Tổ chức công tác kế toán tại công ty xây lắp phát triển bưu điện trong điều kiện cổ phần hóa - Pdf 30

PHẦN MỘT: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
I. Khái niệm và nguyên tắc tổ chức công tác kế toán :
1. Khái niệm về tổ chức công tác kế toán:
Tổ chức công tác kế toán là một trong những nội dung quan trọng trong tổ chức công
tác quản lý ở doanh nghiệp. Với chức năng cung cấp thông tin và kiểm tra các hoạt động
kinh tế- tài chính, do đó công tác kế toán ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của công tác
quản lý, đồng thời nó còn ảnh hưởng đến việc đáp ứng các yêu cầu khác nhau của các đối
tượng trực tiếp và gián tiếp.
2. Nguyên tắc tổ chức công tác kế toán: để tổ chức công tác kế toán khoa họa và
hợp lý thì việc tổ chức công tác kế toán phải thực hiện theo các nguyên tắc cơ bản sau:
a. Tổ chức công tác kế toán phải đúng với những qui định trong điều lệ tổ
chức kế toán Nhà nước, trong chế độ thể lệ do Nhà nước ban hành và phù hợp với các
chính sách, chế độ quản lý kinh tế tài chính của Nhà nước trong từng thời kỳ.
Kế toán là một công cụ quan trọng để tính toán, xây dựng và kiểm tra việc chấp hành
ngân sách của Nhà Nước đối với tất cả các doanh nghiệp , để điều hành và quản lý nền kinh
tế quốc dân. Vì vậy tổ chức công tác kế toán phải theo những qui định chung, đó là những
qui định về nội dung công tác kế toán, qui định về tổ chức chỉ đạo công tác kế toán.
Các qui định này được ban hành thống nhất trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, do
đó các doanh nghiệp tuỳ thuộc vào điều kiện, đặc điểm kinh doanh của mình mà tổ chức
công tác kế toán một cách phù hợp với những qui định chung của Nhà Nước. Đồng thời
để đảm bảo cho việc tổ chức công tác kế toán không vi phạm những nguyên tắc, chế độ
qui định của Nhà Nước và thực hiện các chức năng của kế toán, góp phần tăng cường
quản lý kinh tế tài chính, thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát của Nhà Nước đối với các
doanh nghiệp thì yêu cầu các doanh nghiệp phải tổ chức công tác kế toán phải phù hợp
với chính sách, chế độ quản lý kinh tế của Nhà Nước trong từng thời kỳ.
b. Tổ chức công tác kế toán phải phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất kinh
doanh, tổ chức quản lý của doanh nghiệp.
Mỗi một doanh nghiệp đều có những đặc điểm, điều kiện riêng của mình, do đó mỗi một
doanh nghiệp đều có mô hình công tác kế toán riêng và không có mô hình chung nào cho
tất cả các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp muốn tổ chức tốt công tác kế toán của mình
thì phải dựa vào các điều kiện sẵn có của mình, đó là qui mô của doanh nghiệp, tính chất

Bộ
phận
tài
chính
Kế toán trưởng
trưởng
Các nhân viên kinh tế ở các
đơn vị phụ thuộc
Bộ
phận
kế
toán
tiền
lươn
g và
bhxh
Giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị khác nhau về đối tượng sử dụng thông tin,
đặc điểm thông tin, phạm vi thông tin...đồng thời giữa chúng cũng có những điểm giống
nhau như đều dựa trên cùng một cơ sở hạch toán ban đầu, đều thu thập, xử lý thông tin kinh
tế của doanh nghiệp. Vì thế khi tổ chức công tác kế toán cần phải kết hợp kế toán tài chính
và kế toán quản trị để cho hai loại kế toán cùng phát huy tác dụng một cách tốt nhất.
II. Nội dung tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp cổ phần qui mô
nhỏ( không có cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán).
1. Xác lập mô hình tổ chức kế toán :
Mô hình tổ chức kế toán là quan hệ về phân phối công tác kế toán giữa các cấp
quản lý dựa trên cơ sở quy hoạch thông tin cho từng cấp của một tổ chức. Từ những
quan hệ về phân phối công tác kế toán này bộ máy kế toán được hình thành tương ứng
để thực hiện khối lượng công tác kế toán ở mỗi cấp.
Để xác lập mô hình tổ chức kế toán cần dựa vào một số căn cứ như: quy mô, thời điểm
sản xuất kinh doanh, địa bàn bố trí các đơn vị cơ sở, trình độ của quản lý ở các đơn vị

lương và
BHXH
Bộ
phận
kế
toán ..
......
Nhân viên kế toán ở các
đơn vị phụ thuộc không
có tổ chức kế toán riêng
Bộ
phận
kế
toán
vật

hàng
hoá
Kế
toán
nguồn
vốn và
các
quỹ
Kế
toán
tổng
hợp

kiểm

kế toán
tiền
lương và
BHXH
Bộ
phận
kế
toán ..
......
Nhân viên kế toán ở các
đơn vị phụ thuộc không
có tổ chức kế toán riêng
Bộ
phận
kế
toán
vật

hàng
hoá
Bộ
phận
kế toán
TSCĐ
và đầu
tư dài
hạn
Bộ
phận
kế toán

trưởng
Các nhân viên kinh tế ở các
đơn vị phụ thuộc
Bộ
phận
kế
toán
tiền
lươn
g và
bhxh
Bộ
phận
kế
toán .
..
Tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán:
Sơ đồ khái quát mô hình bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán như sau:
Với mô hình này trong doanh nghiệp vừa có những đơn vị có tổ chức kế toán riêng, và
cũng có những đơn vị không có tổ chức kế toán riêng. Đối với những đơn vị được phân bố
4
Kế Toán Trưởng
Bộ
phận
kế toán
vật tư
hàng
hoá
Bộ
phận

Kế
toán
TSCĐ
Kế toán
tiền
lương

BHXH
Kế toán
CPSX ,
tính giá
thành
Kế toán
bán hàng,
kết quả
kinh doanh
Kế
toán
tổng
hợp
Kế
toán
vật tư
hàng
hoá
xa văn phòng doanh nghiệp sẽ tổ chức kế toán riêng, tổ chức hạch toán nghiệp vụ phát sinh
tại đơn vị mình, định kỳ gửi báo cáo về phòng kế toán doanh nghiệp. Đối với những đơn vị
qui mô nhỏ hoặc ở gần doanh nghiệp thì không cần tổ chức kế toán riêng, chỉ làm nhiện vụ
hạch toán ban đầu, thu thập ,xử lý, phân loại chứng từ, lập các báo cáo gửi về phòng kế
toán của doanh nghiệp. Phòng kế toán có nhiệm vụ hạch toán các nghiệp vụ phát sinh tại

lai thu tiền. Bảng kê vàng bạc đá quý, bảng kiểm kê quỹ.
• Chứng từ kế toán về TSCĐ:đối với phần hành TSCĐ để có thể quản lý tình
hình thay đổi nguyên giá, giá trịhao mòn của TSCĐ cũng như quyền sử dụng và sở hữu
chúng thì chúng ta có các chứng từ sau biên bản giao nhận TSCĐ, thẻ TSCĐ, biên bản thanh
lý TSCĐ, biên bản giao nhận TSCĐ sửa chữa lớn hoàn thành, biên bản đánh giá lại TSCĐ.
5
Không phải mọi doanh nghiệp đều phải sử dụng tất cả các loại chứng từ nêu trên, mà
các doanh nghiệp tuỳ thuộc vào điều kiện của đơn vị mình mà sửa đổi, bổ sung chứng từ để
áp dụng cho phù hợp.
Ngoài ra đối với các doanh nghiệp cổ phần hóa qui mô nhỏ (không niêm yết cổ
phần trên thị trường chứng khoán) thì tuân thủ theo hệ thống chứng từ như trên đồng thời
còn bổ sung thêm hai mẫu chứng từ đó là: bảng kê mua lại cổ phiếu và bảng kê bán cổ
phiếu.
+Với bảng kê mua lại cổ phiếu được các đơn vị dùng để phản ánh các giá trị cổ phiếu
mà các công ty cổ phần này mua lại chính cổ phiếu do công ty mình phát hành. Cổ phiếu
mua lại này có thể được tái phát hành ra thị trường, chia cổ tức cho cổ đông hoặc huỷ bỏ.
Bảng kê này được lập theo mẫu số 01-CK Ban hành theo quyết định 144/2001/QĐ- BTC
ngày 21/12/2001 (đính kèm phụ lục1).
+Doanh nghiệp sử dùng bảng kê bán cổ phiếu để phản ánh giá trị của các loại cổ
phiếu được phát hành ra thị trường trong cả hai trường hợp là phát hành lần đầu và tái
phát hành ra thị trường. Doanh nghiệp lập bảng kê bán cổ phiếu theo mẫu số 02- CK ban
hành theo quyết định số 144/2001/QĐ-BTC ngày 21/12/2001( theo mẫu phụ lục 2).
- Hệ thống chứng từ: hệ thống chứng từ kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp vừa và
nhỏ cũng như doanh nghiệp cổ phần qui mô nhỏ thì có hai hệ thống:
• Hệ thống chứng từ kế toán bắt buộc: đó là những chứng từ kế toán được Nhà Nước
qui định thống nhất trên toán quốc về qui cách, mẫu biểu, chỉ tiêu phản ánh và
phương pháp lập. Doanh nghiệp phải áp dụng đúng theo các qui định trên.
• Hệ thống chứng từ kế toán hướng dẫn: đối với hệ thống này thì các chứng từ chủ yếu
là những chứng từ sử dụng trong nội bộ doanh nghiệp. Đối với loại này thì Nhà Nước
chỉ hướng dẫn các chỉ tiêu chủ yếu và các doanh nghiệp tuỳ thuộc vào đặc điểm của

từng trường hợp cụ thể mà người ta xây dựng nên các tờ sổ theo mẫu nhất định, nhằm phản
ánh các số liệu đã được ghi chép trên chứng từ, và những tờ sổ đó được gọi là sổ kế toán.
Sổ kế toán chia làm hai loại:
- Sổ kế toán tổng hợp: là loại sổ ghi chép tổng hợp các số liệu về một đối tượng nào đó,
bao gồm các sổ như sau:
+ Sổ ghi chép theo trình tự thời gian: là các sổ dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát
sinh theo trình tự thời gian đồng thời có kết hợp quan hệ đối ứng các TK của các nghiệp vụ
đó như sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, sổ nhật ký.
+Sổ ghi chép theo nội dung kinh tế như Sổ cái.
+Sổ ghi chép kết hợp cả ghi chép theo trình tự thời gian và nội dung kinh tế như Nhật ký Sổ
cái.
- Sổ kế toán chi tiết: dùng để theo dõi ghi chép các đối tượng kế toán cần phải theo dõi
chi tiết để thuận tiện cho việc quản lý. Số liệu ghi trên các sổ, thẻ kế toán chi tiết cung cấp
thông tin trong việc phục vụ cho công tác quản lý và hệ thống hoá từng loại tài sản, công
nợ cũng như nguồn vốn.
Riêng đối với các doanh nghiệp cổ phần hoá thì có bổ sung thêm 03 sổ kế toán chi tiết sau:
- Sô chi tiết cổ phiếu mua lại: sổ này dùng tại các công ty cổ phần với mục đích để
theo dõi và quản lý toàn bộ số cổ phiếu mua lại của công ty từ khi công ty bắt đầu
mua lại cho đến khi tái phát hành thị trường hoặc là huỷ bỏ. Sổ này được lập theo
quyết định số 144/2001-QĐ-BTC với mẫu số S26-SKT/DNN có đính kèm theo phụ
lục 3.
- Sổ chi tiết nguồn vốn kinh doanh: với sổ này công ty dùng trong việc theo dõi các
khoản chênh lệch trong việc tái phát hành cổ phiếu, các khoản giảm trừ do việc
huỷ bỏ cổ phiếu mua lại, các khoản chênh lệch giữa giá mua thực tế của cổ phiếu
mua lại với giá trị của nó tại ngày trả cổ tức. Mẫu của sổ chi tiết này được lập theo
mẫu số S27/SKT/DNN theo quyết định số 144/2001/QĐ-BTC đính kèm theo phụ
lục 3.
- Sổ chi tiết phát hành cổ phiếu: dùng trong việc theo dõi chi tiết việc phát hành cổ
phiếu tại Công Ty, mẫu sổ này áp dụng theo mẫu số S28-SKT/DNN.
7

Sổ cái
Báo cáo kế toán
: ghi định kỳ.
: đối chiếu.
 Trình tự ghi sổ: Hàng ngày căn cứ vào chứng từ gốc kế toán tiến hành phân loại để lập
chứng từ-ghi sổ hoặc sau khi phân loại thì tiến hành vào bảng tổng hợp chứng từ gốc rồi
mới lập chứng từ- ghi sổ. Ngoài ra các chứng từ gốc liên quan tói đến các đối tượng cần
hạch toánd chi tiết thì kế toán vào sổ, thẻ kế toán chi tiết. Sau khi đã lập chứng từ- ghi sổ
kế toán tiến hành ghi vào sổ đăng kí chứng từ-ghi sổ. Chứng từ- ghi sổ chỉ sau khiđã ghi
vào sổ đăng kỳ chứng từ- ghi sổ mới được sử dụng để ghi vào Sổ cái. Cuối kỳ căn cứ
vào số liệu ở các sổ thẻ kế toán chi tiết kế toán tiến hành lập bảng tổng hợp chi tiết, đồng
thời căn cứ vào Sổ cái lập bảng cân đối số phát sinh. Đối chiếu số liệu trên bảng tổng hợp
chi tiết với một số TK liên quan trên bảng cân đối số phát sinh đồng thời đối chiếu số tổng
cộng trên sổ đănng ký chứng từ-ghi sổ với số tổng cộng phát sinh trên bảng cân đối số
phát sinh. Sau đó từ bảng cân đối số phát sinh và bảng tổng hợp chi tiết lập các báo cáo tài
chính.
• Hình thức kế toán Nhật ký chung: Là hình thức phản ánh tất cả các nghiệp vụ kinh tế
vào Sổ Nhật ký chung theo trình tự thời gian.
 Trình tự ghi sổ:
Hàng ngày, căn cứ vào các chứng từ gốc kế toán phản ánh vào sổ Nhật ký chung hoặc
nhật ký đặc biệt, đồng thời những nghiệp vụ liên quan đến đối tượng cần hạch toán chi
tiết thì ghi vào sổ thẻ kế toán chi tiết có liên quan. Định kỳ từ sổ nhật ký chung hoặc
nhật ký đặc biệt ghi vào các nghiệp vụ kinh tế vào Sổ cái. Cuối kỳ căn cứ vào số liệu
phản ánh ở các Sổ cái kế toán tiến hành lập bảng cân đối TK và căn cứ vào các sổ thẻ kế
toán chi tiết lập các bảng tổng hợp chi tiết. Đối chiếu bảng tổng hợp chi tiết với bảng cân
đối TK. Sau khi khớp số liệu giữa bảng cân đối TK với các bảng tổng hợp chi tiết kế
toán tiến hành lập các báo cáo tài chính.
 Sơ đồ luân chuyển tổng hợp như sau:
9
Chứng từ gốc

• Báo cáo quản trị: các báo cáo này thường phục vụ cho nội bộ doanh nghiệp. Để xây
dựng được các báo cáo này thì đòi hỏi kế toán trưởng phải xây dựng các chỉ tiêu,
phương pháp lập thích hợp với điều kiện của doanh nghiệp mình và phù hợp với yêu
cầu cung cấp thông tin cho quản trị doanh nghiệp.
Các báo cáo phải được lập một cách trung thực, khách quan, toàn diện kịp thời.
b) Xét theo đối tượng hạch toán: công tác kế toán được chia thành các phần
hành kế toán , mỗi phần hành kế toán gắn với 1 hoặc một số đối tượng nhất định
như doanh thu, chi phí... tổ chức công tác kế toán theo từng đối tượng hạch toán
dựa vào các căn cứ như: đặc điểm của đối tượng hạch toán, quy mô tính chất
phát sinh nghiệp vụ và yêu cầu quản lý đối tượng.
Tổ chức công tác kế toán xem xét theo 2 giác độ như trên có mối quan hệ với nhau
chặt chẽ, trên cơ sở xác lập cácphần hành kế toán, kế toán các phần hánh căn cứ
vào đặc điểm, yêu cầu quản lý, các chế độ kế toán liên quan để tổ chức hạch toán theo
các giai đoạn hạch toán ở mỗi phần hành cho thuận lợi.
3. Tổ chức bộ máy kế toán :
Tổ chức bộ máy kế toán là xác định số lượng cũng như trình độ của nhân viên kế
toán để có cơ sở phân công bố trí công việc của từng người và xác định trách nhiệm,
quyến hạn cũng như mối quan hệ giữa các thành viên trong bộ máy kế toán.
Để có thể tổ chức được bộ máy kế toán phùhợp với đơn vị mình thìkt trưởng
trước khi xây dựng nênbộ máy kế toán cần phải dựa vào mô hình tổ chức kế toán đã
xáclập để phân phối chức năng và khối lượng côngtác kế toán phùhợp vớicác cấp trong
đơn vị. Trongđó cần phảiquiđịnh rỏ chức năng, nhiệm vụ của từng thànhviên, trong mỗi
cấp kế toán thường bao gồm các thành viên như: kế toán trưởng- người trực tiếp điều
hành cáchoạt động của đơn vị, kế toán tổng hợp có nhiệm vụ hạch toán tổng hợp các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh, hạch toán các bút toán kết chuyển và lập báo cáo kế toán.
Các kế toán viên chịu trách nhiệm hạch toán các đối tượngđược giao phó.
Mối liên hệ chỉ đạo giữa kế toán trưởng với kế toán thành viên thường được tổ chức theo
một trong ba phương thức sau:
- Phương thức trực tuyến: kế toán trưởng trực tiếp điều hành các kế toán viên mà
không qua một khâu trung gian nào.

PHẦN HAI: TÌNH HÌNH TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN HIỆN NAY TẠI
CÔNG TY XÂY LẮP PHÁT- TRIỂN BƯU ĐIỆN ĐÀ NẴNG
A. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY XÂY LẮP- PHÁT TRIỂN BƯU
ĐIỆN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
1. Lịch sử ra đời và phát triển của Công Xây Lắp-Phát
triển Bưu Điện Đà Nẵng.
1. Quá trình hình thành:
Cùng với sự chuyển hướng từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự
quản lý của Nhà Nước, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu trên khắp các lĩnh vực, trong
đó bao gồm cả ngành thông tin liên lạc. Trong công cuộc đổi mới như hiện nay với sự phát
triển ngày càng cao của nền kinh tế thì thông tin liên lạc của ngành Bưu Điện đang trở
thành nhu cầu không thể thiếu trong công việc quản lý cũng như phục vụ tốt hơn cho các cơ
quan, đoàn thể, chính quyền , các nhà kinh doanh thương mại và toàn thể nhân dân.
Trong tình hình nền kinh tế phát triễn ở nước ta hiện nay thì hệ thống thông tin liên
lạc vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của phát triển kinh tế. Hệ thống thông tin liên lạc vẫn
chưa thoả mãn được nhu cầu cấp thiết của người dân. Và để đáp ứng nhu cầu đó ngày
17/12/1996 tổng Công Ty BCVT Việt Nam ra quyết định số 1901/QĐ-TCCB thành lập
nên Công ty Xây Lắp -Phát triển Bưu Điện Đà Nẵng, hoạt động chuyên nghành xây lắp
các công trình bưu chính viễn thông, kinh doanh vật tư thiết bị đầu cuối, hạch toán phụ
thuộc Bưu Điện thành phố Đà Nẵng.
2. Quá trình phát triển
Tuy mới ra đời, đội ngũ lao động còn non trẻ lại gặp nhiều khó khăn về trang thiết
bị, nhưng Công Ty đã cố gắng khắc phục và hoàn thành các công việc do Bưu Điện
thành phố giao cho và luôn hoàn thành vượt kế hoạch với chỉ tiêu được giao. Điều này
được thể hiện qua các chỉ tiêu sau:
Năm Doanh thu % tăng DTHU Vượt chỉ tiêu so với kh
2000
2001
2002
8.560.230.540

Hiện nay tại Công Ty có hai Phó Giám đốc:
+ Phó Giám Đốc kỹ thuật: được Giám đốc giao cho trách nhiệm về công tác kiểm tra,
giám sát kỹ thuật. Đồng thời hướng dẫn chỉ đạo cho các phòng ban chức năng, phân tích
và áp dụng các tiến bộ khoa học tiên tiến phục vụ cho Công Ty. Quản lý trực tiếp các
công trình đầu tư xây dựng cơ bản, các công trình thiết bị viễn thông.
+ Phó Giám Đốc kinh doanh: có trách nhiệm theo dõi các hoạt động kinh doanh của
Công Ty, quản lý công tác chất lượng nghiệp vụ. Chịu trách nhiệm trước Giám Đốc về
công việc được giao.
• Phòng kế toán: dưới sự chỉ đạo của kế toán trưởng thực hiện các chức năng sau:
14
Phòng kế
toán
Ban Giám Đốc
Đội cáp
ngoại vi
Bộ phận văn
phòng( hành chính, bảo
vệ tạp vụ....)
Đội xây dựng
Đội xây lắp
thiết bị
Kế toán tổng
hợp kiêm kế
toán công nợ
kiêm kế toán
nhân hàng
Kế
toán
vật


II. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại Công ty Xây Lắp Phát triển Bưu
Điện
1. Tổ chức bộ máy kế toán:
Khi đã bắt đầu bước vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì buộc các doanh nghiệp
phải có bộ máy kế toán để tổ chứ c hạch toán và quản lý đối với các hoạt động kinh tế
xảy ra trong doanh nghiệp nhằm cung cấp số liệu một cách kịp thời cho các cấp lãnh
đạo, cho ban giám đốc trong việc xây dựng các chiến lược kinh doanh của doanh
nghiệp. Kế toán tại Công Ty được tổ chức theo hình thức kế toán tập trung nhằm đáp
ứng nhu cầu nhanh chóng, kịp thời của số liệu kế toán.
15
Kế toán tổng
hợp kiêm kế
toán công nợ
kiêm kế toán
nhân hàng
Kế
toán
vật

a. Sơ đồ bộ máy:
Theo hình thức kế toán tập trung thì mọi công việc kế toán phát sinh tại Công Ty đều
tập trung ở phòng kế toáncủa Công Ty. Sơ đồ tổ chức như sau:
Giải thích : : Mối quan hệ trực tuyến.
: Mối quan hệ đối chiếu.
b. Chức năng, nhiệm vụ của các kế toán phần hành :
• Kế toán trưởng: là người nắm vững mọi chế độ chính sách liên quan đến công tác hạch
toán của đơn vị, giám sát điều hành và phân công giao nhiệm vụ cụ thể cho từng nhân viên.
• Kế toán tổng hợp kiêm kế toán công nợ kiêm kế toán ngân hàng: hàng ngày tiến hành
kiểm tra đối chiếu sổ sách, xác định công nợ cùng với số dư của tk cuối kỳ lập báo
cáo kế toán.

thanh
toán
Thủ
quỹ
Kế toán tiền
lương và
các khoản
trích theo
lương

Chú thích:
Ghi hàng ngày
Ghi định kỳ
Quan hệ đối chiếu
Trình tự ghi chép như sau:
• Hằng ngày căn cứ vào các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trên chứng từ gốc, sau khi kiểm
tra tính hợp pháp, chính xác của chứng từ kế toán các phần hành tiến hành nhập vào máy
theo chương trình định sẵn đồng thời các nghiệp vụ có liên quan đến các đối tượng cần
hạch toán chi tiết thì kế toán tiến hành định khoản vào các sổ thẻ kế toán chi tiết. Từ máy
tính vào bảng kê chứng từ ghi sổ, cuối ngày căn cứ số liệu trên bảng kê tiến hành ghi vào
Sổ cái, đồng thời căn cứ trên các sổ thẻ kế toán chi tiết ghi lập bảng tổng hợp chi tiết. Định
kỳ đối chiếu số liệu trên các Sổ cái với bảng tổng hợp chi tiết các TK có liên quan, sau đó
tiến hành lập bảng cân đối TK và các báo cáo kế toán.
II. TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
1. Tổ chức công tác kế toán cho phần hành sản xuất
a) Tổ chức chứng từ kế toán:tại Công Ty một số chứng từ bắt buộc phải luôn có đối
với phần hành sản xuất như phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, đâylà các chứng từ dùng làm
căn cứ để xác nhận số lượng nhập xuất trong kỳ, các chứng từ này do kế toán vật tư lập,
ngoài ra để quản lý vật tư di chuyển trong nội bộ đơn vị thì kế toán vật tư tiến hành lập
phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ. Riêng căn cứ để xác định chi phí nhân công

+ Chi phí nguyên vật liệu được mở theo mã số 02 bao gồm: vật liệu dùng cho sản xuất
sản phẩm ,khai thác(mã số 02.01), vật liệu dùng cho sửa chữa tài sản(mã số 02.02),
nhiên liệu động lực(mã số 02.03),
+ chi phí dụng cụ sản xuất được mở theo mã 03
+chi phí khấu hao TSCĐ mở theo mã 04
+ mã 07 được mở cho khoản mục chi phí dịch vụ mua ngoài như là điện nước mua ngoài
được phản ánh ở ma07. 02, vận chuyển bốc dở thuê ngoài phản ánh ở mã07. 03, chi phí
mua bảo hiểm phản ánh tại mã 07.07, dịch vụ thuê ngoài khác với ma07. 08.
+ Mã 08 được dùng để mở cho khoản mục chi phí khác bằng tiền như bảo hộ lao động
phản ánh tại mã 08.01, các khoản khánh tiết, đối ngoại được thể hiện tại mã 08.03, bổ
túc đào tạo được phản ánh tại mã số 08.04 và các khoản băng tiền khác được phản ánh ở
mã 08.08
- sổ sách kế toán: hàng ngày khi có yêu cầu về vật tư của các đội, kế toán vật tư tiến
hành lập phiếu xuất kho, hoặc khi nhận được các hoá đơn mua nguyên vật liệu, các
hoá đơn mua ngoài khác, hoặc bảng chấm công từ các đội gởi lên, thi kế toán
XDCB tiến hành kiểm tra và ghi vào Sổ cái TK 15482 với mã tương ứng các khoản
mục chi phí, và các chứng từ gốc đó liên quan đến công trình nào thì kế toán tiền
hành vào bảng liệt kê chi tiết công trình cho từng công trình đó. Dưới đây là bảng
kiệt kê chi tiết của các công trình đã hoàn thành và chưa hoàn thành
LIỆT KÊ CHI TIẾT CÔNG TRÌNH
Từ ngày 10/10/2003 đến ngày 31/12/2003
Công trình sửa chữa tuyến cáp khu Bình AN- Hoà Cường
Mã công trình: CAP 174
18

Trích đoạn Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán cho phần hành tiêu thụ và thuế: Tổ chức công tác kế toán cho phần hành theo dõi cổ phiếu và nguồn vốn:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status