Phương hướng và giải pháp xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn 2001-2005 - Pdf 29

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Việt Nam trong những năm qua đã đạt dới sự lãnh đạo của Đảng đã đạt
đợc những thành tựu to lớn về kinh tế và xã hội, nền kinh tế đã từng bớc phát
triển, đời sống của ngời dân đang từng bớc cải thiện và nâng cao. Bên cạnh
những thành tựu đã đạt đợc thì chúng ta còn nhiều vấn đề còn tồn tại, trong đó
đói nghèo là một vấn đề đang còn nhiều búc xúc. Đói nghèo là không chỉ là sự
nhức nhối về kinh tế, cản trở thách thức sự phát triển mà còn liên quan đến toàn
bộ đến toàn bộ các mặt của đời sống xã hội. Đói nghèo thờng làm phát sinh
nhiều tệ nạn và có tính chất lây lan và làm mất ổn định xã hội, ảnh hởng xấu tới
chính trị. Đặc biệt khi có sự phân hoá giàu nghèo, phân thành giai cấp, có nguy
cơ chệch hớng xã hội chủ nghĩa, suy giảm nền tảng xã hội, chính trị. Nó là vấn
đề quan tâm hàng đầu hiện nay ở hầu hết mọi quốc gia trong đó có nớc ta. Xuất
phát từ tính chất quan trọng đó, dới sự hớng dẫn tận tình của GS.TS. Vũ Thị
Ngọc Phùng, em đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài Phơng hớng và giải pháp
xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn 2001-2005.
Đề tài gồm những nội dung chủ yếu sau:
Chơng I: Những lý luận chung.
Chơng II: Thực trạng và nguyên nhân đói nghèo ở Việt Nam.
Chơng III: Phơng hớng và giải pháp.
Đề tài của em còn nhiều thiếu sót, mong nhận đợc sự góp ý của thầy, cô
để những bài viết sau em hoàn thành tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Chơng i: Lý luận chung
i. mối quan hệ giữa tăng trởng và công bằng xã hội .
1. Các thớc đo đánh giá tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội.
1.1. Thớc đo mức độ tăng trởng và nhu cầu xã hội của con ngời.
Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến sự phát
triển bền vững của đất nớc mà nội dung của sự phát triển bền vững trớc hết là

năm đi học bình quân, tỷ lẹ chi cho giáo dục trong tổng chi tiêu của đất nớc
Để so sánh trình độ phát triển của các nớc Liên Hợp Quốc dã sử dụng chỉ
tiêu GDP/ngời. Nhng thực tế cho thấy không p0hải nớc nào có thu nhập cao thì
trình độ dân trí cũng cao. Chính vì vậy, năm 1990, cơ quan phát triển con ngời
của Liên Hợp Quốc đã đa ra chỉ số phát triển con ngời (HDI). Đay là chỉ tiêu
kết hợp và lợng hoá từ ba chỉ tiêu pảhn ánh nhu cầu co bản của con ngời đó là:
chỉ tiêu tuổi thọ bình quân, chỉ tiêu trình độ văn hoá và chỉ tiêu GDP/ngời.
Chỉ số HDI đợc đa ra để so sánh trình độ phát triển của các nớc đã làm đã
làm đảo lộn vị trí nhiều nớc so với cách xếp hạng theo chỉ tiêu GNP/ngời. Chỉ
số HDI đã chỉ rõ, nhiều nớc có thu nhập cao, nhng do chính sách kinh tế-xã hội
không chú ý đén việc nâng cao dân trí một cách thích đáng, nên vị trí của nớc
đó xếp theo chỉ số HDI bị giảm, nhng một số nớc khác tuy thu nhập thấp hơn,
nhng do nhàn nớc đã chú ý đến việc phát triển y tế, giáo dục nên vị trí đợc nâng
cao lên.
1.2. Thớc đo mức độ bình đẳng trong phân phối thu nhập.
Bên cạnh các chính sách kinh tế-xã hội đã đợc đề cập qua chỉ số HDI,
một vấn đề khác cũng đợc xem xét là vấn đề phân phối thu nhập. Thực tế cho
thấy, ở nhiều quốc gia, sau một thời gian mặc dù có tốc độ tăng trởng kinh tế rõ
rệt, những đời sống của con ngời dân vẫn ở mức nghèo khổ, thất nghiệp gia tăng
và ở một số nớc đông dân hầu nh không đợc hởng thành quả do tăng trởng đem
lại, trong khi nhóm ngời giàu có vẫn tiếp tục giàu thêm. Rõ ràng tăng trởng là
điều kiện cần nhng cha đủ để cải thiện đời sống vật chất và các vấn đề của xã
hội cho nhân dân. có thể đo đợc mức độ bình đẳng trong phân phối thu nhập.
Các nhà kinh tế học và xã hội học đã đa ra nhiều cách đo, nhng một trong
những công cụ biểu đạt mức độ bất bình đẳng đợc sử dụng nhiều nhất là đờng
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
cong Lorenz và hệ số Gini. Để nghiên cứu mức độ chênh lệch trong phân phối
thu nhập, ngời ta thờng chia dân số của một nớc ra làm năm nhóm, mỗi nhóm
có 20% dân số, từ nhóm thu nhập thấp nhất đến nhóm có thu nhập cao nhất. Và

nớc đang phát triển. Các khu vực có ngời nghèo nhiều nhất thế giới là Châu Phi
và Châu á, trong đó 80% số hộ nghèo khổ sống nông thôn, 20% phần trăm còn
lại sống ở các khu ổ chuột của thành phố. Nếu tính theo giới tính thì có khoảng
70% ngời nghèo là phụ nữ vì họ thờng bị trả lơng thấp hơn nam giới, là những
ngời đầu tiên bị sa thải việc và ít có cơ hội học hành so với nam giới.
Nếu theo tiêu chuẩn này của Ngân hàng thế giới thì ở Việt Nam những
ngời nghèo khổ có mức thu nhập dới 4.000.000 VND/ngời/năm (theo tỷ giá
năm 1993). Nhng nếu quy về mức năng lợng 2100 calo/ngời/ngày và theo sức
mua của đồng tiền Việt Nam, Ngân hàng thế giới cho rằng: mức nghèo đói
trung bình của Việt Nam là 1.090.000 VND/ngời/năm, nếu tính riêng theo khu
vực thì mức nghèo đói trung bình ở thành thị là 1.293.000 VND/ngời/năm, ở
khu vực nông thôn là 1.040.000 VND/ngời/năm.
Nếu nhìn nhận đói nghèo theo nghĩa hẹp, nghĩa là chỉ tính nhu cầu tối
thiểu về lơng thực và thực phẩm thì Bộ lao động thơng binh và xã hội, và Tổng
cục thống kê Việt Nam cho rằng: hộ nghèo là hộ thiếu ăn nhng không đứt bữa;
mặc không lành và không đủ ấm, không có khả năng phát triển sản xuất và hộ
đói là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái không đợc học hành, ốm
đau không có tiền chữa trị. Theo cách hiểu này hộ nghèo đói Việt Nam đợc
đánh giá nh sau: mức thu nhập của hộ nghèo ở thành thị là dới 70.000 VND/ng-
ời/tháng; hộ đói ở thành thị có thu nhập dới 50.000 VND/ngời/tháng, ở nông
thôn là dới 30.000 VND/ngời/tháng.
2. Các quan điểm về mối quan hệ giữa tăng trởng kinh tế và công bằng
xã hội
2.1. Quan điểm của SimomKuznets.
SimomKuznets là nhà kinh tế học ngời Mỹ. Năm 1971, trong tác phẩm
sự tăng trởng kinh tế của các nớc, ông đã đa ra lý thuyết phát triển cân bằng.
Theo ông, phát triển là một quá trình cân bằng trong đó các nớc tiến lên một b-
ớc vững chắc. Trong tác phẩm này, Kuznets cũng chú ý tới mối quan hệ giữa
tông sản phẩm quốc dân bình quân đàu ngời và sự bất bình đẳng trong phân
phối thu nhập. Dựa vào số liệu thu thập đợc ở các nớc có mức thu nhập cao,

động sẽ trở nên đắt hơn, do vậy, các chủ xí nghiệp công nghiệp phải trả tiền
công cao hơn mới đủ sức lôi kéo lao động từnông nghiệp sang công nghiệp.
Quan điểm trên của A. Lewis có thể đi đến kết luận: thời gian đầu của
quá trình tăng trởng thì bất đẳng tăng lên vì quy mô sản xuất của nông nghiệp
ngày càng mở rộng làm cho lao động từ nông nghiệp chuyển sang công nghiệp
ngày càng tăng, nhng tiền công của công nhân nói chung vẫn ở mức tối thiểu
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nhng thu nhập của các nhà t bản tăng lên do mở rộng quy mô sản xuất. Vì thế
trong giai đoạn này, đại bộ phận những ngời lao động nghèo khổ, chỉ có một số
ít các nhà t bản trở nên giàu có. Nhng sang giai đoạn sau của quá trình tăng tr-
ởng bất bình đẳng giảm bớt vì khi lao động d thừa đã đợc hút hết vào khu vực
công nghiệp thì lao động trở thành một yếu tố khan hiếm của sản xuất. Khi đó
nhu cầu lao động tăng lên đòi hỏi tiền lơng cũng phải tăng lên và sự tăng lên
này dẫn đến sự giảm bớt bất bình đẳng.
Nh vậy, theo Lewis, tăng trởng diễn ra trớc, bình đẳng diễn ra sau, chỉ
trên cơ sở tăng trởng mới dẫn đến làm giảm bớt bất bình đẳng xã hội. Song sự
bất bình đẳng không chỉ là kết quả của sự tăng trởng mà còn là điều kiện cần
thiết của tăng trởng. Trong sự bất bình đẳng đó, những ngời có thu nhập cao sẽ
giành một phần đáng kể thu nhập của mình cho tích luỹ, dẫn đến tăng đầu t, từ
đó thúc đảy phát triển kinh tế nhanh hơn. Vì vậy, các cố gắng để phân phối lại
thu nhập một cách vội vã không đúng lúc sẽ dẫn đến nguy cơ bóp nghẹt sự tăng
trởng kinh tế.
2.3. Quan điểm của Harry Oshima.
H.oshima là nhà kinh tế học Nhật Bản, dựa vào những luận điểm của
Ricardo về mối quan hệ giữa khu vực nông nghiệp và công nghiệp, ông đã đi
sâu nghiên cứu mối quan hệ này trong điều kiện một nền nông nghiệp lúa nớc
có tính thời vụ cao. Trong tác phẩm Tăng trởng kinh tế ở Châu á gió mùa,
H.oshima đã đa ra một mô hình tăng trởng mới gắn liền với giải quyết vấn đề
công bằng xã hội.

ơng thực vẫn tiếp tục tăng.
Khi các ngành công nghiệp phát triển, có thể tìm dợc thị trờng xuất khẩu
mạnh mẽ, sẽ tăng sứt hút lao động mạnh hơn nữa. Điều này dẫn đến cầu về lao
động vợt quá cung về lao động. Do đó, ở nông thôn đạt đến mức đủ việc làm,
tiền công cũng tăng lên, nh vậy, theo H.Oshima, tăng trởng kinh tế sẽ kéo theo
vấn đề công bằng xã hội. Và khi công bằng xã hội đạt đến mức độ nào đó lại là
tiền đề thúc đẩy tăng trởng kinh tế hơn nữa.
2.4. Quan điểm của Đảng và Nhà nớc Việt Nam về giải quyết mối quan
giữa tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội.
Qua 10 năm đổi mới, nền kinh tế đã vợt qua đợc giai đoạn khủng hoảng,
bớc đầu đi vào giai đoạn phát triển, có vị trí xứng đáng trong khu vực và trên
thế giới.
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Trong giai đoạn này, Đảng ta từng bớc xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa
tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội. Đảng ta coi việc giải quyết này là một
trong những nội dung cơ bản đảm bảo tính định hớng xã hội chủ nghĩa trong
quá trình phát triển. Đaih hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng chỉ rõ
tăng trởng kinh tế phải luôn gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội. Công
bằng xã hội không chỉ đợc thực hiện trong phân phối kết quả sản xuất, mà còn
đợc thực hiện ở khâu phân phối t liệu sản xuất, ở việc tạo ra những điều kiện
giúp mọi ngời phát huy tốt năng lực của mình.
Về phân phối thu nhập chính sách của Đảng ta là:
- Phân phối theo kết quả lao động là hình thức phân phối chủ yếu trong
điều kiện hiện nay của nớc ta. Thực hiện theo hình thức này sẽ gắn đợc kết quả
ngời lao động với lợi ích ngời lao động, có nh vậy mới thúc đẩy, kích thích họ
làm việc với năng suất cao.
- Để giảm bớt sự bất bình đẳng, bên cạnh phân phối theo kết quả lao
động là chủ yếu, Đảng ta coi trọng hình thức phân phối phân phối dựa trên
mức đóng góp của các nguồn lực khác vào kết quả sản xuất kinh doanh. Các

- Trong một nớc cũng có tình trạng một bộ phận dân c giàu có và
một boọ phận dân c nghèo đói hơn.
- Bản thân những nhóm dân c nghèo đói cũng phân thành nhiều
loại: mpptj bộ phận không đủ ăn gọi là đói, một bộ phận theo nghĩa là không có
đủ điều kiện để thoả mãn các nhu cầu cơ bản của họ. ở nớc ta chia nghèo đói
thành nghèo đói tuyệt đối, thiếu đói và đói day gắt
1.2. Bản chất:
Nghèo đói không đơn giản là có ít tiền. Đó có thể là sự cách biêth oá về
văn hoá xã hội, nó có thể là thiếu thông tin liên lạc, kinh nghiệm ứng xử trong
các tình huống khó khăn. Nghèo đói cũng có thể là khả năng bị tổn thơng rất
cao, tới mức sự khủng khoảng về sức khoẻ, hay một vụ mùa bị thất bại có thể
dẫn tới việc bán tài sản và rơi vào nợ nần. Đó cũng có thể là việc tác động đến
những quyết định có ảnh hởng đến đời sống của mình. Nghèo đói cũng có nghĩa
là bị yếu thế ngay trong hộ gia đình của mình.
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1.3. Đặc trng của hộ gia đình nghèo.
- Là nông dân có trình độ văn hoá tơng đối thấp, các hộ gia đình có nhiều
con, ít có điều kiện sử dụng các cơ sở hạ tầng của xã hội, các hộ hông có hoặc
có rất ít đất đai canh tác.
- Nghèo đói là một hiện tợng phổ biến ở nông thôn Việt Nam, khoảng
hơn 90% ngời nghèo sống ở nông thôn. tỷ lệ nghèo ở nông thôn (45%) cao hơn
ở thành thị (10-15%) tuỳ thuộc vào ớc tính về tỉ lệ nghèo của số ngời nhập c
không đăng ký.
- Nghèo đói rõ ràng là trầm trọng hơn là ở các vùng miềm núi ở phía Bắc
và Tây Nguyên.
Mặc dù chính phủ đã đầu t và hôc trợ tích cực nhng một số cộng đồng
dân tộc thiểu số vẫn gặp những bất lợi riêng và những bất lợi này ngày càng
trầm trọng do sự cô lập về văn hoá và địa lý.
2. Sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội.

tiêu tăng trởng nhanh thì hiện tợng này diễn ra với tốc độ mạnh hơn.
- Thực trạng phân hoá giàu nghèo:
+ Trong thời kỳ đế quốc phong kiến: ngoài những nguyên nhân khách
quan về năng lực sản xuất kinh doanh của mỗi hộ, điều kiện đất đai khí hậu, sự
phân hóa giàu nghèo còn bị thúc đẩy bởi chế độ chính trị kinh tế xã hội. Nó đi
liền với bất công, hộ giàu bốc lột họ nghèo, ngời có quyền lực bóc lột dân đen.
+ Trong thời kỳ bao cấp: Thu nhập đợc phân phối theo tiêu chuẩn, theo
mức bình quân chung, vì thế phân hoá giàu nghèo có nhng không rõ rệt và
không cao.
+ Trong thời kỳ đổi mới: Kinh tế với bớc phát triển mạnh vợt bậc và toàn
diện. Cùng với tăng trởng kinh tế và tăng nhanh thu nhập tốc độ phân hoá giàu
nghèo cũng diễn ra nhanh hơn. Một bộ phận nhanh nhạy với thời đại trở nên
giàu có hơn, bộ phận khác không theo kịp với sự biến đổi trở nên tụt hậu, nghèo
hơn. Xoá đói giảm nghèo là vấn đề xã hội búc xúc ở nớc ta.
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
3. Tiếp cận với vấn đề đói nghèo ở Việt Nam ta hiện nay.
3.1. Một số đặc điểm cơ bản cả tình trạng đói nghèo ở Việt Nam ta hiện nay.
- Phần lớn tập trung ở nông thôn nhất là miền núi, vùng sâu vùng xa,
trong đó có 1715 xã đặc biệt khó khăn và thờng rơi vào nhóm hộ gia đình thuần
nông, độc canh lúa và tự cung tự cấp.
- Đói nghèo do hậu quả trực tiếp, thờng xuyên của thiên tai, mất mùa,
hậu quả do chiến tranh để lại, môi trờng bị phá hoại nặng nề, các điều kiện địa
lý bất lợi (kinh tế thị trờng ở đó cha phát triển), điều kiện cơ sở hạ tầng kém
phát triển.
- Mặc dù số hộ đó nghèo ở Việt Nam vẫn còn lớn nhng về cơ bản vẫn
có t liệu sản xuất (trớc hết là ruộng, công cụ sản xuất). Đó là điều iện cực kỳ
quan trọng để thực hiện chơng trình quốc gia xoá đói giảm nghèo.
- Đờng lối đổi mới, cùng với truyền thống tốt đẹp lá lành đùm lá
rách tìm nghĩa hàng xóm đậm đà là những điều kiện thuận lợi cơ bản để giải

gạo/ngừời/tháng (tơng đơng 70.000 đồng).
+ Hộ nghèo ở thành thị thu nhập bình quân 25 kg gạo/ngừời/tháng (tơng
đơng 90.000 đồng).
Thời kỳ 2001-2005:
+ Nông thôn, miền núi, hải đảo: thu nhập 80.000 đồng/ngời/tháng.
+ Nông thôn, đồng bằng 100.000 đồng/ngời/tháng.
Những hộ có thu nhập bình quân đầu ngời dới mức quy định trên là hộ
nghèo.
Các thành phố có điều kiện, có thể nâng mức chuẩn hộ nghèo lên tới ba
điều kiện:
14
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Thứ nhất: thu nhập bình quân đầu ngời của tỉnh, thành phố cao hơn thu
nhập bình quân của cả nớc.
Thứ hai: Tỷ lệ nghèo của tỉnh, thành phố đó thấp hơn mức chuẩn nghèo
của cả nớc.
Thứ ba: Có đủ nguồn lực hỗ trợ cho ngời nghèo, hộ nghèo.
Ngân hàng thế giới công bố: Năm 1993: Chuẩn nghèo chung là 1160363
đồng/ngời/năm. Chuẩn nghèo LTTP là 749723 đồng/ngời/năm.
Thời kỳ 1996-2000:
Chuẩn nghèo chung: 1789817 đồng/ngời/năm hay 149000 đồng/ng-
ời/tháng.
Chuẩn nghèo theo LTTP 128633 đồng/ngời/năm hay 107200 đồng/ng-
ời/tháng.
Chơng ii: thực trạng xoá đói giảm nghèo ở
Việt Nam.
I- Thực trạng đói nghèo ở Việt Nam.
1. Việt Nam đợc xếp vàp nhóm các nớc nghèo của thế giới.
Tỷ lệ đói nghèo của Việt Nam còn khá cao. Theo kết quả điều tra mức
sống sân c (theo tiêu chuẩn chung của quốc tê), tỷ lệ đói nghèo năm 1998 là

xã, 20% số xã cha có chợ hoặc cụm xã. Bên cạnh đó, do điều kiện thiên nhiên
không thuận lợi, số ngời trong diện cứu trợ đột xuất khá cao, khoảng 1- 1,5 triệu
ngời. Bình quân hàng năm số hộ tái đói nghèo trong tổng số hộ thoát khỏi đói
nghèo vẫn còn lớn.
4. Đói nghèo tập trung trong khu vực nông thôn.
Nghèo đói là hiện tợng phổ biến trong nông thôn với hơn 90% số ngời
nghèo đói sinh sống ở nông thôn. Năm 1999 tỷ lệ nghèo đói về lơng thực thực
phẩm ở thành thị là 4,6%, nông thôn là 15,9%. Trên 80% số ngời nghèo là nông
dân trình độ tay nghề thấp, ít khả năng tiếp cận các nguồn lực trông sản xuất,
thị trờng tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn do điều kiện địa lý và chất lợng
16

Trích đoạn Phơng hớng chung của Đảng Một số giải pháp trong thời gian tới
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status