Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước trong những năm vừa
qua dang tạo ra thế và lực mới cho nền kinh tế nước ta, giúp chúng ta bước
vào một thời kỳ mới theo hướng hội nhập và phát triển. Ngày nay một nền
kinh tế được coi là phát triển không thể nằm ngoài sự phát triển của nền
kinh tế khu vực và thế giới. Xác định rõ định hướng phát triển đó, nhằm
đưa đất nước tiến thêm một bước hoà nhập với sự phát triển chung của thời
đại, Đảng và nhà nước ta chủ trương thực hiện chính sách: Đẩy mạnh giao
lưu hàng hoá, khuyến khích hoạt động xuất - nhập khẩu, mà đặc biệt chú
trọng đến hiệu quả của hoạt động nhập khẩu, mở rộng quan hệ hợp tác với
nhiều nước trên thế giới, tiến tới gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế, các
khối mậu dịch tự do.
Với một nền kinh tế dang phát triển như nước ta hiện nay, việc tiếp thu
những tiến bộ khoa học - kỹ thuật công nghệ của các nước phát triển đóng
vai trò quan trọng trong việc đẩy nhanh tốc đọ phát triển kinh tế, đặc biệt
trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá ( CNH-HĐH) đất nước hoạt
động xuất nhập khẩu không những thúc đẩy sự phát triển của kinh tế trong
nước mà còn góp phần giải quyết những vấn đề nổi cộm hiện nay như: việc
làm, công nghệ, hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả sử dụng nguồn tài
nguyên...
Vì thế cho đến nay, hoạt động xuất nhập khẩu ở nước ta đang diễn ra
khá sôi động. Các doanh nghiệp ngày càng năng động trong việc tìm kiếm
nguồn hàng, thị trường nhằm mục đích vừa đáp ứng nhu cầu trong nước,
vừa nâng cao hiệu quả hoạt động của mình. Tuy nhiên, để hoạt động kinh
doanh xuất nhập khẩu có hiệu quả không thể không kể đến vai trò quan
trọng của công tác hạch toán kế toán. Nó là công cụ đắc lực trong công tác
quản lý, cung cấp thông tin một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời phục vụ
trong quá trình sản xuất kinh doanh, giúp các nhà quản lý nắm được tình
hình tài chính thực tại của đơn vị mình để có những phương hướng kinh
doanh nhằm đạt hiệu quả tốt nhất.
Thứ nhất, về đối tượng kinh doanh thương mại, hoạt động kinh doanh
thương mại rất phong phú về đối tượng kinh doanh. Nó bao gốm tất cả các
hàng hoá đang lưu thông trên thị trường của nhiều ngành khác nhau như :
nông-lâm-thuỷ sản, lương thực-thực phẩm, công nghệ phẩm, máy móc thiết
bị, hàng tiêu dùng, điện máy, điện tử, thủ công mỹ nghệ ... Nói chung, đối
tương kinh doanh thương mại là tất cả các hàng hoá mua về với mục đích
bán ra.
Thứ hai, về phương thức mua bán, thường bao gồm hai phương thức chủ
yếu là bán buôn và bán lẻ. Trong đó, bán buôn là bán cho các đơn vị sản
xuất kinh doanh khác để tiếp tục lưu chuyển hàng hoá , còn bán lẻ là bán
trực tiếp cho người tiêu dùng, chấm dứt quá trình lưu chuyển hàng hoá.
Thứ ba, về phạm vi kinh doanh, hàng hoá kinh doanh thương mại được
lưu chuyển trong phạm vi quốc gia và giữa các quốc gia trên thế giới với
nhau. Đó là hai hoạt động kinh doanh nội thương và ngoại thương. Kinh
doanh nội thương là hoạt động mà đơn vị kinh doanh mua bán hàng hoá
ngay trong phạm vi một nước, phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa. Kinh
doanh ngoại thương là đơn vị kinh doanh tiến hành hoạt động xuất nhập
khẩu với các nước trên thế giới. Hiện nay, các đơn vị kinh doanh chủ yếu
tiến hành xuất khẩu những mặt hàng thuộc thế mạnh như : lương thực, cà
phê, may mặc, thủ công mỹ nghệ... đồng thời nhập khẩu những mặt hàng
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
thiết yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước mà những mặt hàng này
trong nước còn khan hiếm hoặc chưa sản xuất được : máy móc thiết bị, đồ
gia dụng...
Thứ tư, về tổ chức kinh doanh , có thể nói quá trình lưu chuyển hàng hoá
do nhiều ngành đảm nhận như: nội thương, ngoại thương, các đơn vị kinh
doanh lương thực-thực phẩm, kinh doanh dược phẩm...Các đơn vị này có
thể tiến hành bán buôn hoặc bán lẻ, chuyên doanh hoặc kinh doanh nhiều
thế giới phát triển theo một thể thống nhất.
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Kinh doanh xuất khẩu và nhập khẩu là hai nhân tố cơ bản cấu thành nên
hoạt động ngoại thương. Cùng với xuất khẩu, hoạt động nhập khẩu được
coi là rất quan trọng trong lĩnh vực ngoại thương, và cũng là một trong
những ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế của những nước
đang phát triển như nước ta. Nói một cách cụ thể, hoạt động nhập khẩu là
việc mua các hàng hoá từ nước ngoài về tiêu thụ trong nước hoặc tái xuất
khẩu. Thực chất, hoạt động nhập khẩu là hoạt động mua hàng hoá được
thực hiện giữa thương nhân Việt Nam và các thương nhân nước ngoài.
Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, hoạt động nhập khẩu chiếm một vị
trí rất quan trọng. Nó tác động tích cực vào quá trình đổi mới công nghệ,
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Thực tế, sau hơn mười năm đổi
mới, bộ mặt kinh tế, xã hội, chính trị cũng như đời sống của nhân dân ta đã
tiến bộ rõ rệt. Nhập khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường tiêu thụ, đáp ứng
nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước. Không những thế hoạt động
nhập khẩu còn có vai trò kích thích sản xuất kinh doanh trong nước, tạo
môi trường cạnh tranh lành mạnh. Nhập khẩu có nghĩa là sự đổi mới thay
thế trang thiết bị, công nghệ sản xuất tạo nền móng vững chắc về cơ sở vật
chất kỹ thuật; nhập khẩu còn có tác động trực tiếp đến sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp , góp phần ổn định và phát triển sản xuất trong nước;
nhập khẩu có vai trò tích cực thúc đẩy hoạt động xuất khẩu. Tiến hành kinh
doanh nhập khẩu các doanh nghiệp sẽ thu được một khoản lợi nhuận đáng
kể. Hơn nữa, nhập khẩu là một phần không thể thiếu trong việc cân bằng
cán cân xuất-nhập khẩu .
1.2 Đặc điểm kinh doanh nhập khẩu hàng hoá .
Trong giai đoạn phát triển kinh tế nước ta hiện nay, chúng ta không thể
phủ nhận vai trò và tầm quan trọng của hoạt động nhập khẩu. Trước khi đi
thì mọi doanh nghiệp không phân biệt thành phần kinh tế,có đầy đủ các
điều kiện sau thì được cấp giấy phép kinh doanh xuất-nhập khẩu :
- Được thành lập theo Luật doanh nghiệp và cam kết tuân thủ các quy
định của pháp luật hiện hành.
- Doanh nghiệp muốn kinh doanh xuất-nhập khẩu, ký kết hợp đồng mua
bán với nước ngoài phải xin giấy phép kinh doanh xuất-nhập khẩu do Bộ
thương mại cấp.
- Các doanh nghiệp phải hoạt động theo đúng ngành hàng kinh doanh đã
đăng ký và có số vốn lưu động tối thiểu tương đương 200.000 USD. Các
doanh nghiệp thuộc các tỉnh miền núi và các tỉnh có khó khăn về kinh tế thì
số vốn lưu động tối thiểu tương đương 100.000 USD.
- Doanh nghiệp phải có đội ngũ các nhà kinh doanh có kiến thức về kinh
doanh quốc tế, luật pháp và tập quán buôn bán, am hiểu tình hình thị
trường trong và ngoài nước, có khả năng đàm phán, thương thuyết và ký
kết trong hợp đồng thương mại .
2. Các phương thức kinh doanh nhập khẩu :
Hiện nay ở nước ta, hoạt động nhập khẩu hàng hóa được thực hiện dựa
trên hai phương thức: phương thức nhập khẩu theo Nghị định thư và nhập
khẩu ngoài Nghị định thư.
Kinh doanh nhập khẩu theo Nghị định thư: là phương thức mà các
đơn vị có chức năng kinh doanh nhập khẩu trực tiếp thực hiện theo chỉ tiêu
pháp lệnh của Nhà nước giao cho. Chỉ tiêu này dựa trên những Nghị định
thư hoặc Hiệp định thư về trao đổi hàng hóa giữa hai nước, được ký kết
giữa Chính phủ ta với Chính phủ các nước khác. Các đơn vị kinh doanh
theo Nghị định thư có trách nhiệm thu mua hàng hóa ở nước ngoài về bán
trong nước theo đúng số lượng, chất lượng, chủng loại và thời gian đã ghi
trong hợp đồng. Đối với ngoại tệ thu được, đơn vị phải nộp vào quĩ tiền tệ
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Phương thức TTQT là điều kiện quan trọng bậc nhất trong các điều
kiện TTQT cũng như trong hoạt động kinh doanh ngoại thương. Nói đến
phương thức thanh toán tức là nói đến việc người bán dùng cách thức nào
để thu được tiền hàng bán ra và người mua dùng cách nào để trả tiền hàng
mua vào. Trong buôn bán, người ta có thể lựa chọn nhiều phương thức
thanh toán khác nhau để thu tiền về hoặc trả tiền nhưng xét cho cùng việc
lựa chọn phương thức nào cũng phải xuất phát từ yêu cầu của người bán
hàng là thu tiền nhanh, đầy đủ, đúng hạn và từ yêu cầu của người mua là
nhập hàng đúng số lượng, chất lượng và đúng hạn.
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Các phương thức TTQT dùng trong hoạt động ngoại thương bao
gồm:
4.1. Phương thức chuyển tiền ( Remittance ) :
Phương thức chuyển tiền là phương thức mà trong đó, khách hàng
( người trả tiền ) yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định
cho một người khác ( người hưởng lợi ) ở một địa điểm nhất định bằng
phương tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu. Các bên tham gia trong
phương thức thanh toán này bao gồm:
- Người trả tiền ( người mua, người mắc nợ ) hoặc người chuyển tiền
(người đầu tư, kiều bào chuyển tiền về nước, người chuyển kinh phí ra
nước ngoài ... ) là người yêu cầu ngân hàng chuyển tiền ra nước ngoài.
- Người hưởng lợi ( người chủ, chủ nợ, người bán, người tiếp nhận vốn
đầu tư ) hoặc người nào đó do người chuyển tiền chỉ định.
- Ngân hàng chuyển tiền là ngân hàng ở nước người chuyển tiền.
- Ngân hàng đại lý của ngân hàng chuyển tiền là ngân hàng ở nước
người hưởng lợi.
Các trường hợp áp dụng phương thức thanh toán chuyển tiền:
- Thanh toán tiền hàng nhập khẩu với nước ngoài ( không áp dụng trong
NgânNg (3a)
(3b) (2a) (4)
(1)
Giải thích sơ đồ:
(1)Giao dịch thương mại
(2)Viết đơn yêu cầu chuyển tiền bằng thư (M/T - mail transfer )
hoặc bằng điện (T/T - telegraphic transfer ) trong đó ghi rõ nội dung
theo quy định cùng với uỷ nhiệm chi ( nếu có tài khoản mở tại ngân
hàng )
(3)Chuyển tiền ra nước ngoài qua ngân hàng đại lý (3a) và gửi
giấy báo Nợ, giấy báo đã thanh toán cho người chuyển tiền (3b)
(4)Ngân hàng đại lý chuyển tiền cho người hưởng lợi và gửi giấy
báo Có cho người hưởng lợi.
4.2.Phương thức ghi sổ hay phương thức mở tài khoản ( Open
acount ) :
Theo phương thức này, người bán mở một tài khoản ( hoặc một quyển
sổ ) để ghi nợ cho người mua sau khi người bán đã hoàn thành giao hàng
hay dịch vụ. Định kỳ ( tháng, quý, nửa năm …), người mua trả tiền cho
người bán, phương thức thanh toán này có các đặc điểm sau:
- Đây là một phương thức thanh toán không có sự tham gia của các ngân
hàng với chức năng là mở tài khoản và thực thi thanh toán.
- Chỉ mở tài khoản đơn biên, không mở tài khoản song biên. Nếu người
mua mở tài khoản để ghi thì tài khoản ấy chỉ là tài khoản theo dõi, không
có giá trị thanh quyết toán giữa hai bên.
- Chỉ có 2 bên tham gia thanh toán: Người bán và người mua.
Việc thanh toán theo phương thức này có thể khái quát theo sơ đồ sau:
Sơ đồ trình tự tiến hành thanh toán theo phương thức ghi sổ
NgânNg (3)
8
- Người mua tức là người trả tiền.
Phương thức thanh toán nhờ thu gồm có các loại sau:
* Nhờ thu phiếu trơn (clean collection )
Nhờ thu phiếu trơn là phương thức thanh toán mà trong đó, người bán
uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền của người mua căn cứ vào hối phiếu do
mình lập ra, còn chứng từ hàng hoá thì gửi thẳng cho người mua không qua
ngân hàng. Phương thức thanh toán này có thể được biểu hiện qua sơ đồ
sau.
Sơ đồ trình tự theo phương thức nhờ thu phiếu trơn :
(2)
(4a)
(4a)
(1) (4b) (3b) (3a)
9
Ngân h ng phà ục vụ bên bán
Người bán Người mua
Ngân h ng à đại lý
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Gửi hàng và chứng nhận
Giải thích sơ đồ:
(1) Người bán sau khi gửi hàng và các chứng từ hàng hoá cho người
mua, lập một hối phiếu đòi tiền người mua và uỷ thác cho ngân hàng của
mình đòi tiền hộ.
(2) Ngân hàng phục vụ bên bán gửi thư uỷ nhiệm kèm hối phiếu cho ngân
hàng đại lý của mình ở nước người mua nhờ thu tiền.
(3) Ngân hàng đại lý yêu cầu người mua trả tiền hối phiếu (3a); người
mua trả tiền ngay hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu.
(4) Ngân hàng đại lý chuyển tiền thu được cho ngân hàng phục vụ người
bán (4a); Ngân hàng phục vụ người bán thanh toán tiền hàng cho người bán
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
(3) Ngân hàng đại lý yêu cầu người mua ( người xuất khẩu ) trả tiền
hoặc chấp nhận hối phiếu .
(4) Ngân hàng đại lý sẽ thu tiền ở người mua và trả cho người mua bộ
chứng từ để đi nhận hàng. Nếu chấp nhận hối phiếu thì người nhập khẩu
( người mua) sẽ chấp nhận được bộ chứng từ sau khi chấp nhận hối phiếu .
Bộ chứng từ thanh toán trong nhập khẩu bao gồm: Hoá đơn thương mại ,
vận đơn,giấy chứng nhận bảo hiểm, giấy chứng nhận chất lượng hàng hoá ,
giấy kê khai bao bì.
4.4. Phương thức thanh toán bằng thư tín dụng ( Letter of Credit-
L/C ) :
Thanh toán bằng thư tín dụng (L/C) là một sự thoả thuận mà trong đó,
một ngân hàng ( ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách
hàng( người mở thư tín dụng ) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người
khác ( người hưởng lợi về số tiền của thư tín dụng ) hoặc chấp nhận hối
phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất
trình cho ngân hàng bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định để
nhập khẩu trong thư tín dụng .
Các bên tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ gồm:
- Người xin mở thư tín dụng : là người mua , người nhập khẩu hàng
hoá .
- Ngân hàng mở thư tín dụng : là ngân hàng đại diện cho người nhập
khẩu , nó cấp tín dụng cho người nhập khẩu .
- Người hưởng lợi tín dụng: là người bán , người xuất khẩu hay bất cứ
người nào khác mà người hưởng lợi chỉ định.
- Ngân hàng thông báo thư tín dụng ở nước người hưởng lợi.
Phương thức thanh toán thư tín dụng được thể hiện qua sơ đồ sau.
Sơ đồ trình tự thanh toán bằng thư tín dụng .
(2)
(5)
(7) Ngân hàng mở thư tín dụng đòi tiền người nhập khẩu và chuyển bộ
chứng từ hàng hoá cho người nhập khẩu .
(8) Người nhập khẩu kiểm tra, nếu thấy phù hợp với thư tín dụng thì
hoàn trả tiền lại cho ngân hàng mở thư tín dụng , nếu không phù hợp thì có
quyền từ chối trả tiền.
5. Giá cả và tiền tệ trong kinh doanh nhập khẩu .
Trong thanh toán quốc tế, các bên phải sử dụng đơn vị tiền tệ của một
nước nào đó, vì vậy trong các hiệp định và hợp đồng đều có qua định điều
kiện tiền tệ dùng để thanh toán . Điều kiện tiền tệ cho biết việc sử dụng các
loại tiền nào để tính toán và thanh toán trong các hợp đồng ngoại thương,
đồng thời quy định cách xử lý khi giá trị đồng tiền đó biến động.
Tiền tệ tính toán là tiền tệ được dùng để xác định giá trị thanh toán
trong hợp đồng mua bán ngoại thương. Đồng tiền thanh toán thường là
những ngoại tệ chuyển đổi tự do. Việc sử dụng đồng tiền nào để thanh toán
hợp đồng mua bán ngoại thương phụ thuộc vào các yếu tố chủ yếu sau:
- Sự so sánh lực lượng hai bên mua bán.
- Vị trí của đồng tiền đó trên thị trường quốc tế
- Tập quán sử dụng đồng tiền thanh toán trên thế giới.
- Đồng tiền thanh toán thống nhất trong các khu vực kinh tế trên thế
giới.
Giá cả trong hợp đồng mua bán ngoại thương sẽ là điều kiện để xác định
địa điểm giao hàng trong hợp đồng. Điều kiện về địa điểm giao hàng chính
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
là sự phân chia trách nhiệm giữa người bán và người mua về các khoản chi
phí và về rủi ro, được quy định trong luật buôn bán quốc tế.
Đối với các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu của Việt nam hiện nay,
giá cả của hàng hoá trong hợp đồng nhập khẩu thường sử dụng các một số
loại giá sau:
vực kinh doanh có hiệu quả. Đồng thời, xác định thị trường, mặt hàng tiềm
năng phục vụ cho việc lập chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
Kế toán nhập khẩu là công cụ phục vụ cho quản lý, điều hành hoạt động
kinh doanh, đảm bảo cho công việc kinh doanh được thông suốt, là yếu tố
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
quan trọng để xác định hiệu quả kinh doanh, góp phần vào sự trường tồn và
phát triển của doanh nghiệp.
III. Hạch toán nghiệp vụ nhập khẩu hàng hoá .
1. Những yêu cầu chung về nhập khẩu hàng hoá .
1.1. Nội dung, phạm vi và thời điểm xác định hàng nhập khẩu.
Theo quy định, những hàng hoá sau được coi là hàng nhập khẩu :
- Hàng mua của nước ngoài dùng để phát triển kinh tế và thoả mãn nhu
cầu tín dụng trong nước theo hợp đồng mua bán ngoại thương .
- Hàng đưa vào Việt nam tham gia hội trợ, triển lãm, sau đó nước ta
mua lại và thanh toán bằng ngoại tệ.
- Hàng tại các khu chế xuất ( phần chia thu nhập của bên đối tác không
mang về nước ) bán tại thị trường Việt nam , thu ngoại tệ.
Những hàng hoá sau không được coi là hàng nhập khẩu :
- Hàng tạm nhập để tái xuất.
- Hàng tạm xuất, nay nhập về.
- Hàng viện trợ nhân đạo.
- Hàng đưa qua nước thứ ba ( quá cảnh).
Thời điểm ghi chép hàng nhập khẩu là thời điểm giao quyền sở hữu khi
mà người nhập khẩu nắm được quyền sở hữu về hàng hoá và mất quyền sở
hữu về tiền tệ hoặc có nghĩa vụ phải thanh toán tiền cho người xuất khẩu.
Thời điểm này phụ thuộc vào điều kiện giao hàng và chuyên chở.
1.2. Phương pháp xác định giá thực tế của hàng nhập khẩu .
Nếu hàng nhập khẩu thuộc đối tượng tính thuế GTGT , doanh nghiệp tính
đơn thương mại x
Tỷ giá thực
tế ngoại tệ
Thuế nhập khẩu được thực hiện theo luật thuế nhập khẩu và có biểu
thuế, thuế xuất quy định cho từng mặt hàng hoặc từng ngành hàng, trị giá
tính thuế được quy đổi ra tiền ngân hàng Việt nam theo trị giá thực tế trên
cơ sở giá CIF, nhưng trong từng khung thuế quy định. Nếu trị giá hàng hoá
tính theo giá CIF nhỏ hơn trị giá trong biểu thuế thì giá tính thuế được xác
14
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
định theo trị giá trong biểu thuế, nếu trị giá hàng hoá theo giá CIF lớn hơn
trị giá ghi trong biểu thuế thì giá tính thuế là giá CIF.
Thuế nhập
khẩu phải
nộp
=
Số lượng hàng hoá
nhập khẩu ghi trên
tờ khai hải quan
x
Giá tính thuế
của từng mặt
hàng
x
Thuế
suất
Chi phí trực tiếp phát sinh trong khâu nhập khẩu bao gồm : lệ phí thanh
toán , lệ phí chuyển ngân, lệ phí sửa đổi L/C, phí thuê kho, bến bãi, lưu
kho,...(Nếu nhập khẩu theo điều kiện FOB), phí vận tải ngoài nước , phí
hàng
nhập
khẩu
-
Giảm giá
hàng nhập
khẩu được
hưởng
+
Chi phí
trực tiếp
phát sinh
trong nhập
khẩu
Trong đó,
Thuế GTGT của
hàng nhập khẩu
=
Trị giá hàng nhập
khẩu theo gía CIF
+
Thuế nhập
khẩu phải
nộp
x
Thuế suất
thuế GTGT
Trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu những mặt hàng chịu thuế tiêu
thụ đặc biệt, trị giá hàng hoá nhập khẩu bao gồm cả số thuế thụ đặc biệt:
Trị giá
trong
nhập khẩu
Trong đó,
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Thuế TTĐB
của hàng
nhập khẩu
=
Trị giá hàng hoá
nhập khẩu theo giá
CIF
+
Thuế nhập
khẩu phải
nộp
x
Thuế suất
thuế TTĐB
2. Chứng từ dùng trong hạch toán nghiệp vụ nhập khẩu .
Chứng từ là những văn bản chứa đựng những thông tin (về hàng hoá,
vận tải, bảo hiểm...) dùng để chứng minh sự việc, làm cơ sở cho việc thanh
toán tiền hàng hoặc khiếu nại đòi bồi thường: Chứng từ bao gồm
2.1 Chứng từ hàng hoá:
Chứng từ hàng hoá có tác dụng nói rõ đặc điểm về giá trị chất lượng số
lượng của hàng hoá . Những chứng từ này ro người bán xuất trình và người
mua trả tiền khi nhận được chúng.
* Hoá đơn thương mại (Comercial): Là chứng từ cơ bản của khâu công
tác thanh toán. Nó là yêu cầu của người bán đòi hỏi người mua phải trả số
trong hoạt động nhập khẩu hàng hoá .Chứng từ bảo hiểm chủ yếu bao gồm
các loại sau:
- Đơn bảo hiểm ( Insurance Policy ) : Là chứng từ do tổ chức bảo hiểm
cấp, bao gồm những điều khoản chủ yếu của hợp đồng bảo hiểm và nhằm
hợp thức hoá hợp đồng này.
- Giấy chứng nhận bảo hiểm ( Insurance Certificate ): Là chứng từ do tổ
chức bảo hiểm cấp cho người được bảo hiểm để xác định một lô hàng nào
đó đã được bảo hiểm của một hợp đồng bảo hiểm dài hạn.
2.4 Chứng từ kho hàng.
Là những chứng từ do xí nghiệp kho hàng cấp cho người chủ hàng đã
nhận hàng để bảo quản và xác nhận quyền sở hữu đối với hàng hoá đó.
Chứng từ kho hàng bao gôm các loại chứng từ sau:
- Biên lai kho hàng (Warehouse ‘ S receipt) : Là chứng từ do xí nghiệp
kho hàng cấp để biên nhận đã lưu kho một số hàng hoá nhất định, trong
một thời hạn nhất định khi người chủ hàng đã trả một khoản tiền nhất định.
Hàng hoá sẽ được giao cho chủ hàng hoặc cho người chủ hàng chuyện
nhượng bằng cách ký hậu trên biên lai kho hàng .
- Chứng chỉ lưu kho ( Warrant): Gồm hai phần : Phần chứng nhận lưu
giữ hàng hoá .
2.5 Chứng từ hải quan :
Chứng từ hải quan là những chứng từ mà theo chế độ hải quan mà chủ
hàng phải xuất trình cho cơ quan hải quan khi hàng hoá ngang qua biên
giới quốc gia. Chứng từ hải quan bao gồm :
- Tờ khai hải quan (Entry , Custom’s declaration) : Là khai của chủ
hàng cho cơ quan hải quan để thực hiện thủ tục hải quan khi xuất khẩu
hoặc nhập khẩu .Tờ khai hải quan phải nộp cho cơ quan hải quan ngay sau
khi hàng đến cửa khẩu. Tờ khai hải quan phải được đính kem với giấy phép
xuất-nhập khẩu, bảng kê chi tiết hàng hoá, vận đơn (đối với hàng nhập
khẩu ).
- Giấy phép nhập khẩu ( Import Lience ): Giấy phép này do Bộ thương
+ Trị giá hàng hoá tồn kho cuối kỳ( theo phương pháp kê khai định
kỳ).
Bên có:
+ Trị giá xuất kho của hàng hoá bao gồm: xuất bán giao đại lý, xuất
chế biến, xuất góp liên doanh, xuất sử dụng ( theo phương pháp kê khai
thường xuyên).
+ Giảm giá mua hàng hoá được hưởng( Theo phương pháp kê khai
thường xuyên).
+ Tri giá hàng hoá thiếu hụt( theo phương pháp kê khai thường
xuyên).
+ Trị giá hàng hoá tồn kho đầu kỳ đã kết chuyển ( Theo phương pháp
Kê khai thường xuyên).
Số dư nợ: Trị giá hàng hoá tồn kho cuối kỳ.
*. Tài Khoản 1562: “ Chi phí mua hàng”
Bên Nợ: Chi phí mua hàng hoá thực tế phát sinh liên quan đến khối
lượng mua vào hàng hoá trong kỳ.
Bên có: Chi phí mua hàng hoá tiêu thụ trong kỳ.
Số dư bên nợ: Chi phí mua hàng hoá còn lại cuối kỳ
* Tài khoản 133_ “ Thuế GTGT được khấu trừ “ : Tài khoản này dùng
để phản ánh số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ , đã được khấu trừ và
còn được khấu trừ . Tài khoản này chỉ áp dụng cho đối tượng nộp thuế
GTGT theo phương pháp khấu trừ . Tài khoản này có hai tài khoản chi tiết:
18
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
+ Tài khoản 1331 : Thuế GTGT được khấu trừ của hàng hoá , dịch vụ.
+ Tài khoản 1332 : Thuế GTGT được khấu trừ của TSCĐ.
* Tài khoản 3331 _ “ Thuế GTGT phải nộp” : Tài khoản này dùng để
phản ánh số thuế GTGT đầu ra được khấu trừ , số thuế GTGT phải nộp, số
thuế GTGT đã nộp và còn phải nộp vào NSNN, tài khoản này áp dụng cho
tiền cho người bán trên cơ sở kiểm tra mức độ phù hợp của chứng từ nhận
được từ người xuất khẩu với L/C đã mở .
Nếu đơn vị có ngoại tệ gửi ngân hàng mở L/C thì chỉ cần theo rõi chi
tiết số tiền gửi ngoại tệ dùng mở L/C trên tài khoản 1122 chi tiết mở thư tín
dụng .
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nếu đơn vị nhập khẩu phải vay Ngân Hàng mở L/c thi phải tiến hành ký
quỹ một tỷ lệ nhất định theo trị giá tiền mở L/C. Số tiền ký quỹ được theo
dõi trên tài khoản 144 “ thế chấp, ký quỹ, ký cược ngắn hạn “ Trong trường
hợp, người bán yêu cầu ký quỹ theo một tỷ lệ nhất định thì người nhập tiến
hành ký quỹ theo tỷ lệ đó.
Khi đơn vị nhập khẩu viết giấy xin mở L/C gửi đến ngân hàng thì đồng
thời viết 2 uỷ nhiệm chi : 1 trả thủ tục phí mở L/C, 1 để ký quỹ mở L/C.
Lúc này, tiền ký quỹ đã bị phong toả và không được hưởng lãi. Số tiền ký
quỹ do ngân hàng quy ước tuỳ theo sự tín nhiệm của doanh nghiệp đối với
ngân hàng . Số tiền ký quỹ có thể là 30 % hoặc 100% trị giá lô hàng nhập
khẩu . Kế toán căn cứ vào số tiền ký quỹ ghi :
Nợ TK 144 : Số tiền ký quỹ ( Số ngoại tệ x Tỷ giá hạch
toán )
Có TK 112 (1122) : Số ngoại tệ dùng ký quỹ tại ngân
hàng .
Đồng thời, ghi:
Có TK 007 : Số nguyên tệ sử dụng ký quỹ .
Nếu đơn vị nhập khẩu không có ngoại tệ chuyển khoản phải vay ngân
hàng để ký quỹ thì tiền ký quỹ vẫn bị phong toả và phải chịu lãi suất bắt
đầu từ ngày vay ký quỹ :
Nợ TK 144 : Số tiền ký quỹ (Số ngoại tệ x tỷ giá hạch toán )
Có TK 311 : Số ngoại tệ vay dùng ký quỹ tại ngân
đang đi đường cuối kỳ ( tỷ giá thực tế x Trị giá mua ghi trên hoá đơn
thương mại )
Nợ ( hoặc Có) TK 413 : Phần chênh lệch tỷ giá.
Có TK tài khoản liên quan ( 144,1112,1122,331) : Giá
mua của hàng nhập khẩu đã trả hay còn phải trả theo tỷ giá hạch toán .
BT2- Phản ánh số thuế nhập khẩu phải nộp theo thông báo.
Nợ tài khoản liên quan (151,1561,157,632 ): Thuế nhập khẩu
phải nộp tính vào trị giá mua thực tế của hàng nhập khẩu .
Có TK 333 (3333) : Số thuế nhập khẩu phải nộp.
BT3- Phản ánh số thuế GTGT của hàng nhập khẩu phải nộp.
Nếu doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ và hàng
nhập khẩu dùng vào hoạt động kinh doanh hàng hoá chịu thuế GTGT theo
phương pháp khấu trừ :
Nợ TK 133(1331) : Thuế GTGT của hàng nhập khẩu được
khấu trừ .
Có 3331 ( 33312) : Thuế GTGT đầu vào của hàng nhập
khẩu .
Nếu doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hoặc
không thuộc diện chịu thuế GTGT thì thuế GTGT của hàng nhập khẩu
được tính vào trị giá hàng hoá nhập khẩu .
Nợ tài khoản liên quan (151,1561,157,632) : Thuế GTGT phải
nộp tính vào trị giá mua thực tế của hàng nhập khẩu .
Có TK 3331 (33312) : Số thuế GTGT phải nộp của hàng nhập
khẩu .
Trường hợp hàng hoá nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB mà
không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT , kế toán ghi :
Nợ tài khoản liên qua (151,1561,157,632) : Thuế TTĐB phải
nộp tính vào trị giá mua thực tế của hàng nhập khẩu .
Có TK 333 (3332) : Thuế TTĐB phải nộp.
- Chiết khấu mua hàng được hưởng:
Nợ TK 331: Trừ vào số tiềm phait trả
Nợ TK 111,112: Số tiền người bán trả lại
Nợ TK 138 (1388): Số được người bán chấp nhận
Có TK 515 : Số chiết khấu thanh toán được hưởng.
Sơ đồ hạch toán nhập khẩu hàng hoá trực tiếp theo phương pháp KKTX
TK 111,112,331 TK 151 TK 157
TK 413
TK 515 (2b) (2b) (3b)
(14)
(2)
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
TK 632
(1) TK 144
(4) (3a) (5)
TK 1388
TK 3333 TK 156,211...
(8)
(7) (6) (9)
TK 1562
(10)
TK 33312 TK 133 TK 331,111,112
(12) (11) (13b) (13a)
Giải thích sơ đồ :
(1) Thanh toán trực tiếp cho người xuất khẩu
(2) Chênh lệch tỷ giá (2a) và (2b)
(3a) Số tiền ký quỹ đã thanh toán.
(3b) Trị giá hàng gửi bán.
Nợ TK 133 (1331): Thuế GTGT được khấu trừ
Có TK 3331 (33312): Thuế GTGT hàng nhập khẩu phải
nộp
- Khi nộp thuế GTGT và thuế nhập khẩu căn cứ vào phiếu chi, kế toán
ghi:
Nợ TK 3333 : Thuế nhập khẩu phải nộp
Nợ TK 33312: Thuế GTGT hàng nhập khẩu phải nộp
Có TK 111, 112: Tổng số tiền nộp thuế
- Cuối kỳ kết chuyển giá trị tòn cuối kỳ và xác định hàng tiêu thụ trong
kỳ, kế toán ghi;
Nợ TK 156, 157: Trị giá hàng tồn cuối kỳ
Nợ TK 632: Trị giá hàng xuất trong kỳ
Có TK 611 (6112): Tổng giá trị hàng mua.
Hạch toán nhập khẩu trực tiếp theo phương pháp kiểm kê định kỳ được
thể hiện qua sơ đồ sau ( Sơ đồ trang 23 ).
Sơ đồ hạch toán nghiệp vụ nhập khẩu hàng hoá trực tiếp theo phương
pháp KKĐK
TK 6112
TK 151,156,157 TK
151,156,157
24
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
(1) (11)
TK 413
TK 111,112,331 TK 632
(3)
TK 515 (2)
(8)
(10) TK 3333