độ sản xuất cũ, lạc hậu vẫn còn
trong khi đó trình độ sản xuất mới, tiên tiến lại chưa đóng vai trò chủ đạo,
thay thế các trình độ sản xuất cũ. Do đó, dẫn đến có sự khác nhau trong các
tầng lớp dân cư.
Như vậy, giảm nghèo (XĐGN) ở nước ta chính là từng bước thực hiện
quá trình chuyển đổi các trình độ sản xuất cũ, lạc hậu còn tồn đọng trong xã
hội sang trình độ sản xuất mới cao hơn.
Ở góc độ người nghèo: Giảm nghèo (XĐGN) là quá trình tạo điều kiện
giúp đỡ người nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn lực của sự phát triển một
cách nhanh nhất, trên cơ sở đó họ có nhiều khả năng lựa chọn tốt hơn giúp họ
từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo đói.
1.1.2.2. Nội dung của xoá đói giảm nghèo
Thứ nhất là, tăng thu nhập cho người nghèo, vùng nghèo: Khi đánh
giá vấn đề nghèo đói, các tổ chức quốc tế cũng như các nước khác nhau lựa
chọn phương pháp và chỉ tiêu đánh giá cơ bản giống nhau. Song cách xác
định và mức độ cụ thể có những khía cạnh khác nhau.
Để làm căn cứ tính toán mức nghèo đói người ta đều thống nhất dựa
vào hai loại chỉ tiêu sau:
- Chỉ tiêu chính: Thu nhập bình quân người/tháng hoặc năm và được đo
bằng chỉ tiêu giá trị hoặc hiện vật quy đổi.
- Chỉ tiêu phụ: Dinh dưỡng bữa ăn, nhà ở, mặc, y tế, giáo dục và các
điều kiện đi lại.
Như vậy, tăng thu nhập cho đối tượng nghèo là nội dung cần được quan
tâm nhất đối với công tác xoá đói giảm nghèo.
Phần lớn người nghèo ở các nước đang phát triển phụ thuộc vào thu
nhập từ sức lao động, từ công việc trên mảnh đất của họ, từ tiền lương hay từ
những hình thức lao động khác. Tình trạng thiếu việc làm và năng suất lao