NGÔN NGỮ CỦA GIỚI TRẺ VIỆT NAM THẾ HỆ
8X,9X,10X HIỆN NAY GIẢI PHÁP VÀ THỰC TRẠNG
NTH : Nhóm5
Lớp :VB2 K38 4.1
GVHD :Th.S Lý Minh Tiên
MỤC LỤC
1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang dần hòa nhịp cùng với sự phát triển của thế giới. Bên cạnh sự hòa nhập về
kinh tế thì sự giao thoa về ngôn ngữ là không thể tránh khỏi. Ngôn ngữ @ xuất hiện từ khi có sự
bùng nổi của internet đồng thời với sự thay đổi của xã hội, từ khi đất nước đổi mới. Dòng thông
tin ồ ạt tràn vào Việt Nam và giới trẻ là tầng lớp tiếp thu và thích ứng nhanh nhạy nhất. Đối
tượng sử dụng chủ yếu là giới trẻ thuộc thế hệ sinh những năm 1980, 1990 và 2000 (còn được
gọi là thế hệ 8X, 9X, 10X). Họ học tập, sáng tạo, áp dụng và tạo ra cái riêng để thể hiện mình.
Hiện nay kiểu sử dụng ngôn ngữ @ là xuất hiện rộng khắp ở hầu hết các diễn đàn, nhật kí trực
tuyến (blog), trang mạng xã hội và nhất là ở tán gẫu qua mạng hay tin nhắn điện thoại.Ngôn ngữ
@ đang được sử dụng ngày càng rầm rộ trong giao tiếp, nó xa lạ với tiếng phổ thông, chẳng
giống một ngôn ngữ nào bao gồm những ký hiệu phức tạp xen lẫn ngoại ngữ và biến tướng một
cách sai chính tả. Mối nguy hại lớn là ngôn ngữ này đang lan nhanh vào nhà trường âm thầm
nhưng mạnh mẽ, gây tác động tiêu cựu tới bộ phận lớp trẻ ngày nay. Tuy nhiên đây là một hiện
tượng bình thường trong xã hội, nó là một quy luật tự nhiên. Bản thân người nghiên cứu đang sử
dụng kiểu giao tiếp này để tiết kiệm thời gian mà vẫn truyền đạt đúng nội dung, cảm xúc và thể
hiện nét đặc trưng của bản thân với người mình tiếp xúc. Có thể thấy, bên cạnh những hạn chế thì
ngôn ngữ @ cũng mang lại nhiều lợi ích nên việc loại bỏ ngôn ngữ này là không nên và cũng
không thể. Vậy tại sao chúng ta không dung hòa nó, biến nó thành công cụ hữu ích trong giao
tiếp. Chính vì vậy, đề tài này ra đời với mục đích nghiên cứu ngôn ngữ @, giúp mọi người có cái
nhìn đúng đắn hơn. Chắc hẳn trong quá trình nghiên cứu còn nhiều thiếu sót, mong thầy cô và
các bạn góp ý để bài nghiên cứu hoàn thiện hơn.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Như tên đề tài đã nêu, mục đích nghiên cứu ở đây là tác động của ngôn ngữ @ tới tiếng
Việt. Để thực hiện mục đích ấy, bài nghiên cứu sẽ giải quyết các vấn đề sau. Thứ nhất, bạn đọc sẽ
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, người nghiên cứu đã sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu.
Đây là đề tài còn khá mới nên việc tham khảo ý kiến và tìm tài liệu còn khó khăn nhất là từ
những tài liệu chính thống, được phát hành trên cả nước như sách hay các tạp chí khoa học. Vì
thế, người nghiên cứu chủ yếu thu thập tài liệu từ thông tin đại chúng. Ngoài ra, trong quá trình
nghiên cứu, các phương pháp phân loại tài liệu, phân tích và tổng hợp đều được sử dụng.
2 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Khái niệm ngôn ngữ
Trước hết, ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội, không phải hiện tượng tự nhiên hay hiện
tượng cá nhân. Trong cuốn Hệ tư tưởng Đức, Mác và Ăng-ghen đã viết “… Ngôn ngữ là ý thức
thực tại, thực tiễn, ngôn ngữ cũng tồn tại cho cả những người khác nữa, như vậy là cũng tồn tài
lần đầu tiên cho bản thân tôi nữa; và, cũng như ý thức, ngôn ngữ chỉ sinh ra do nhu cầu, do cần
thiết phải giao dịch với người khác
1
”. Do đó, ngôn ngữ là hiện tượng tồn tại và phát triển theo
quy luật khách quan, không phục thuộc vào ý chí, nguyện vọng của mỗi cá nhân. Trong quá trình
phát triển, ngôn ngữ luôn luôn tiếp thu các yếu tố mới (từ mới, nghĩa mới) để phong phú, hoàn
thiện thêm. Ngoài ra, ngôn ngữ còn là một hiện tượng xã hội đặc biệt. Ngoài chức năng phục vụ
1
xã hội, ngôn ngữ còn làm phương tiện giao tiếp giữa mọi người, làm phương tiện trao đổi ý kiến
trong xã hội, làm phương tiện giúp con người hiểu biết lẫn nhau trên mọi lĩnh vực trong xã hội.
Thứ hai, ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của con người. Chính ngôn
ngữ mà con người có thể hiếu nhau trong quá trình sinh hoạt và lao động, mà người ta có thể
diễn đạt và làm cho người khác hiểu được tư tưởng, tình cảm, trạng thái và nguyện vọng của
mình. Trong tất cả các phương tiện mà con người sử dụng để giao tiếp thì ngôn ngữ là phương
tiện duy nhất thoả mãn được tất cả các nhu cầu của con người. Sở dĩ ngôn ngữ trở thành một
công cụ giao tiếp vạn năng của con người vì nó hành trình cùng con người, từ lúc con người xuất
hiện cho đến tận ngày nay. Phương tiện giao tiếp ấy được bổ sung và hoàn thiện dần theo lịch sử
tiến hoá của nhân loại, theo những trào lưu và xu hướng tiếp xúc văn hoá có từ cổ xưa đến tận
ngày nay. Ngày nay, hầu như không còn ngôn ngữ nào là chưa có ảnh hưởng của nền văn hoá
thực chất là ngôn ngữ mạng, thường được giới trẻ sử dụng trong các cuộc trò chuyện trên mang,
diễn đàn, blog.
Qua phân tích và tổng hợp thông tin, người nghiên cứu rút ra có 4 xu hướng biến đổi như
sau:
2.2.1 Phép cộng
Giới trẻ sử dụng phép cộng bằng cách thêm vào trong từ những chữ cái để tạo ra âm mới.
Ví dụ như từ vui nay được “viết” thành “vít”, hay “thôi” được viết là “thoai”, “dzìa” là “về”.
Ngoài ra các biểu tượng cảm xúc cũng là một dạng của xu hướng này được các bạn trẻ rất
thích dùng, chẳng hạn (vui), (buồn), =.= (mệt mỏi), >!< (cau có), v.v.v
Tiếng Việt trong ngôn ngữ @ còn bị Tây hóa do các bạn trẻ thích sử dụng tiếng nước
ngoài xen kẽ vào tiếng Việt nhưng k theo nguyên tắc ngữ pháp nào. Ví dụ: Maybe tối nay tớ sẽ
go out, nếu cậu cũng ok thì nhớ phone lại cho mình nhé; tớ check mail rồi send cho cậu ngay.
Hơn nữa còn một thể loại tiếng Anh dịch từ theo từ (word by word) đang được ưa chuộng như
“no star where (không sao đâu), no table (miễn bàn), lemon question (chanh hỏi = chảnh), ugly
tiger (xấu hổ), no have spend (không có chi), like is afternoon (thích thì chiều), v.v.v.
2.2.2 Phép trừ
Phép trừ là cách hiểu ngược lại của phép cộng, có xu hướng biến tướng thay đổi tiếng
Việt kiểu như gần âm cùng nghĩa, chẳng hạn như: “biết” bị biến đổi thành “bít”, “buồn” biến
thành “bùn”, “luôn” thành “lun”.
2.2.3 Phép thay thế
Đây là một phương pháp khá thông dụng, tuy không bằng hai phương pháp trên. Phép
này có hai dạng: phép thay thế bộ phận là cách mà giới trẻ thay chữ này bằng chữ khác trong một
từ như “bé” được viết là “pé”, “qua” – “wa”, “thôi” – “thui”. Phép thay thế toàn bộ là cách thay
hẳn từ này bằng một từ khác, ví dụ như “không” hiện nay được dùng là “hem” hay “gì” được
viết là “j”, v.v.v
2.2.4 Mã hóa
Mã hoá là kiểu viết với số ghép cạnh những con chữ. Ví dụ: các bạn trẻ hay viết "G92U"
thay vì "Good night to you", hay "9wk" thay cho "nice weekends"
Không dừng lại ở đó, với tâm lý luôn thích sự mới lạ, họ vừa cho ra đời một bảng chữ cái
mới, qua sự kết hợp nhiều ký hiệu khác nhau để tạo nên một cách viết với hình tượng tương đối
bl, ml, tl…
2.3.4 Tiếng Việt thời kỳ Pháp thuộc
Giai đoạn này ước chừng kéo dài từ cuối thế kỉ 15 (đầu thế kỉ 16) cho đến đầu thế kỉ 19.
Đây là thời kì, về cơ bản, tiếng Việt đã hình thành nên các vùng phương ngữ như đã có như hiện
nay theo hướng tiếng Việt từng bước tiến dần về phương Nam theo con đường phát triển của dân
tộc. Giai đoạn này là giai đoạn bắt đầu có sự tiếp xúc giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ châu Âu,
mà trước hết là tiếng Tây Ban Nha, sau đó là tiếng Pháp và đến các ngôn ngữ châu Âu khác.
Dưới thời Pháp thuộc, ngôn ngữ hành chính, ngoại giao, giáo dục lúc này là tiếng Pháp
nhưng tiếng Việt vẫn không ngừng tự khẳng định mình. Tiếng Việt ngày càng tỏ rõ tính năng
động và tiềm năng phát triển dồi dào. Đồng thời, giai đoạn này cũng là một giai đoạn quan trọng
của lịch sử phát triển tiếng Việt với 2 điểm đáng chú ý sau: Thứ nhất, tiếng Việt lại bắt đầu có
một đợt tiếp xúc mới và đợt tiếp xúc này góp phần làm phong phú tiếng Việt ở cả khía cạnh từ
vựng và đặc biệt là khía cạnh ngữ pháp. Và, tiếng Việt đã trở thành một ngôn ngữ mà chữ viết
của nó theo hệ Latin chứ không phải chữ khối vuông hay chữ Sanskrit.Thứ hai, Tiếng Việt với tư
cách là ngôn ngữ toàn dân đã vươn lên giữ vai trò là một ngôn ngữ văn học bác học, và thậm chí
đã có thời kì nó giữ vai trò là ngôn ngữ hành chính của nhà nước. Đây cũng là thời kì mà văn học
chữ Nôm phát triển mạnh nhất, trong một chừng mực nào đó nó còn phát triển hơn cả văn học
chữ Hán.
2.3.5 Tiếng Việt từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay
Từ giai đoạn trung đại chuyển sang giai đoạn hiện đại, tiếng Việt phát triển theo xu
hướng từng bước hoàn thiện mình để cung cấp một phương tiếp giao tiếp hoàn chỉnh cho toàn xã
hội. Từ những năm cuối thế kỉ 19 đến nửa đầu thế kỉ 20, do tiếp xúc với các ngôn ngữ châu Âu,
ngữ pháp tiếng Việt trước đây đã có sự biến đổi. Sự phát triển ngoạn mục của tiếng Việt ở giai
đoạn này là sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, do được nhà nước công nhận như là một
ngôn ngữ chính thức nên tiếng Việt đã trở thành một ngôn ngữ không chỉ là ngôn ngữ văn hoá,
ngôn ngữ toàn dân mà còn là ngôn ngữ chính thức của giáo dục và khoa học và sau đó là ngôn
ngữ của chính trị. Đặc biệt, vào thời điểm hiện nay, tiếng Việt đã thoả mãn sự phát triển của xã
hội bằng việc cung cấp một cách đầy đủ các hệ thống thuật ngữ khoa học. Và, với dấu hiệu này,
chúng ta có quyền nói rằng vào giai đoạn phát triển hiện đại, tiếng Việt đã hoàn thiện sự phát
triển của mình.
tiếng Việt bởi xã hội ngày một phát triển hòa vào xu hướng toàn cầu hóa nên xảy ra sự va cham-
giao thoa văn hóa trong đó có ngôn ngữ kéo theo đó là hàng loạt các sự vật, hiện tượng cần được
gọi tên. Trên đây là các nguyên nhân khách quan, là quy luật tự nhiên nên không ai có thể phá vỡ
nổi, không có đạo luật nghiêm nào có thể ngăn chặn, can thiêp được.
Còn về mặt chủ quan thì giới trẻ muốn tìm sự khác biệt, mới lạ. Họ muốn khẳng định
mình trước người lớn, để người lớn phải tôn trọng hoặc không muốn người lớn biết nội dung trao
đổi.Bên cạnh đó, ngày nay cái tôi trong mỗi bạn trẻ trở nên lớn hơn, họ muốn dùng ngôn ngữ @
để tạo nên đặc trưng của bản thân, trở nên cá tính hơn so với bạn bè. Tư duy cần phải tạo nên sự
khác biệt đã ăn sâu vào giới trẻ hiện nay nên họ thả sức ngày càng tạo ra một ngôn ngữ không
giống ngôn ngữ nào trên thế giới.
3.2 Kết quả
Hiện nay, ngôn ngữ @ là niềm say mê của giới trẻ. Họ đang ra sức sáng tạo không ngừng
thứ ngôn ngữ trẻ này và càng ngày càng có nhiều biến thể mới mà những ai “lạc hậu” sẽ không
thể theo kịp. Từ chỗ thu gọn, viết tắt đến mức tối thiểu, cho đến cố làm dài ngoằng một từ nào
đó rồi viết hoa không theo quy luật, tất cả đều là ngôn ngữ @. Ngôn ngữ @ vừa có mặt tích cực
đồng thời tồn tại mặt tiêu cực đối với con người và xã hội.
Xu hướng toàn cầu hóa dẫn đến nhịp sống gấp gáp hay còn gọi đơn giản là sống nhanh.
Nhịp “sống nhanh” phát sinh những vấn đề: ăn nhanh, ngủ nhanh, làm việc nhanh, suy nghĩ
nhanh, nói nhanh … và một trong những vấn đề đáng lưu ý là viết cũng nhanh. Từ đó, ngôn ngữ
@ ra đời, con người trao đổi được nhiều thông tin khi thời gian được tận dụng tới mức tối đa.
Hơn nữa, đây là một loại hình ngôn ngữ trẻ trung, lôi cuốn, sinh động, không khô khan cứng
nhắc, thể hiện cảm xúc khi giao tiếp qua các ký tự, biểu tượng ngỗ nghĩnh. Đối với các bạn trẻ,
ngôn ngữ này là phương tiện trao đổi thông tin có tính bảo mật cao vì phụ huynh không hiểu.
Tuy nhiên, ngôn ngữ @ ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế, gây ảnh hưởng tiêu cực tới các
bạn trẻ đang sử dụng. Khi mà lớp trẻ và cư dân mạng hiện nay đang sử dụng tiếng Việt một cách
tùy tiện, tràn lan những từ lai ghép nhiều khi vô nghĩa và khó hiểu. Đáng lo hơn nữa khi ngôn
ngữ ấy đã thâm nhập vào trong nhà trường, được học sinh dùng một cách thản nhiên ngay trong
chính các bài viết của mình. Nhiều bạn học sinh chưa ý thức được rõ về loại ngôn ngữ này nên
lam dụng nó ngoài môi trường tin nhắn và internet như giao tiếp hàng ngày với người lớn, làm
bài tập, bài thi ở trường lớp. Một phụ huynh chia sẻ với báo Thanh Niên rằng con gái mình đang
vẫn là quan trọng nhất. Bản thân gia đình cũng phải có ý thức rèn con cái từ lời nói đến hành vi.
Bố mẹ cũng phải nêu gương cho con cái. Các bậc phụ huynh nên trò chuyện cùng con em mình
như những người bạn để hiểu được tâm tư nguyện vọng của giới trẻ hiện nay, và đưa ra những
lời khuyên một cách thiết thực nhất.
Việc sử dụng ngôn ngữ tùy tiện này ảnh hưởng rất lớn đến sự trong sáng, phong phú của
tiếng Việt. Cụ thể theo ThS. Hà Trần Thùy Dương (giáo viên Trường Đại Học Huế) cho rằng
“Việc quá lạm dụng vào ngôn ngữ chat khiến khả năng tư duy của giới trẻ bằng tiếng Việt ngày
càng hạn chế vì các em không còn ý thức trau dồi vốn từ tiếng Việt sao cho phong phú, diễn đạt
thật trôi chảy, chính xác nữa”. Giáo dục cho học sinh ngôn ngữ văn hóa là một trong những điều
quan trọng mà nhà trường cần phải đẩy mạnh để chống sự thay đổi dị thường trong ngôn ngữ.
Theo ThS. Trương Thị Luyện (giáo viên Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nam): “Trách nhiệm của
nhà trường trong vấn đề giáo dục văn hóa ngôn ngữ cho học sinh vô cùng quan trọng. Điều này
thể hiện rõ ở chương trình, nội dung giảng dạy. Để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, tránh
cho học sinh sa đà vào lối sử dụng kiểu ngôn ngữ khó hiểu như hiện tại thì nhà trường không chỉ
đẩy mạnh phong trào nâng cao chất lượng dạy và học mà còn phải có những hoạt động mang
tính đặc thù về ngôn ngữ nhằm khuyến khích học sinh tham gia, hình thành các em thói quen sử
dụng ngôn ngữ lành mạnh, chuẩn mực”. Cần xây dựng phong trào giữ gìn sự trong sáng tiếng
Việt để học sinh hiểu và thực hiện theo. Việc giáo dục cần được bắt nguồn từ thực tế, những câu
chuyện, tình huống thật xảy ra trong cuộc sống, làm sao để các em hiểu thế nào là con người văn
minh, lịch lãm, về điều này thì giáo dục của chúng ta lại chưa làm được. Nhà trường và đoàn
thanh niên cần định hướng cho học sinh - sinh viên hiểu những giá trị tốt đẹp của ngôn ngữ mẹ
đẻ để nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Bên cạnh đó,
nhà trường phải chú ý rèn học sinh về ngôn ngữ, nói đúng, viết đúng chuẩn tiếng Việt, trong đó
có viết đúng chính tả. TS. Tùng Lâm chia sẻ kinh nghiệm: “Trước tiên, chúng ta phải giáo dục để
các em hiểu rõ đâu là chuẩn mực ngôn ngữ, chứ không nên lầm lẫn khi biến phương tiện làm
việc thành phương tiện giao tiếp. Lời nói lệch chuẩn có thể dẫn đến tư duy, hành vi lệch lạc. Vì
thế, việc làm méo mó ngôn ngữ tiếng Việt cần phải được lên án”.
Liên quan đến vấn đề sách giáo khoa, TS. Trần Thị Ngọc Lang (Viện Phát triển bền vững
vùng Nam bộ) đề xuất ý kiến biên soạn thêm cho học sinh từng vùng miền hệ thống bài tập thích
hợp để sửa lỗi chính tả mà học sinh vùng đó hay mắc. Sách giáo khoa hiện hành được soạn để
tạo từ vựng cũng như du nhập các từ mới để làm phong phú thêm ngôn ngữ giao tiếp trên cộng
đồng mạng. Cho nên không nên vội lo lắng, phiền lòng khi thấy giới trẻ ngày nay sử dụng quá
nhiều những từ ngữ, cách biểu hiện ngôn ngữ mới, lạ tai, khó hiểu…
Tuy nhiên, cũng cần phải có sựkiểm soát nhất định và tăng cường các hình thức giáo dục
để giới trẻ không quên rằng sản phẩm này đơn giản là một cuộc chơi và chỉ nên có ở thế giới ảo.
Nó hoàn toàn vô nghĩa nếu dùng nó trong văn bản chính thống, trong giao tiếp, thông tin với
những đối tượng khác (không phải là giới trẻ). Có như thế tiếng Việt mới không trở thành một
tập hợp tùy tiện, thiếu cấu trúc, thiếu logic.
5 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Dẫn luận Ngôn ngữ học, 2007, NXB. Giáo dục.
2) Mác, Ăngghen, Lenin bàn về ngôn ngữ, NXB Sự thật, Hà Nội, 1962.
3) Ngôn ngữ thời @: chấp nhận đến đâu? Báo điện tử Dân trí
http://dantri.com.vn/c25/s25-474312/ngon-ngu-thoi chap-nhan-den-dau.htm
4) Bản chất và chức năng của ngôn ngữ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến. Cơ sở ngôn ngữ
học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H., 1997, trang 8–20, http://ngonngu.net/index.php?p=214
5) Các giai đoạn phát triển của tiếng Việt, theo ngonngu.net
6) Ngôn ngữ chat hay nhu cầu đổi mới tiếng Việt, Hoàng Sơn,
http://viettinnhanh.net/News/Giaoduc/Chinhsach/2011/08/1568/-Ngon-ngu-chat-hay-nhu-cau-
doi-moi-Tieng-Viet aspx
7) Báo động sự biến dạng của tiếng Việt, D.Bình và M.Tâm, http://giaoduc.edu.vn/news/van-de-su-
kien-665/bao-dong-su-bien-dang-cua-tieng-viet-145226.aspx
8) Giải mã ngôn ngữ @ của tuổi teen, Hồng Hạnh, báo Dân trí http://dantri.com.vn/c25/s135-
458516/giai-ma-ngon-ngu cua-tuoi-teen.htm
9) Làm đẹp thêm dòng sông ngôn ngữ, Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội, GS. TS. Đinh Văn Đức
http://news.vnu.edu.vn/btdhqghn/Vietnamese/C1177/2011/01/N29812/?1
10) Ngôn ngữ chat có trở thành ngôn ngữ chính thống của tiếng Việt, Thu Trang, Xã hội thông tin,
http://xahoithongtin.com.vn/20110511041617322p0c119/ngon-ngu-chat-co-tro-thanh-ngon-ngu-
chinh-thong-cua-tieng-viet.htm
11) Đừng hốt hoảng với ngôn ngữ tuổi teen, Việt Phương, Dân trí,
http://www.tin247.com/dung_hot_hoang_voi_ngon_ngu_tuoi_%E2%80%9Cteen%E2%80%9D-