Thực trạng và giải pháp Xoá đói giảm nghèo ở huyện Vĩnh Lộc - Thanh Hoá - Pdf 30

LỜI MỞ ĐẦU
Nghèo đói là một vấn đề xã hội mang tính toàn cầu. Những năm gần đây,
nhờ những chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế nước ta đã có
những bước chuyển mình rất quan trọng. Đặc biệt là vào năm 2006 nước ta đã chính
thức là thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất thế giới WTO. Những
nhân tố đó đã làm cho nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh, đại bộ phận đời
sống nhân dân đã được nâng lên một cách rõ rệt. Song, một bộ phận không nhỏ dân
cư đặc biệt là dân cư ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa... đang chịu cảnh nghèo đói,
chưa đảm bảo được những điều kiện tối thiểu của cuộc sống như ăn, ở, mặc, đi
lại...Chính vì vậy, sự phân hoá giàu nghèo ở nước ta ngày càng diễn ra mạnh mẽ.
Nó không chỉ là mối quan tâm hàng đầu của những nước có nền kinh tế phát triển
trên thế giới, mà đối với nước ta khi nền kinh tế đang có sự chuyển mình thì vấn đề
phân hoá giàu nghèo càng được chú trọng hàng đầu. Để có thể hoàn thành mục tiêu
quốc gia là Xoá đói giảm nghèo thì trước tiên phải rút ngắn sự phân hoá giàu nghèo.
Xoá đói giảm nghèo là một trong những chính sách xã hội cơ bản hướng vào
phát triển con người, nhất là người nghèo, tạo cơ hội cho họ tham gia vào quá trình
phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, để cho người nghèo có cơ hội và điều kiện
tiếp cận các dịch vụ xã hội phát triển sản xuất tự vươn lên thoát khỏi nghèo đói.
Vĩnh Lộc Thanh Hóa là một trong những huyện sớm triển khai thực hiện chương
trình xoá đói giảm nghèo. Uỷ ban nhân dân huyện đã quyết định thành lập Ban chỉ
đạo xoá đói giảm nghèo từ các huyện đến các xã, dành nhiều ngân sách đầu tư cơ sở
hạ tầng xã nghèo, lập quỹ cho vay Xoá đói giảm nghèo , xây dựng các mô hình xoá
đói giảm nghèo...
Với lí do trên và qua tìm hiểu thực tế về các chủ trương chính sách của Đảng
và Nhà nước về công tác Xoá đói giảm nghèo ở huyện Vĩnh Lộc - Thanh Hoá. Kết
hợp với việc nghiên cứu các số liệu về thu nhập, việc làm, đời sống vật chất, tinh
thần của hộ nghèo nói riêng và của nhân dân trong huyện nói chung.Với tư cách là
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
một sinh viên thực tập tại huyện em nhận thấy vấn đề nghèo đói của huyện là rất
phổ biến, cần phải có những bước đi thật chính xác mới có thể khắc phục được.
Chính vì vậy em đã chọn đề tài chuyên đề thực tập là: Thực trạng và giải pháp

cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc
về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó.
Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc
vào cảm nhận của những người trong cuộc. Người ta gọi là nghèo tương đối chủ
quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định
khách quan. Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn
tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn. Việc nghèo đi về văn hóa-
xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được
các nhà xã hội học xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng.
- Nghèo tuyệt đối là sự không thoã mãn những nhu cầu tối thiểu của con
người để duy trì cuộc sống như: Cơm ăn không đủ no, áo không đủ mặc, nhà cửa
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
không bảo đảm chống được mưa nắng, thiên tai bão lũ...không so sánh với ai khác
nhưng bản thân họ không đủ lượng calo cần thiết để duy trì cuộc sống.
Hộ nghèo tuyệt đối là đối tượng chủ yếu của chương trình, mục tiêu xoá đói
giảm nghèo phải tác động. Để xem xét mức độ nghèo đói chúng ta cần thước đo gọi
là chuẩn nghèo.
Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển,
Ngân hàng thế giới, đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối. Định nghĩa khái niệm
nghèo tuyệt đối như sau: "Nghèo ở mức độ tuyệt đối...là sống ở ranh giới ngoài
cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để
sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt
quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng
ta."
Ranh giới cho nạn nghèo tương đối dựa vào nhiều số liệu thống kê khác
nhau cho một xã hội. Một con số cho ranh giới của nạn nghèo được dùng trong
chính trị và công chúng là 50% hay 60% của thu nhập trung bình. Vì thế từ năm
2001 trong các nước thành viên của Liên minh Châu Âu những người được coi là
nghèo khi có ít hơn 60% trị trung bình của thu nhập ròng tương đương. Lý luận của
những người phê bình cho rằng con số này trên thực tế cho biết rất ít về chuẩn mực

Chính phủ với việc cải cách, sửa đổi những khiếm khuyết của thể chế kinh tế để
nhóm nghèo đói tự vươn lên xoá đói giảm nghèo.
Như vậy đã có hai quan niệm về nghèo đói nhưng nhìn chung chúng đều đề
cập đến sự thõa mãn nhu cầu của con người. Trong bài viết này chúng ta sẽ sử
dụng qua niệm nghèo đói của việt nam để đánh giá thực trạng nghèo đói trên địa
bàn.
1.2 cách xác định chuẩn nghèo
1.2.1 Cách xác định chuẩn nghèo quốc tế
- Ngân hàng thế giới WB đưa ra cách xác định mức chuẩn nghèo đói như sau
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
+ Nghèo lương thực thực phẩm: tổng chi dùng chỉ tính riêng cho phần lương
thực thực phẩm, làm sao để đảm bảo lượng dinh dưỡng tối thiểu cho một người là
2100 kcal/ngày đêm;
+ Nghèo chung: tổng chi dùng cho cả giỏ hàng tiêu dùng tối thiểu, được xác
định bằng cách ước lượng tỷ lệ: 70% chi dùng dành cho lương thực thực phẩm,
30% cho các khoản còn lại.
- Chuẩn nghèo của thế giới hiện nay là thu nhập bình quân 1,25USD/người/ngày
(tương đương với 600.000 đồng/người/tháng); chuẩn nghèo của châu Á là 1,35
USD/người/ngày (650.000 đồng/ người/tháng). Theo tính toán của Ngân hàng Thế
giới (WB), với chuẩn thu nhập 1,25 USD/người/ngày, trên thế giới hiện có đến 1,4
tỉ người (hơn 20% dân số thế giới) sống ở mức nghèo khổ.
1.2.2. Cách xác định chuẩn nghèo đói của việt nam
Có 3 căn cứ quan trọng để xác định chuẩn nghèo đói:
- Căn cứ vào nhu cầu tối thiểu, nhu cầu này được lượng hoá bằng mức chi
tiêu về lương thực,thực phẩm thiết yếu để duy trì cuộc sống với nhiệt lượng tiêu
dùng từ 2.100-2.300 Kcal/người/ngày.
- Căn cứ vào mức thu nhập bình quân đầu người/tháng. Trong đó đặc biệt
quan tâm đến thu nhập bình quân đầu người/tháng của nhóm có thu nhập thấp(20 %
số hộ).
- Căn cứ vào nguồn lực thực tế của quốc gia, của từng địa phương đã được

Theo quyết định số 1143/2005/QĐ-LĐTBXH ngày 01/11/2005 của Bộ
trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, chuẩn nghèo giai đoạn 2005-2010
được quy định cho mức thu nhập bình quân đầu người trong hộ cho từng vùng như
sau:
+ Vùng nông thôn đồng bằng: 200.000 đồng/người/tháng.
+ Vùng thành thị: 260.000 đồng/người/tháng.
Những hộ có mức thu nhập bình quân đầu người dưới mức quy định nêu trên
được xác nhận là hộ nghèo.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Chuẩn nghèo thay đổii theo thời gian chứ không cố định. Căn cứ vào tình
hình phát triển kinh tế- xã hội, địa phương nào có đủ điều kiện sau đây có thể nâng
chuẩn nghèo lên để phù hợp với thực tế của địa phương đó:
+ Thu nhập bình quân đầu người cao hơn thu nhập bình quân của cả nước.
+ Có tỷ lệ hộ nghèo thấp hơn tỷ lệ hộ nghèo trung bình của cả nước.
+ Tự cân đối được ngân sách và tự giải quyết được các chính sách đói nghèo
theo chuẩn nâng lên.
- Xã nghèo: Theo Quyết định số 587/2005/QĐ-LĐTBXH ngày 22/05/2002
của Bộ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội về việc ban hành tiêu chí xã
nghèo giai đoạn 2005-2010. Quy định xã nghèo là xã có:
+ Tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên
+ Chua đủ 3 trong 6 hạng mục cơ sở hạ tầng thiết yếu (Bao gồm đường giao
thông, trường học, trạm y tế, điện sinh hoạt, nước sạch, chợ). Cụ thể là:
• Dưới 30% số hộ sử dụng nước sạch.
• Dưới 50% số hộ sử dụng điện sinh hoạt.
• Chưa có đường ô tô đến trung tâm xã hoặc ô tô không đi lại được
cả năm.
• Số phòng học( Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo) chỉ
đáp ứng được dưới 70% nhu cầu của học sinh hoặc phòng học tạm
bợ bằng tranh tre, nứa, lá.
• Chưa có trạm y tế xã hoặc có nhưng là nhà tạm.

sống bằng chính sức lao động của bản thân
.
II. Các yếu tố ảnh hưởng đến đói nghèo
Đói nghèo do nguyên rất nhiều nguyên nhân gây ra, vì vạy cũng có rất nhiều
yếu tố ảnh hưởng đến đói nghèo. Trong đó phải kể đến một số yếu tố cơ bản có ảnh
hưởng đến đói nghèo của huyện như sau:
1.Yếu tố khách quan.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
• Yếu tố tự nhiên.
Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp thuần tuý
của huyện. Trong những năm gần đây sản xuất nông nghiệp luôn bị rơi vào tình
cảnh mất mùa, có năm mất trắng ở một số xã đối với diện tích lúa nước (năm 2005).
Đây không chỉ là do thiên nhiên ngày càng biến đổi phức tạp khó lường mà nó còn
do một phần bàn tay con người gây ra. Việc thiếu ý thức trong bảo vệ rừng là một
nguyên nhân điển hình gây ra nhiều lũ quét và lốc xoáy. Do tàn pha rừng và môi
trường thiên nhiên nên tự nhiên không còn tuân theo quy luật vốn có của nó nữa.
Chính việc này gây ra hiệu quả sản xuất nông nghiệp tụt giảm đáng kể. Không ai
khác gánh chịu hậu quả này đó chính là người nông dân. Khi rơi vào cảnh mất mùa
thì người nghèo lại càng nghèo hơn. Bên cạnh đó, ngoài sản xuất nông nghiệp họ rất
khó chuyển đổi canh tác. Một phần là vì địa hình phức tạp, và một phần là do khí
hậu hạn chế khả năng canh tác của họ. Chính vì vậy nghèo đói vẫn còn tồn tại và
một phần là điều kiện tự nhiên gây nên.
• Yếu tố kinh tế- xã hội.
Nền kinh tế non trẻ do việc huyện mới được thành lập không lâu, sự ổn định
cần thiết của nó cũng chỉ mới là bước đầu. Để có thể tạo cơ hội cho người dân có
nhiều việc làm hơn, có thu nhập cao hơn là từ nông nghiệp thuần tuý vẫn phải có
thời gian. Chính vì vậy khó có thể tránh khỏi sự chênh lệch về kinh tế cũng như là
thu nhập của ngưòi dân so với các địa phương khác. Thực tế cho thấy, khi kinh tế
chưa thực sự ổn đinh, tác động của nó đến đời sống người dân là rất lơn. Nó không
chỉ gây ra tình trạng thiếu việc, thiếu cơ sở vật chất… mà còn kìm hãm chính sự

quan, trông chờ vào cấp trên từ đó nảy sinh tâm lý ỷ lại. Họ thiếu quyết tâm thoát
nghèo nên đói nghèo vẫn tồn tại trong cuộc sống của họ. Đói nghèo chỉ có thể xoá
được khi có sự nỗ lực từ chính bản thân người nghèo.
Trên đây chỉ là một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến vấn đề nghèo đói. Thực
tế cho thấy nạn nghèo đói không thể giải quyết trong thời gian ngắn, chính vì vạy
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
mà những yếu tố ảnh hưởng đến nó cũng sẽ thay đổi theo thực trạng nghèo đói của
từng nơi.
III.Sự cần thiết phải xóa đói giảm nghèo
1. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và xoá đói giảm nghèo
- Tăng trưởng kinh tế có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia. Nó
là điều kiện cần thiết đầu tiên để khác phục tình trạng nghèo đói, lạc hậu, để cải
thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho dân cư.
- Xoá đói giảm nghèo gắn với tăng trưởng kinh tế. Bất cứ quốc gia nào cũng
phải lấy nền tảng quan trọng nhất của nó là phát triển tăng trưởng kinh tế để xoá đói
giảm nghèo, chỉ có tăng trưởng kinh tế mới cho phép các quốc gia tích luỹ để đầu tư
cho xoá đói giảm nghèo vì xoá đói giảm nghèo cần rất nhiều nguồn lực và trong
nhiều năm. Mặt khác tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với công bằng trong xã hội có
nghĩa là phải gắn tăng trưởng kinh tế với xóa đói giảm nghèo để từ đó thu hẹp
khoảng cách giầu nghèo giữa các tầng lớp và giữa các vùng miền. Nếu tăng trưởng
kinh tế không vì người nghèo thì chính nó lại làm cho khoảng cách giầu nghèo tăng
thêm và điều này không phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên trong
phân bố ngân sách chúng ta không được thiên lệch về một hướng nào. Nếu tăng
trưởng kinh tế quá nhanh thì nguồn ngân sách cho xoá đói giảm nghèo sẽ ít và
người nghèo không theo kịp tiến trình phát triển kinh tế và ngược lại nếu chú trọng
vào công tác xoá đói giảm nghèo mà không quan tâm đến tăng trưởng kinh tế thì
càng làm cho người nghèo càng nghèo thêm. Điều đó có nghĩa là chúng ta phải biết
kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và công tác xóa đói giảm nghèo.
Vì vậy, xoá đói giảm nghèo là yếu tố cơ bản đảm bảo công bằng và tăng
trưởng bền vững và tăng trưởng kinh tế trên diện rộng được coi là một bộ phận

lan sang những lĩnh vực tưởng như không có liên quan, đó là môi trường và đạo đức xã
hội. Mức sống thấp cộng với lối sống du canh du cư đã tồn tại từ lâu đời của đồng bào
miền núi làm cho rừng bị tàn phá ngày một nặng nề hơn. Còn ở những nơi không có rừng
để tàn phá thì nghèo đói, thiếu việc làm sẽ nảy sinh tự phát dòng di dân ra thành phố, khu
công nghiệp, cửa khẩu biên giới để kiếm sống. Mức độ di chuyển này ngày càng tăng là
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nguồn gốc gây mất an ninh trật tự và lây lan các tệ nạn xã hội, kể cả tội phạm (điều tra qua
hai thành phố lớn Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy 70% tệ nạn ma tuý và gái
mại dâm xuất cư từ nông thôn và 79,2% do không có việc làm hoặc việc làm không ổn
định).
Nghèo khổ không chỉ gây nhức nhối cho người nghèo ở khía cạnh vật chất mà còn
phải kể đến nghèo khổ cả về mặt tinh thần, làm thui chột cả hệ thống giá trị của con người
trong cuộc sống. Nó làm giảm khả năng tham gia vào các hoạt động của cộng đồng, thiếu
niềm tin và hoài bão trong cuộc sống và dễ bị những ảnh hưởng tiêu cực chi phối.
"Vì vậy, trách nhiệm của thế giới là phải làm giảm nạn nghèo khổ. Điều đó vừa là
mệnh lệnh của đạo lý, vừa là cái tất yếu để có được sự bền vững của môi trường" (World
Development Report 1992).
2.2. Ảnh hưởng của đói nghèo đến đời sống xã hội.
Vấn đề nghèo đói không chỉ gây ra những hậu quả cho bản thân người nghèo
mà còn gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển chung của toàn xã hội. Ta
có thể thấy được tác động của nghéo đói đến bản thân người nghèo và ảnh hưởng
đến toàn xã hội thông qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Ảnh hưởng của nghèo đói đến đời sống xã hôi.
Nghèo đói dẫn đến
Bệnh tật Gia tăng dân số
Môi trường sống Suy dinh dưỡng
Tệ nạn xã hội
Thất học
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nghèo đói

đã xác định mục tiêu đến năm 2005 giảm số hộ nghèo theo tiêu chuẩn nước ta còn khoảng
10%. Thường xuyên củng cố thành quả xoá đói, giảm nghèo, không để trở lại đói nghèo.
Vận dụng tiêu chuẩn quốc tế để quy định hợp lý chuẩn xác định hộ nghèo và mục tiêu
giảm nghèo của nước ta.
Đường lối hoạt động: "Quan tâm xây dựng kết cấu hạ tầng cho các vùng
nghèo, xã nghèo; đồng thời nâng cấp, cải tạo các tuyến trục giao thông nối vùng
nghèo, xã nghèo với các trung tâm của những vùng khác, nhằm tạo điều kiện thuận
lợi cho vùng nghèo, vùng khó khăn để phát triển. Đi đôi với việc xây dựng kết cấu
hạ tầng, phải coi trọng việc tạo nguồn lực cần thiết để dân cư ở các vùng nghèo,
xã nghèo đẩy mạnh sản xuất, phát triển ngành nghề, tăng thu nhập. Phấn đấu đến
năm 2015 cơ bản không còn hộ đói và chỉ còn khoảng 10% số hộ thuộc diện nghèo.
Các tỉnh đồng bằng bắc bộ về cơ bản không còn hộ nghèo. Nâng dần mức sống của
các hộ đã thoát nghèo, tránh tình trạng tái nghèo" (Văn kiện Đại hội Đảng X - Tr.
299).
Chủ động di dời một bộ phận nhân dân không có đất canh tác và điều kiện sản xuất
đến lập nghiệp ở những vùng còn tiềm năng. Nhà nước tạo môi trường thuận lợi khuyến
khích mọi người dân vươn lên làm giàu chính đáng và giúp đỡ những người nghèo. Thực
hiện trợ cấp xã hội đối với những người có hoàn cảnh đặc biệt không thể tự lao động,
không có người bảo trợ, nuôi dưỡng.
Xóa đói, giảm nghèo về kinh tế là nội dung nổi bật, quan trọng nhất. Bên
cạnh đó, xoá đói nghèo văn hoá, thông tin cũng là một trong những nội dung được
nhấn mạnh trong định hướng phát triển, điều đó được xác định: "Quan điểm giáo
dục là quốc sách hàng đầu... củng cố và duy trì thành quả phổ cập giáo dục tiểu
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
học và xoá mù chữ, đặc biệt ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa; thực hiện phổ
cập giáo dục trung học cơ sở, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc; phát
động phong trào toàn dân tham gia thực hiện nếp sống văn minh, gia đình, làng,
bản văn hoá...".
Cùng với chương trình xoá đói giảm nghèo của Chính phủ Việt Nam, các tổ chức
quốc tế, tổ chức phi chính phủ, tổ chức từ thiện như: Liên hợp quốc, tổ chức quốc tế vì sự

phần lớn số tiền từ khai thác dầu để phát triển kinh tế và tập trung xoá đói giảm nghèo ở
vùng Java. Hiện nay đất nước này tiếp tục hướng về giải quyết đói nghèo ở các vùng khác.
Kết quả thu được là khả quan: giảm 70 triệu người nghèo khổ (60% dân số) trong thập
niên 70 xuống còn 27 triệu người nghèo đói (15% dân số) vào đầu thập niên 90.
Thái Lan áp dụng mô hình gắn liền chính sách phát triển quốc gia với chính sách
phát triển nông thôn thông qua hình thành phát triển xí nghiệp ở làng quê nghèo, phát triển
doanh nghiệp nhỏ, mở rộng các trung tâm dạy nghề ở nông thôn để giảm bớt nghèo khổ.
Nhờ hoạt động của Ban phát triển nông thôn (IBIRD) và tổ chức hiệp hội dân số và phát
triển cộng đồng (PDA) theo mô hình trên. Tỷ lệ người nghèo ở Thái Lan từ 30% trong
thập niêm 80 đã giảm xuống 23% năm 1990 (13 triệu người).
Mỗi quốc gia có chiến lược xoá đói giảm nghèo riêng. Điều quan trọng để thực
hiện thành công nhiệm vụ này là xác định đúng những thuận lợi, khó khăn của đất nước,
địa phương mình, xác định được đâu là nguyên nhân chính. Từ đó, làm cơ sở để đưa ra
các giải pháp phù hợp.
2. Kinh nghiệm Xoá đói giảm nghèo của một số địa phương trong
nước
- Kinh nghiệm góp phần xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Đồng Nai : Đưa "những
cái thiếu" về nông thôn, đến tận tay người nghèo.
Đồng Nai được xem là một trong những địa phương thành công nhất trong việc
thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo. Bài học kinh nghiệm của tỉnh thì nhiều,
nhưng dưới góc nhìn của Ban chỉ đạo xóa đói giảm nghèo Chính phủ, thì các chính
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
sách "đem cái chữ đến cho người nghèo", "gắn chế biến nông sản với vùng nguyên
liệu" và "đưa ngân hàng về cơ sở" của Đồng Nai là những nét nổi bật.
+)Dạy chữ, dạy nghề cho người nghèo
Trước khi triển khai thực hiện giải pháp nâng cao dân trí cho người nghèo, tỉnh đã
có nhiều nghị quyết, chỉ thị về xây dựng trường lớp ở nông thôn, các vùng khó khăn
và tiến đến kiên cố hóa. Có cái nền vững chắc như vậy cùng với phong trào xã hội
hóa giáo dục của tỉnh diễn ra mạnh mẽ đã tác động đến ý thức của người dân, đặc
biệt là nông dân trong việc chăm lo cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Nhờ vậy,

với tổng số tiền trên 60 tỷ đồng, quan tâm tổ chức thực hiện có hiệu quả các dự án
vốn vay giải quyết việc làm, vốn tương trợ, hỗ trợ lẫn nhau của các tổ chức hội.
Việc sử dụng vốn có hiệu qủa, đến nay hầu hết các hộ đã trả được nợ vay, số hộ nợ
quá hạn không nhiều.
Những hộ nghèo thiếu đất sản xuất được tập trung giải quyết để hộ nghèo có
đất và tư liệu sản xuất.Tập huấn kiến thức sản xuất các loại cây trồng, con nuôi cho
hơn 20.000 lượt người nghèo bằng nhiều hình thức như đi tham quan các mô hình
tiên tiến, hội nghị hội thảo đầu bừo, chuyển giao khoa học kỹ thuật. Đã có hơn
10.000 hộ nghèo sử dụng giống mới, kỹ thuật canh tác mới trong chăn nuôi trồng
trọt. Thực hiện chính sách trợ giá một số loại giống mới cho hộ nghèo như: Lúa vụ
mùa là 5.000đ/kg, lúa vụ chiêm là 3.000đ/kg, Ngô vụ đông là 3.000đ/kg... Trợ giá,
trợ cước cho các sản phẩm thếit yếu như : muối, dầu hoả, phân bón, giấy vở học
sinh, than đá trong 5 năm là 3 tỷ đồng.
Đã cấp 30.000 thẻ KCB cho người nghèo theo Quyết định 139 của Chính
phủ. Hàng năm có trên 15.000 lượt người nghèo được KCB miễn giảm phí tại cơ sơ
y tế cấp huyện và gần 1000 lượt người được KCB miễn giảm phí ở các tuyến y tế
cấp trên. Số trẻ em được đúng độ tuổi là 8.479 em = 95,4%. Trong thời gian qua
huyện đã tiếp nhận hỗ trợ cho 535 hôộổn định dân cư thuộc diện di dân từ các
huyện và tỉnh khác.Huyện đã tổ chức được 12 lớp tập huấn nâng cao năng lực Xoá
đói giảm nghèo cho trưởng thôn với 450 học viên, hàng năm tập huấn cho cán bộ
làm công tác Xoá đói giảm nghèo của 34 xã, thị trấn.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Thực hiện cuộc vận động toàn dân hỗ trợ giúp đỡ hộ nghèo về nhà ở, trong 2
năm 2004-2005 đã hỗ trợ xây dựng được 1290 ngôi nhà cho hộ nghèo. Kết quả sau
thời gian thực hiện mục tiêu giảm nghèo đã giảm được 18.08% hộ = 2.775 hộ thoát
nghèo, nhưng cũng có 156 hộ thoát nghèo. Đến cuối năm 2005 còn 15% hộ nghèo =
2.630 hộ đạt 100% kế hoạch
Có được kết quả trên là do có sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng-
HĐND-UBND-MTTQ và các đoàn thể, sự nổ lực cố gắng của các ban chỉ đạo, tập
thể, các nhân, các phòng, ban ngành, cơ quan đơn vị đã góp phần không nhỏ giảm


kinh độ Đông.
- Phía Bắc giáp các huyện Thạch Thành.
- Phía Nam giáp các huyện Yên Định.
- Phía Tây giáp huyện Cẩm Thuỷ.
- Phía Đông là các huyện Hà Trung và Hậu Lộc.
Được sông Mã bao bọc ở phía Nam, phía Tây - Bắc và phía Bắc là dải đất bán sơn
địa, phần chuyển tiếp giữa phần đồng bằng của huyện với vùng trung du - miền núi.
1.2. Địa hình
Là huyện nằm trong vùng đồng bằng Thanh Hoá, nhưng tiếp giáp với các huyện
miền núi ( Thạch Thành, Cẩm Thuỷ ) do vậy bề mặt lãnh thổ có địa hình không bằng
phẳng, vùng phía Tây - Bắc và phía Bắc của huyện thoáng hiện địa hình đồi trung du.
Vùng đất trung tâm và vùng phía Nam của huyện là đồng bằng. Độ cao trung bình toàn
huyện là 15 mét ( so với trung bình mặt nước biển); cá biệt có một số vùng trũng ( thuộc
các xã phía Đông - Nam: Vĩnh Minh, Vĩnh An và Vĩnh Thịnh ... ) thấp hơn độ cao trung
bình toàn huyện từ 3m - 5m.
Diện tích đất phân loại theo độ dốc như sau :
- Loại địa hình có độ dốc < 3
0
, diện tích là: 8.066 ha chiếm 51,24% diện tích tự
nhiên toàn huyện.
- Loại địa hình có độ dốc từ 3
0
- 8
0
, diện tích là :1.979 ha chiếm 12,57%.
- Loại địa hình có độ dốc từ 8
0
- 15
0

; cả năm có 1,667 giờ nắng, số ngày không có nắng trung bình năm là 83,2
ngày; lượng mưa trung bình năm từ 1.600 - 1.700 mm.
- Độ ẩm không khí trung bình năm là 86% lượng bốc hơi trung bình hàng
năm khoảng 850 mm; vận tốc gió trung bình trong năm là 1,9 m/s.
Khí hậu vùng Vĩnh Lộc là thuận lợi cho phát triển cây trồng, vật nuôi.
Nhưng có một số thời điểm do biến động thời tiết không thuận: đầu vụ Xuân có rét
đậm, sương giá và cuối vụ có gió Tây sớm, ảnh hưởng đến năng suất cây trồng ;
hạn hán do ảnh hưởng của gió Tây thường xảy ra vào đầu vụ mùa, bão, lụt vào cuối
vụ gây thiệt hại, thất bát cho cây trồng vụ mùa.
Thay đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ để tránh những biến động bất thuận của
thời tiết là những biện pháp canh tác tốt nhất hạn chế thiệt hại do thiên tai gây ra,
tăng sản lượng sản phẩm cây trồng nông nghiệp.
1.4. Sông ngòi
Vĩnh Lộc được hưởng nguồn nước từ sông Mã và sông Bưởi; tổng nguồn
nước sông Mã (sông chính) trung bình nhiều năm là 11,6 tỷ m
3
, khi lớn nhất 17,1 tỷ
m
3
; lượng dòng chảy mùa lũ: 8,8 tỷ m
3
và mùa kiệt: 2,8 tỷ m
3
. Đoạn sông chảy trên
đất Vĩnh Lộc là 41,5 km theo ranh giới phía Nam huyện, thuận lợi cho việc tổ chức
khai thác nguồn nước phục vụ phát triển dân sinh, kinh tế.
Sông Bưởi là một nhánh của sông Mã, bắt nguồn từ Hoà Bình có tổng chiều
dài sông 130 km, diện tích lưu vực 1.794 km
2
, đoạn chảy qua Vĩnh Lộc là 11,9 km

- Tổng năng lực tưới Ha 8.420
II. Giao thông vận tải
- Đường bộ Km 985
- Đường quốc lộ Km 33 (QL45+QL217)
- Đường huyện, xã Km 23
- Đường thôn, xóm Km 924
- Bến ô tô Cái 1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
III. Công trình phúc lợi
- Nhà trẻ + mẫu giáo Nhà 16
- Trường học Trường 37
- Bệnh viện B. viện 1
- Trạm ytế Trạm 16
IV. Công trình điện
- Số trạm biến áp trung gian Trạm 1 Núi Đún
- Số trạm biến áp hạ thế Trạm 63
- Tổng công suất KVA 10.700
(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Vĩnh Lộc)
Hiện tại, toàn huyện có 16/16 xã, thị trấn sử dụng điện lưới quốc gia.
Giao thông : Toàn huyện đang cố gắng kịp thời khắc phục những ách tắc
trong giao thông do thiên tai gây ra trong mùa lũ lụt năm 2007. Đến năm 2008 toàn
huyện đã có 935 km đường quốc lộ, trong đó 25,5 km đường được rải nhựa, 220 km
đường cấp phối còn lại là đường đất. Có 33 km đường quốc lộ với Quốc lộ 217 (21
km) và Quốc lộ 45 ( 12 km).
Trong công tác thuỷ lợi, diện tích đảm bảo tưới bằng công trình thuỷ lợi năm
2008 là 6.890 ha đạt gần 90% diện tích cần tưới, diện tích còn lại bị hạn là 600 ha.
Hệ thống kênh dẫn chính, cống dẫn và kênh mương nội đồng cũng được đầu tư
nâng cấp và kiên cố hoá, đã có trên 100 km kênh, 230 cống các loại được kiên cố
hoá.
Thông tin liên lạc : Toàn huyện đã phấn đấu đảm bảo thông tin liên lạc,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status