Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020 - Pdf 30

Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỞ ĐẦU
Đầu tư phát triển là một hoạt động kinh tế quan trọng, quyết định đến sự phát
triển kinh tế xã hội của một quốc gia cũng như mỗi địa phương. Đây chính là chìa
khóa để tăng trưởng kinh tế và điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa tạo thế và lực thúc đẩy phát triển đồng thời hội nhập kinh tế quốc
tế. Chính vì vậy, đầu tư phát triển vừa là nhiệm vụ chiến lược, vừa là một giải pháp
chủ yếu để thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội theo hướng tăng trưởng cao, ổn định
và bền vững. Bất kỳ quốc gia, địa phương nào muốn có tốc độ tăng trưởng cao, đời
sống nhân dân được cải thiện đều phải quan tâm đến đầu tư phát triển. Nhận thấy
được tầm quan trọng đó, trong những năm vừa qua tỉnh Thanh Hóa đã biết tận dụng
những lợi thế của mình và thực hiện nhiều biện pháp nhằm huy động nhiều nguồn lực
cho đầu tư phát triển. Hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh xây dựng kết cấu hạ tầng.
Chính vì vậy, giai đoạn 2005-2009 kết cấu hạ tầng cơ sở của tỉnh Thanh Hóa đã cải
thiện đáng kể, tăng trưởng kinh tế của tỉnh liên tục đạt tốc độ tăng trưởng cao,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đúng hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa các vấn
đề y tế, giáo dục và một số vấn đề khác cũng có những tiến đáng kể. Tuy nhiên, so
với tiềm năng phát triển của tỉnh Thanh Hóa cũng như số lượng vốn bỏ ra thì những
kết quả đấy chưa tương xứng. Hoạt động đầu tư diễn ra sôi nổi, song hiệu quả đầu tư
chưa cao, còn tồn tại nhiều hạn chế và bất cập. Do đó, việc tìm ra những giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển trong thời gian tới đây là vấn
đề bức xúc của tỉnh.
Đây chính là lý do tôi chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
phát triển trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020” làm đề tài nghiên cứu trong
chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Mục đích nghiên cứu của chuyên đề tốt nghiệp là đưa ra những giải pháp chủ
yếu thích hợp nhất nằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn
tỉnh.
Để thực hiện được mục đích đó, chuyên đề sẽ phải thực hiện các nhiệm vụ
trong phạm vi nghiêm cứu như sau: trình bày những lý luận cơ bản về đầu tư phát
triển và hiểu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển đánh giá thực trạng sử dụng vốn đầu

nhân lực.
Đầu tư có thể được chia thành: đầu tư tài chính (gửi tiết kiệm, mua trái phiếu, cổ
phiếu…), đầu tư thương mại (mua hàng hóa với giá cao hơn) và đầu tư phát triển.
Trong đó: “Đầu tư phát triển là việc sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để duy trì
tiềm lực của những cơ sở đang hoạt động và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội”
Cụ thể, ĐTPT bao gồm các hoạt động xây dựng, sửa chữa nhà cửa, vật kiến
trúc, mua sắm, lắp đặt thiết bị, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực đồng thời thực hiện
các công việc gắn liền với sự phát huy tác dụng của các tài sản do ĐTPT tạo ra.
ĐTPT có những đặc điểm khác biệt so với đầu tư thương mại, đầu tư tài chính.
1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của đầu tư phát triển
Xuất phát từ khái niệm về ĐTPT và yêu cầu nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn ĐTPT, cần thiết phải nghiên cưú bản chất của ĐTPT thông qua việc
phân tích những đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, thời gian đầu tư và thu hồi tùy thuộc vào từng đối tượng và lĩnh vực
đầu tư nhưng thường diễn ra trong thời gian dài.
Theo quy định của trình tự đầu tư và xây dựng (ĐTXD), thời gian đầu tư được
chia thành ba gian đoạn: chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành khai thác. Do
vậy, muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phải chấp hành nghiêm chỉnh trình
tự ĐTXH, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và kế hoạch phát triển. Quy hoạch
Phạm Thị Dung Kinh tế phát triển 48B
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phải đi trước một bước làm cơ sở để quản lý chặt chẽ các hoạt động ĐTPT. Cần tập
trung đầu tư dứt điểm và có trọng điểm, nâng cao chất lượng, rút ngắn thời gian thực
hiện các công việc: lập, thẩm định dự án đầu tư, thiết kế dự toán, hồ sơ giao nhận
thầu và thời gian xây dựng công trình, nhanh chóng đưa dự án vào khai thác sử dụng
làm tăng năng lực sản xuất, tăng lực phục vụ cho nền kinh tế. Khi đánh giá hiệu quả
đầu tư, cần phải quan tâm tới toàn bộ quá trình đầu tư, tránh tình trạng chỉ tập trung
vào giai đoạn thực hiện dự án mà không chú ý đến thời gian khai thác sử dụng vì đó
là giai đoạn các kết quả đầu tư phát huy tác dụng để đạt tới mục tiêu cuối cùng đã

tế, tài chính (chính sách thuế, tiền tệ…) đồng thời còn những bất ổn thiên tai, do điều
kiện địa lý không gian. Chính vì vậy, các nhà đầu tư cần có những biện pháp thích
hợp để giảm thiểu rủi ro, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Về phía các nhà quản lý,
cần có những chính sách rõ rang, hấp dẫn tạo điều kiện để các hoạt động đầu tư diễn
ra thuận lợi và hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do các yếu tố rủi ro, từ đó kích
thích các nhà đầu tư bỏ vốn phát triển sản xuất kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh
tế.
1.1.3 Vai trò đầu tư phát triển trong nền kinh tế xã hội:
1.1.3.1 Vai trò của đầu tư phát triển tới tăng trưởng kinh tế.
Vai trò này của đầu tư thể hiện qua mô hình tổng cung và tổng cầu.
Với tổng cầu: đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu
của nền kinh tế. Theo số liệu của ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm khoảng
24-28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới. Trong ngắn hạn, sự
gia tăng của đầu tư thực chất là gia tăng nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ nói chung của
NKT. Chúng ta biết rằng tổng sản lượng NKT (Y) chính bằng tổng tiêu dung của dân
cư (C), chi tiêu chính phủ, đầu tư (I) và xuất khẩu ròng (NX):
Y=C+ G + I +NX
Do đó, khi gia tăng đầu tư sẽ thúc đẩy gia tăng sản lượng.
Phạm Thị Dung Kinh tế phát triển 48B
ASо
AS
AD
ADо
Q
2
QQо

P
2
P

chiếm cao hơn nhiều, từ 60-75%. Có thể khẳng định rằng, vai trò hạn chế của yếu tố
TFP đối với tăng trưởng là một rào cản lớn cho việc nâng cao hiệu quả tăng trưởng
kinh tế, nó ảnh hưởng trực tiếp đến các chỉ tiêu năng suất lao động, hiệu quả đầu tư,
và nhất là đến khả năng duy trì bức tranh tăng trưởng kinh tế trong dài hạn cũng như
khả năng khai thác triệt để các tiềm năng của đất nước. Sự đóng góp của yếu tố TFP
thấp còn cho thấy: công nghệ sử dụng trong nền kinh tế của VN chủ yếu là ở trình độ
công nghệ thấp (60%), chỉ có 20% công nghệ trình độ cao.Yếu tố đó đã làm cho năng
Phạm Thị Dung Kinh tế phát triển 48B
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lực cạnh tranh toàn cầu của VN đang ở điểm số rất thấp. Trong bảng xếp hạng năng
lực cạnh tranh toàn cầu, thứ hạng của VN luôn bị tụt, năm 2007 tụt đi so với 2006 4
hạng, đến năm 2008, lại tụt đi 3 hạng. Hiện nay chúng ta chỉ đạt 3,89 điểm và đứng
thứ 77/125 nước.
Trong số 2 nhân tố tăng trưởng theo chiều rộng là vốn và lao động thì yếu tố
vốn đóng vai trò quyết định nhất. Hiện nay tăng trưởng GDP của VN vẫn chịu ảnh
hưởng lớn (đến 60%) là do yếu tố vốn. Mô hình tăng trưởng của VN còn được gọi là
mô hình tăng trưởng dựa vào vốn, trong khi vốn lại được sử dụng chưa có hiệu quả,
mà quan trọng hơn chúng ta lại là nước không có lợi thế vốn. Nếu trong những năm
tới, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, các nhà đầu tư nước ngoài giảm
tốc độ đầu tư vốn vào Việt Nam, dòng vốn ODA, vay thương mại bị gián đoạn, điều
đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao của
Việt nam.
Xem xét tốc độ tăng trưởng GDP và sự biến động của tỷ lệ tiết kiệm và tỷ lệ
đầu tư cho thấy nền kinh tế Việt Nam từ đầu thập niên 1990 tốc độ tăng trưởng cao
gắn liền gia tăng tỷ lệ tiết kiệm trong nước và tỷ lệ đầu tư trong GDP. Nếu trong giai
đoạn 1986-1990 tỷ lệ tiết kiệm thấp và đầu tư trong GDP thấp chỉ là 2,4% và 12,6%
thì tốc độ tăng trưởng chỉ là 4,3%. Trong giai đoạn 1991-1995 tỷ lệ tiêt kiệm và tỷ lệ
đầu tư là 14,7% và 22,3% thì tỷ lệ tăng trưởng là tăng lên mạnh mẽ là 8,2%. Trong
giai đoạn 1996-2000 thì tỷ lệ đầu tư là 33,2% tốc độ tăng trưởng GDP giảm nhẹ

ta trong từng thời kỳ, tạo sự phát huy nội lực kinh tế, trong khi vẫn coi trọng yếu tố
ngoại lực. Đối với cơ cấu ngành, đầu tư vốn vào ngành nào, quy mô vốn đầu tư từng
ngành nhiều hay ít, việc sự dụng hiệu quả cao hay thấp…đều ảnh hưởng đến tốc độ
tăng trưởng, đến khả năng tăng cường cơ sở vật chất từng ngành tạo tiền đề vật chất
cơ sở để phát triển các ngành mới…do dó làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành. Đối
với cơ cấu lãnh thổ, đầu tư giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng
lãnh thổ, đưa những vùng thoát ra khỏi vùng yếu kém, phát huy tối đa về lợi thế tài
nguyên, địa lý, kinh tế, chính trị… của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn
làm bàn đạp thúc đẩy các vùng khác phát triển.
Cơ cấu đầu tư theo ngành kinh tế Việt Nam chủ yếu tập trung vào kĩnh vực
dịch vụ và công nghiệp- xây dựng, tỷ trọng đóng góp của vốn đầu tư vào 2 ngành này
khá cao và duy trì ở mức 40-50 %, tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực nông- lâm, ngư
nghiệp vẫn còn thấp chỉ ở mức trên dưới 10% những năm gần đây lại có xu hướng
sụt giảm. Để thấy rõ hơn tác động của yếu tố vốn đến tăng trưởng kinh tế chúng ta đi
vào tìm hiểu vai trò của vốn đối với từng lĩnh vực kinh tế cụ thể.
Phạm Thị Dung Kinh tế phát triển 48B
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Biểu 1.1 Biểu cơ cấu vốn đầu tư Việt Nam 2000-2007
Nguồn: Thời báo kinh tế việt nam
Do có sự thay đổi tích cực trong cấu trúc tăng trưởng kinh tế theo ngành, nên cơ
cấu ngành kinh tế nước ta năm 2007 tiếp tục có dấu hiệu chuyển dịch theo xu thế tích
cực. Có thể theo dõi xu hướng này qua bảng sau:
Bảng 1.1: Cơ cấu đầu tư và cơ cấu ngành kinh tế thời kỳ 2000 – 2007(%)
Năm Cơ cấu GDP
NN CN DV
Cơ cấu vốn đầu tư
NN CN DV
2000 24,53 36,73 38,73 13,8 39,3 46,9
2001 23,24 38,13 38,63 9,6 42,2 48,0

(ii) Cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng
hiệu quả và nâng cao trình độ công nghệ thông qua ứng dụng khoa học công nghệ
vào sản xuất, bảo quản và chế biến, đặc biệt là trong lĩnh vực thủy sản. Liên kết công,
nông nghiệp ngày càng chặt chẽ hơn, cho phép nâng cao đáng kể giá trị nông sản
hàng hóa, nhất là nông sản hàng hóa xuất khẩu. Các ngành nghề phi nông nghiệp ở
nông thôn tiếp tục phát triển đa dạng, tập trung vào những ngành nghề có giá trị gia
tăng cao. Ngành Thủy sản năm 2007 vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm
khá cao (9,9%)
(iii) Khu vực dịch vụ đã tiếp tục tập trung phát triển một số ngành dịch vụ có tiềm
năng để phát huy ưu thế và khả năng cạnh tranh như du lịch, vận tải biển, tài chính,
ngân hàng, chứng khoán. Phát triển mạnh mẽ thương mại, bảo đảm hàng hóa lưu
thông thông suốt trong thị trường nội địa và thị trường quốc tế. Tổng mức lưu chuyển
hàng hóa và doanh thu dịch vụ xã hôi tăng trưởng khoảng 22,5% so với năm 2006.
Mở rộng mạnh mẽ các loại thị trường, cả thị trường thành thị và thị trường nông
thôn, thị trường miền núi. Phát triển du lịch Việt Nam trở thành một ngành kinh tế
mũi nhọn trên cơ sở khai thác có hiệu quả lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái,
truyền thống văn hóa lịch sử. Lượng khách quốc tế đến Việt Nam namư 2007 tăng
khoảng 25% so với 2006 (4,3 – 4,5 lượt người).
Do đó, cần đầu tư vào những vùng kém phát triển để đưa những vùng đó thoát
khỏi tình trạng đói nghèo, đồng thời ĐTPT phải phát huy những lợi thế so sánh về tài
Phạm Thị Dung Kinh tế phát triển 48B
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nguyên thiên nhiên, kinh tế chính trị xã hội của những vùng có khả năng phát triển
nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển.
1.1.3.3 Vai trò của ĐTPT đến cải thiện các chỉ tiêu xã hội.
Mục tiêu cuối cùng của đầu tư phát triển cũng như mục tiêu cuối cùng của phát
triển kinh tế là cải thiện các chỉ tiêu xã hội, đầu tư làm tăng trưởng kinh tế dẫn đến tăng
mức sống của nhân dân, GDP trên người tăng lên. Các đầu tư phát triển xã hội như cở sở
hạ tầng, đường xá trường học, bể nước sạch ở các vùng khó khăn, dự án đầu tư phát triển

dựng cơ bản là một thuật ngữ đã được sử dụng khá quen thuộc ở nước ta với nội
dung bao hàm những chi phí bằng tiền để xây dựng mới, mở rộng, xây dựng lại hoặc
khôi phục năng lực sản xuất của tài sản cố định trong nền kinh tế.
Về thực chất vốn đầu tư xây dựng cơ bản chỉ bao gồm những chi phí làm tăng
thêm giá trị tài sản cố định. Như vậy, vốn đầu tư xây dựng cơ bản gồm 2 bộ phận
hợp thành: vốn đầu tư để mua sắm hoặc xây dựng mới TSCĐ mà ta quen gọi là vốn
đầu tư xây dựng cơ bản và chi phí cho sửa chữa lớn TSCĐ.
Về nội dung chỉ tiêu: vốn đầu tư xây dựng cơ bản và chi phí cho sửa chữa lớn
TSCĐ bao gồm:
- Chi phí cho việc thăm dò, khảo sát và quy hoạch xây dựng chuẩn bị cho đầu tư.
- Chi phí thiết kế công trình, chi phí xây dựng
- Chi phí mua sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị và những chi phí khác thuộc nguồn
vốn đầu tư XDCB;
- Chi phí cho việc sửa chữa lớn nhà cửa, vật kiến trúc và máy móc thiết bị, sửa
chữa lớn các TSCĐ khác.
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận của vốn đầu tư cơ bản được sử
dụng để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật như đã nêu trên.
b. Vốn lưu động bổ sung bao gồm những khoản đầu tư làm tăng thêm tài sản
lưu động trong kỳ nghiên cứu của toàn xã hội. Đây là một nội dung phức tạp rất khó
khăn trong việc thu thập thông tin. Bởi lẽ, đối với khu vực kinh tế tư nhân người ta
thường không ghi chép những khoản đầu tư bổ sung cho vốn lưu động. Vì thế việc
đánh giá mức độ đầu tư phát triển hàng năm của từng địa phương và toàn quốc gặp
rất nhiều khó khăn và tất nhiên không thể tránh khỏi sai sót. Ngành Thống kê đã
tiến hành điều tra mẫu để suy rộng cho từng thành phần kinh tế. Song việc thu thập
thông tin rất phức tạp, độ chính xác còn hạn chế, nhất là khu vực kinh tế tư nhân mà
đặc biệt là kinh tế hộ gia đình.
c. Vốn đầu tư phát triển khác bao gồm tất cả các khoản đầu tư của xã hội nhằm
tăng năng lực phát triển của xã hội. Sự phát triển của xã hội ngoài yếu tố làm tăng
TSCĐ, TSLĐ còn phải làm tăng nguồn lực khác như: nâng cao dân trí; hoàn thiện
môi trường xã hội; cải thiện môi trường sinh thái; hỗ trợ cho các chương trình phòng

đầu tư vào cầm cố, thế chấp hoặc đầu tư vào thị trường chứng khoán thuộc về
vốn đầu tư nhưng trên giác độ toàn bộ nền kinh tế quốc dân thì nó lại không
thuộc về vốn đầu tư phát triển. Bởi vì, xét trên phạm vi toàn xã hội thì những hoạt
động này không làm tăng tổng vốn của quốc gia. Nó chỉ là sự chuyển dịch từ đơn
vị này sang đơn vị khác.
Tùy theo mục đích nghiên cứu, vốn ĐTPT có thể phân theo thành phần kinh
tế, ngành kinh tế, nguồn vốn, cấp quản lý và phân theo khoản mục đầu tư.
1.2.2 Nguồn vốn đầu tư phát triển
Vốn ĐTPT của một địa phương hay một quốc gia được hình thành từ
Phạm Thị Dung Kinh tế phát triển 48B
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hai nguồn: trong nước và nước ngoài. Trong đó, nguồn vốn trong nước giữ vai trò
quyết định. Vốn nước ngoài đóng quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế của
địa phương hay NKT của quốc gia. Trước thực trạng: tốc độ tăng trưởng chưa cao,
thu nhập bình quân đầu người thấp và nguồn tiếp kiệm so với GDP còn hạn hẹp mà
nhu cầu về vốn ĐTPT ngày càng tăng, việc nghiên cứu đầy đủ các nguồn vốn ĐTPT
sẽ là cơ sở quan trọng để xây dựng những giải pháp huy động sử dụng có hiệu quả
mọi nguồn vốn cho ĐTPT.
1.2.2.1 Nguồn vốn đầu tư trong nước:
Bao gồm vốn đầu tư thuộc sở hữu nhà nước và vốn đầu tư của khu
vực ngoài quốc doanh.
a.Nguồn vốn thuộc sở hữu nhà nước:
Nguồn vốn này bao gồm: vốn ĐTPT thuộc ngân sách nhà nước (NSNN), tín
dụng ĐTPT của nhà nước và vốn ĐTPT của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN).
-Vốn ĐTPT thuộc NSNN: là một trong những nguồn vốn quan trọng trong
chiến lược phát triển KTXH của mỗi địa phương và của quốc gia. NSNN được hình
thành từ các khoản như: thu thuế và lệ phí, phát hành trái phiếu chính phủ, cho thuê
hoặc nhượng bán tài sản quốc gia, thu lợi tức cổ phần, thu về hợp tác lao động và các
khoản thu khác. Trong đó khoản thu từ thuế chiếm tỷ trọng cao nhất. Nguồn vốn này


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status