Điều tra tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm và biện pháp phòng trị bệnh ở các hộ nông dân chăn nuôi tại xã chiềng sàng, huyện yên châu, tỉnh sơn la - Pdf 30

1
TRƢỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA
KHOA NÔNG LÂM
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Chuyên đề: “Điều tra tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm và biện
pháp phòng trị bệnh ở các hộ nông dân chăn nuôi tại xã Chiềng Sàng huyện
Yên Châu tỉnh SơnLa
Giảng viên hƣớng dẫn
: Nguyễn Thị Nga
Sinh viên thực hiện
: Nguyễn Thị Huyền
Chuyên ngành
: Chăn nuôi
Lớp
: CĐ Chăn nuôi k49
Khóa học
: 2012 -2015
khỏi những thiếu sót về nội dung và bố cục, mong nhận được nhiều sự đóng góp
ý kiến từ phía thầy cô và bạn bè để chuyên đề thêm hoàn thiện, có thể ứng dụng
vào thực tiễn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sơn la, tháng 05 năm 2015
Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Huyền
3

MỤC LỤC
CHƢƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1. Lý do chọn đề tài 6
1.2. Mục đích nghiên cứu 7
CHƢƠNG II: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHÊN CỨU 8
2.1. Khái quát về hệ thống chăn nuôi 8
2.2. Các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả của hệ thống chăn nuôi 8
2.2.1. Yếu tố con giống 8
2.2.2. Thức ăn 9
2.2.3. Yếu tố môi trường 10
2.2.4. Công tác quản lý, chăm sóc, thú y 10
2.2.5. Dịch bệnh 11
2.2.6. Bệnh nội khoa 20
2.2.7. Bệnh ngoại khoa 20
2.2.8. Bệnh ký sinh trùng 20
CHƢƠNG III: ĐỐI TƢỢNG - NỘI DUNG - PHƢƠNG PHÁP 21

cầm của xã Chiềng Sàng 33
5.1.1. Tình hình chăn nuôi tại xã Chiềng Sàng 33
5.1.2 Tình hình thú y xã 33
5.1.3. Tình hình tiêm phòng cho đàn gia súc gia cầm 34
5.1.4 Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc gia cầm 39
5.1.5. Kết quả điều trị bệnh trong thời gian thực tập tại xã 42
CHƢƠNG VI: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
6.1. Kết luận 47
6.2 Kiến nghị. 47
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
5
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 4.1: Cơ cấu đàn gia súc, gia cầm của xã Chiềng Sàng qua 3 năm từ
năm 2012 đến năm 2014 và 4 tháng đầu năm 2015 30
qua các năm 30
Biểu đồ 4.1: Cơ cấu tổng đàn gia súc gia cầm của xã chiềng sàng 30
Biểu đồ 4.2: Cơ cấu đàn lợn thịt, lợn nái và lợn đực giống của xã Chiềng
Sàng qua 3 từ năm 2012 đến năm 2014 và 4 tháng đầu năm 2015 31
Bảng 4.2: Phƣơng hƣớng chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm và sản phẩm
của chúng 32
Bảng 5.1: Tỷ lệ tiêm phòng các loại vacxin trên đàn lợn và trâu bò ở các hộ
điều tra năm 2015 34
Biểu đồ 5.1: Tỉ lệ tiêm phòng các loại vacxin trên đàn lợn và trâu bò ở các
hộ điều tra năm 2015 35

kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa.
Vận dụng đường lối đó trong đổi mới kinh tế nông nghiệp nét nổi bật là coi
“gia đình xã viên là một đơn vị kinh tế tự chủ” trong sản xuất nông nghiệp, từ đó
Đảng và Nhà nước ta luôn có những chính sách khuyến khích phát triển nông
nghiệp như nghị quyết Trung Ương V đại hội khoá VII và hàng loạt các chính
sách kinh tế mới trong thời kỳ đổi mới. Đó là những tiền đề hết sức quan trọng
để thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển nói chung và chăn nuôi nói riêng.
Trước hoàn cảnh đó, trong những năm gần đây tình hình chăn nuôi trong cả
nước đã và đang phát triển rất mạnh mẽ. Đặc biệt là chăn nuôi ở các nông hộ
thuộc các tỉnh trong cả nước. Trong đó huyên Yên Châu là một huyện khá điển
hình trong chăn nuôi phát triển cũng rất mạnh, chăn nuôi đã góp phần không nhỏ
vào cung cấp nguồn thực phẩm trong cả nước nói chung và cải thiện đời sống
cho người dân chăn nuôi nói riêng.
Nhưng bên cạnh đó cũng có rất nhiều nguyên nhân làm chăn nuôi kém phát
triển, làm thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi. Trong đó, nguyên nhân chính là do
dịch bệnh gây ra, nó không chỉ gây thiệt hại trong chăn nuôi mà nó còn ảnh hưởng
tới sức khoẻ của con người. Đặc biệt, đầu năm 2014 dịch cúm gia cầm xảy ra đã làm
thiệt hại lớn trong chăn nuôi, kìm hãm sự phát triển của chăn nuôi gây thiệt hại về
7
nền kinh tế của cả nước nói chung và của người chăn nuôi nói riêng.
Để hiểu rõ được những khó khăn, những thiệt hại trong chăn nuôi do dịch
bệnh gây ra và từ đó đề ra các biện pháp phòng trừ thích hợp, tôi tiến hành
nghiên cứu chuyên đề: “Điều tra tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm
và biện pháp phòng trị bệnh ở các hộ nông dân chăn nuôi tại xã Chiềng Sàng
huyện Yên Châu tỉnh SơnLa”
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá được thực trạng phát triển chăn nuôi ở xã Chiềng Sàng huyện
Yên Châu tỉnh Sơn La.
- Đánh giá được tình hình dịch bệnh sảy ra ở gia súc, gia cầm tại xã Chiềng
Sàng và nhận thức của người chăn nuôi trong phòng trừ dịch bệnh cho đàn gia

trứng, sữa, lông, da, Vật nuôi có thể thu nhận các chất dinh dưỡng mà con
người không thể sử dụng được, các chất thải của con người hoặc các phụ phẩm
trong các ngành sản xuất khác.
Từ xa xưa, tổ tiên của chúng ta đã thuần hoá vật nuôi hoang dại thành vật
nuôi trong gia đình và từ đó các phương thức chăn nuôi cũng bắt đầu được hoàn
thiện. Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều dạng chăn nuôi khác nhau, mỗi dạng
phù hợp với một phương thức chăn nuôi cụ thể mà chủ yếu là phụ thuộc vào
trình độ thâm canh, loại vật nuôi, môi trường tự nhiên, nguồn lợi từ các sản
phẩm chăn nuôi ấy.
2.2. Các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả của hệ thống chăn nuôi
Muốn chăn nuôi đạt hiệu quả cao phải biết kết hợp hài hoà giữa các yếu tố:
Con giống, thức ăn, môi trường và công tác quản lý, chăm sóc, thú y.
2.2.1. Yếu tố con giống
Đây là yếu tố quan trọng quyết định đến hiệu quả sản xuất nó ảnh hường
đến tốc độ phát triển cũng như chất lượng sản phẩm chăn nuôi. Do vậy, cùng
điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng như nhau mà con giống khác nhau sẽ cho kết
quả hoàn toàn khác nhau kéo theo hiệu quả chăn nuôi cũng hoàn toàn khác nhau.
Chính sự khác biệt này nói nên tầm quan trọng của giống vật nuôi.
Đó là lý do công tác giống được quan tâm đến nhiều, điều này được thể
hiện thông qua những việc làm như: Lai tạo giống mới, đột biến gen Để tạo ra
9
các giống có tính năng sản xuất như mong muốn.
Hiện nay, nước ta có chủ trương cải tạo đàn bò vàng Việt Nam bằng bò Lai
Sind, phát triển đàn bò sữa vùng trung du miền núi, đàn lợn: Các giống lợn,
Lanchace, Duroc, Yorkshire , đang được nuôi thuần hay lai tạo để phát triển
rộng rãi tại các trang trại nông hộ. Đàn gia cầm, các giống gà: Tam Hoàng,
Lương Phượng, giống vịt siêu trứng, ngan Pháp Cũng được nhập vào nước ta
và nuôi khá nhiều.
Như vậy giống vật nuôi có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của hệ thống
chăn nuôi, con giống được chọn để nuôi không chỉ phù hợp với điều kiện khí

* Môi trường kinh tế - xã hội
- Quyền sở hữu đất đai
- Vốn, lao động
- Năng lượng, cơ sở hạ tầng
- Thị trường
- Tôn giáo
2.2.4. Công tác quản lý, chăm sóc, thú y
Trong chăn nuôi việc quản lý, chăm sóc, thú y mang một tầm quan trọng
rất lớn nó ảnh hưởng không nhỏ tới thành công trong chăn nuôi.
Quản lý, chăm sóc là việc tạo cho gia súc, gia cầm một chế độ ăn uống,
nghỉ ngơi thích hợp, giúp cho con vật tránh được những stress không đáng có,
đồng thời giúp cho người chăn nuôi phát hiện sớm những con bị bệnh, loại thải
hay điều trị kịp thời tránh được những thiệt hại đáng tiếc trong chăn nuôi. Thực
chất của công tác này là nâng cao sức đề kháng của con vật nhằm hạn chế khả
năng nhiễm bệnh và lây lan dịch bệnh.
Thú y có một vai trò không thể thiếu trong chăn nuôi nhất là trong giai đoạn
hiện nay. Thực tế cho thấy ở những nơi chăn nuôi phát triển mà lại coi nhẹ công tác
thú y thì ở nơi đó rất khó tránh được những thiệt hại trong chăn nuôi, người chăn
nuôi phải tuân thủ các quy trình phòng bệnh bằng vệ sinh, bằng vacxin, tiêu độc khử
trùng chuồng trại định kỳ. Bên cạnh đó phải chẩn đoán nhanh chính xác, kịp thời để
phát hiện ra những con bị bệnh bằng các phương pháp chẩn đoán lâm sàng (sờ, nắm,
gõ, nghe, ) và phi lâm sàng (xét nghiệm phân, nước tiểu, dịch tiết ). Thực tế trong
11
chăn nuôi nông hộ thì công tác thú y nhiều khi vẫn chưa được coi trọng nên dịch
bệnh rất dễ xảy ra trên một vùng lớn.
2.2.5. Dịch bệnh
Dịch bệnh trong chăn nuôi luôn là vấn đề rất được quan tâm, cùng với việc
chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý tốt thì vấn đề dịch bệnh cũng phải được phòng
chống tốt, có vậy chăn nuôi mới đạt hiệu quả kinh tế cao. Thực tế trong chăn
nuôi hay gặp những bệnh truyền nhiễm, nội khoa, bệnh ký sinh trùng, bệnh

Thể mang trùng
+ Con vật nghi mắc bệnh
Hiện tượng mang trùng rất nguy hiểm về mặt dịch tễ học, súc vật mang
trùng thường làm lây lan bệnh lớn hơn cả bản thân súc vật ốm, vì những con vật
đang ốm thì con người có thể nhận biết được và có biện pháp xử lí kịp thời. Còn
ở các dạng mang trùng khó phát hiện và ít được để ý vì thể bệnh này dễ dàng
phát thành dịch.
Ngoài ra, các loại gặm nhấm, dã thú Là nguồn bệnh rất nguy hiểm trong
thiên nhiên chúng là ổ vi khuẩn của rất nhiều bệnh truyền nhiễm.
Như vậy, muốn hạn chế dịch bệnh xảy ra phải phát hiện kịp thời những
con bệnh để cách ly kịp thời, quản lí chặt chẽ tối đa quá trình lây lan dịch bệnh.
* Nhân tố trung gian truyền bệnh
Bệnh có thể lây lan trực tiếp từ súc vật ốm sang súc vật khỏe do chúng tiếp
xúc với nhau như: Khi cọ xát, bú, liếm, ăn Nhưng có rất nhiều bệnh lây lan
gián tiếp thông qua các nhân tố trung gian truyền bệnh như: Không khí, thức ăn,
đất, nước Nhân tố trung gian truyền bệnh là khâu thứ hai của quá trình sinh
dịch có vai trò truyền mầm bệnh tới súc vật thụ cảm. Mầm bệnh muốn lan
truyền từ cơ thể ốm sang cơ thể khoẻ thì nó phải sống một khoảng thời gian nhất
định ở ngoại cảnh trên các nhân tố trung gian truyền bệnh[3]. Khoảng thời gian
đó dài hay ngắn tuỳ thuộc vào từng loại mầm bệnh, nhân tố trung gian truyền
bệnh có nhiều loại và được chia làm 2 loại chính:
 Nhân tố trung gian là sinh vật bao gồm: Côn trùng, các loại động vật
cảm thụ với bệnh, con người
+ Côn trùng: Có nhiều loại như: Ve, rận, ruồi muỗi
13
Đây là các nhân tố sống đóng vai trò rất quan trọng trong việc truyền bệnh
từ con này sang con khác, từ nơi này sang nơi khác.
Động vật: Từ động vật hoang dã đến động vật thuần hoá đều có thể truyền
các bệnh như: Nhiệt thán, dịch tả lợn, dai, lở mồm long móng, sảy thai truyền
nhiễm, đóng dấu lợn Các loại dã thú, gặm nhấm không những là nguồn tàng

đất bị ô nhiễm. Đất ẩm chứa chất hữu cơ rất thuận lợi cho vi sinh vật tồn tại và
phát triển. Để đánh giá vệ sinh của đất về mặt vi sinh vật người ta sử dụng một
số chỉ tiêu:
Không khí: Mầm bệnh cũng có thể tồn tại trong không khí và truyền bệnh.
Nguyên nhân là do quét dọn chuồng trại, chải cọ gia súc hay do các giọt nước
nhỏ do gia súc ho bắn ra và bám vào bụi giọt nước trong không khí. Mầm bệnh
nhập vào súc vật qua đường hô hấp để gây bệnh theo hai phương thức: Truyền
bệnh bằng giọt và truyền bệnh bằng hạt bụi.
Mức độ tác hại của giọt và bụi phụ thuộc vào độ lớn của chúng, và số
lượng mầm bệnh bám vào giọt và bụi. Ngoài ra tác hại còn phụ thuộc vào độ
ẩm, nhiệt độ cũng như chuyển động của không khí.
Ngoài ra dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển và nhân tố trung gian
truyền bệnh nếu các dụng cụ, phương tiện này không được vệ sinh sạch sẽ thường
xuyên thì mầm bệnh có thể tồn tại ở đó và có cơ hội xâm nhập vào con vật[5].
Vì vậy để phòng chống dịch bệnh có hiệu quả thì biện pháp quan trọng là
phải vệ sinh sạch sẽ, hạn chế, ngăn chặn không cho vật nuôi tiếp xúc với nhân tố
trung gian tryền bệnh, cụ thể là: Vệ sinh thức ăn, nước uống, tiêu độc chuồng
trại, dụng cụ chăn nuôi và nâng cao ý thức, trách nhiệm của con người.
 Súc vật thụ cảm.
Súc vật thụ cảm là khâu thứ 3 không thể thiếu trong quá trình sinh dịch,
đây là khâu cần thiết để dịch phát sinh và phát triển. Có nguồn bệnh và nhân tố
trung gian truyền bệnh thuận lợi nhưng nếu cơ thể súc vật không cảm thụ với
mầm bệnh thì dịch không thể phát sinh. Vì vậy, ta phải chú ý tới việc chăm sóc,
nuôi dưỡng súc vật để nâng cao sức đề kháng của con vật, từ đó hạn chế được
dịch bệnh xảy ra.
Ba nhân tố: Nguồn bệnh, nhân tố trung gian truyền bệnh và súc vật thụ
15
cảm của quá trình sinh dịch xảy ra một trình tự, nếu thiếu một trong ba nhân tố
đó thì bệnh không thể phát thành dịch. Ngoài ra, vấn đề kiểm dịch động vật cũng
phải nghiêm chỉnh thực hiện tốt để hạn chế tối đa dịch bệnh lây lan từ nơi này

thuận lợi nhất để sinh sản, sau đó mới lây lan sang cơ quan khác. Mỗi một loại
mầm bệnh thường chỉ có một nơi khu trú đầu tiên nhất định do đó cũng chỉ có
một cơ chế truyền bệnh thích hợp.
 Phương thức truyền bệnh
Bao gồm hai phương thức
+ Phương thức truyền lây trực tiếp và phương thức truyền lây gián tiếp
 Phương thức truyền lây trực tiếp: mầm bệnh được truyền thẳng từ con vật
ốm sang con vật khỏe không cần phải qua nhân tố trung gian truyền bệnh, mầm bệnh
của những loại bệnh này thường là loại ký sinh bắt buộc không sinh sản trong môi
trường nhân tạo được và thường có sức đề kháng kém với ngoại cảnh.
 Phương thức truyền lây, gián tiếp: Mầm bệnh muốn lây lan được phải
qua nhân tố trung gian truyền bệnh. Trong các bệnh lây gián tiếp mầm bệnh có
sức đề kháng tương đối cao với ngoại cảnh và có thể tồn tại một thời gian trên
các nhân tố trung gian truyền bệnh. Căn cứ vào cơ chế truyền bệnh của L.v.
Gramasipxki thì có thể chia ra làm bốn phương thức truyền bệnh chính[7]:
- Truyền bệnh theo đường tiêu hoá
- Truyền bệnh theo đường hô hấp
- Truyền bệnh theo đường máu
- Truyền bệnh qua da và niêm mạc
 Các nhân tố ảnh hướng tới quá trình sinh dịch
Quá trình sinh dịch chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, các nhân tố tác
động đến các khâu của quá trình sinh dịch làm cho dịch bệnh có nhiều tính chất
khác nhau, các nhân tố đó được chia làm hai loại:
+ Các nhân tố thiên nhiên
Các nhân tố thiên nhiên bao gồm: khí hậu, thời tiết, đất đai, ánh sáng Nó
ảnh hưởng tới quá trình sống của vật nuôi cũng như sự phát sinh, phát triển của
17
dịch bệnh. Các yếu tố này có thể thúc đẩy hay kìm hãm các khâu của quá trình
sinh dịch.
+ Các nhân tố xã hội

2.5.1.2. Phòng chống bệnh truyền nhiễm
5.1.2.1. Nguyên lý của công tác phòng chống bệnh truyền nhiễm
Bệnh truyền nhiễm xảy ra được là do ba khâu của quá trình sinh dịch.
Nguồn bệnh, các nhân tố trung gian truyền bệnh, súc vật thụ cảm và có sự liên
quan giữa ba khâu đó. Thiếu một trong 3 khâu hoặc thiếu sự liên hệ giữa hai
trong ba khâu đó thì dịch không xảy ra được.
Nguồn bệnh là khâu đầu tiên và chủ yếu, là xuất phát điểm của quá trình
sinh dịch và nguồn bệnh đóng vai trò tàng trữ mầm bệnh và thải trừ mầm bệnh
ra ngoài môi trường.
Nhân tố trung gian truyền bệnh nối liền giữa nguồn bệnh với súc vật thụ
cảm làm cho quá trình sinh dịch thực hiện thuận lợi, vì nó có vai trò truyền tải,
vận chuyển mầm bệnh từ con ốm sang con khoẻ.
Súc vật thụ cảm là yếu tố làm cho dịch biểu hiện ra, đồng thời nó lại biến
thành nguồn bệnh cho quá trình sinh dịch được nhân nên được thúc đẩy mạnh hơn.
Vì vậy công tác phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm phải được thực
hiện cho được việc xoá bỏ, loại trừ một hoặc nhiều khâu, hoặc cắt đứt sự liên hệ
giữa các khâu. Chỉ cần cắt đứt một khâu cũng đủ làm cho quá trình sinh dịch
không thực hiện được. Đó là nguyên lý cơ bản của mọi biện pháp phòng chống
bệnh tuyền nhiễm.
5.1.2.2 Các biện pháp phòng chống
 Phòng bệnh khi chưa có dịch xảy ra
+ Phòng bệnh đối với nguồn bệnh:trong điều kiện bình thường con vật
mang trùng là nguồn bệnh như là bệnh mang trùng, con vật khoẻ mang trùng.
Đối với súc vật mang trùng cần phải dùng các phương pháp chẩn đoán như vi
khuẩn học, huyết thanh học, phản ứng Elisa Để phát hiện sớm, chủ động và
tích cực để cách ly triệt để
+ Phòng bệnh đối với nhân tố trung gian truyền bệnh: Phòng bệnh đối với
nhân tố trung gian truyền bệnh nhằm nâng cao sức đề kháng cho con vật, tạo
19
môi trường sạch cho con vật đó là thực hiện các biện pháp vệ sinh thức ăn, nước

bệnh phát triển tối đa rồi dùng các loại hoạt chất, nhiệt độ để giết chết chúng
nhưng không làm ảnh hưởng tới tính kháng nguyên.
- Vacxin nhược độc: Dùng vi khuẩn hoặc virút đã được làm yếu đi đến
mức không nguy hiểm cho cơ thể súc vật cảm thụ nhưng vẫn giữ được bản tính
của kháng nguyên.
2.2.6. Bệnh nội khoa
Bệnh nội khoa là bệnh không lây lan nhưng là bệnh gây thiệt hại lớn trong
chăn nuôi, bệnh thường xảy ra ở dạng mãn tính làm cho con vật gầy yếu, dần
dần rồi chết, khác với bệnh truyền nhiễm nguyên nhân chính do vi sinh vật, bệnh
nội khoa thường do nhiều nguyên nhân gây lên, ví dụ: Bệnh viêm ruột của gia
súc thì nguyên nhân có thế là do: Thức ăn, thời tiết, vi sinh vật
2.2.7. Bệnh ngoại khoa
Bệnh ngoại khoa là những bệnh mà mắt thường có thể quan sát thấy,
không có sự lây lan, nguyên nhân chính của bệnh là do con vật bị đánh đập,
trượt ngã Làm ảnh hưởng tới sức khỏe của con vật dẫn đến làm giảm năng suất
chăn nuôi.
2.2.8. Bệnh ký sinh trùng
Bệnh ký sinh trùng là bệnh sâm nhiễm, nó gây thiệt hại lớn cho chăn nuôi,
một số bệnh có tính chất chuyền lây mạnh gây tử vong lớn, đặc biệt với gia súc,
gia cầm non như bệnh cầu trùng.


bệnh, phương pháp điều trị, thời gian điều trị ở các loài vật nuôi (trâu, bò, lợn,
22
gia cầm).
+ Bệnh ở gia súc: Bệnh nội khoa, bệnh ngoại khoa, bệnh sản khoa, bệnh
ký sinh trùng, bệnh truyền nhiễm.
+ Bệnh ở gia cầm: Bệnh hô hấp, bệnh ký sinh trùng, bệnh truyền nhiễm.
* Điều tra, đánh giá hoạt động của đội ngũ thú y xã
+ Cơ cấu đội ngũ thú y xã.
+ Hoạt động của đội ngũ thú y xã.
+ Tủ thuốc thú y xã.
* Đề xuất một số giải pháp phòng và điều trị bệnh cho các loại vật nuôi
nhằm phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm tại xã Chiềng Sàng huyện Yên Châu
tỉnh Sơn La bền vững, hiệu quả kinh tế cao.
3.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
3.3.1. Chọn điểm nghiên cứu
* Chọn Bản nghiên cứu
Chọn 3 bản thuộc xã Chiềng Sàng, trong đó có 1 bản chăn nuôi gia súc,
gia cầm nhiều nhất, 1 bản chăn nuôi gia súc, gia cầm ít nhất, 1 bản chăn nuôi gia
súc, gia cầm trung bình.
* Chọn hộ điều tra
Mỗi bản điều tra tiến hành phỏng vấn 20 hộ nông dân và phỏng vấn ngẫu nhiên.
3.3.2. Phương pháp thu thập tài liệu
3.2.2.1. Thu thập tài liệu thứ cấp
- Các số liệu về tổng quan địa bàn nghiên cứu.
- Quy mô, cơ cấu và biến động đàn gia súc, gia cầm từ năm 2013 đến năm 2015.
- Kết quả sản xuất các ngành kinh tế và ngành chăn nuôi qua các năm.
- Diễn biến bệnh dịch và kết quả tiêm phòng chống dịch bệnh cho đàn gia
súc, gia cầm qua các năm: 2013, 2014, 2015.
Các số liệu trên được thu thập thông qua việc sao chép số liệu tại phòng
thống kê của xã, sao chép số liệu của cán bộ thú y xã.

24
CHƢƠNG VI: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ
KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
4.1. Điều kiện tự nhiên của xã Chiềng Sàng huyện Yên Châu tỉnh Sơn La
4.1.1. Vị trí địa lý
4.1.2. Điều kiện địa hình
Địa hình bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi, độ cao trung bình của xã 400m so
với mực nước biển. Địa hình dốc nhẹ phù hợp với phát triển nông - lâm nghiệp.
Đất đai được hình thành chủ yếu trên đất ferarit đỏ vàng và phiến thạch sét.
Qua khảo sát cho ta thấy đất đai ở xã Chiềng Sàng được chia thành 4 nhóm chính:
- Nhóm I gồm những dạng tương đối bằng phẳng có độ dốc từ 1 - 8
0
,
nhóm này chủ yếu trồng những cây ngắn ngày.
- Nhóm II gồm những đồi có độ dốc từ 8 - 15
0
nhóm này chủ yếu trồng
những cây hoa màu.
- Nhóm III gồm những đồi có độ dốc từ 15 - 25
0
nhóm này chủ yếu trồng
những cây ngắn ngày và triển khai mô hình nông lâm kết hợp.
- Nhóm IV gồm những dãy núi cao có độ dốc trên 25
0
, địa hình bị chia cắt
mạnh bởi các dãy núi cao, quá trình rửa trôi xói mòn rất mạnh.
4.1.3. Điều kiện khí hậu

đời sống của nhân dân.
 Nguồn nước
- Nguồn nước mặt: Được lưu giữ ở các hệ thống, suối, ao, hồ. Nguồn
nước mặt rất dồi dào, phong phú, thuận lợi việc phục vụ cho sản xuất phát triển
nông lâm, ngư nghiệp.
- Nước ngầm: Cùng với sự dồi dào nguồn nước mặt và qua điều tra khảo
sát đã tìm thấy rất nhều mạch nước ngầm, nguồn nước ngầm rất phong phú và
đủ phục vụ sinh hoạt cho người dân.
4.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
4.2.1. Tình hình sử dụng đất đai của xã
Xã Chiềng Sàng có diện tích đất nông nghiệp là 2.549,67 ha, chiếm 51,69
% tổng diện tích đất tự nhiên. Trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp là
chủ yếu với diện tích là 1.749 ha, chiếm 61,93% diện tích đất nông nghiệp. Qua
đó chúng ta có thể thấy rằng ngành nông nghiệp trên địa bàn xã Chiềng Sàng
vẫn là ngành chính, người dân trong xã chủ yếu vẫn làm nghề nông nghiệp.
4.2.2. Dân số
- Theo số liệu điều tra dân số năm 2014 là 5.149 người, tỷ lệ tăng dân số là
2%, có 1.120 hộ. Dân cư chia làm 5 bản bao gồm 4 dân tộc, trong đó dân tộc
Thái 90%, 10% dân tộc khác. Lao động, chủ yếu là lao động thuần nông, bình
quân 4,8 khẩu/ hộ. Mật độ dân số bình quân 145 người/ km
2
, phân bố dân cư
thuận lợi cho việc sản xuất và quản lý xã hội.

Trích đoạn Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc gia cầm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status