Luận văn tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
Đầu tư phát triển vừa là nhiệm vụ chiến lược, vừa là giải pháp chủ yếu
nhằm đạt các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Đầu tư là một hoạt động
quan trọng đối với một nền kinh tế nhằm tăng cường cơ sở vật chất, năng lực
sản xuất của nền kinh tế.
Công tác quản lý đầu tư là một công việc phức tạp có liên quan đến
nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều chế độ quy định và phải xử lý đa dạng các mối
quan hệ dân sự, quan hệ hành chính và các mối quan hệ khác mà đáng ra phải
được điều chỉnh bằng các Luật và các văn bản pháp luật, văn bản pháp quy
một cách đồng bộ, nhất quán và thống nhất.
Hiện nay, quản lý đầu tư chủ yếu mới thực hiện theo các văn bản ở hình
thức Nghị định, Nghị quyết, Quyết định, Thông tư, Chỉ thị,...(trừ đầu tư nước
ngoài được thực hiện theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam) trong khi nền
kinh tế nước ta đang trong giai đoạn chuyển đổi, hình thành và phát triển
phương thức quản lý theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; các
cơ chế, chính sách nói chung mới hình thành, vừa làm vừa rút kinh nghiệm,
từng bước điều chỉnh cho phù hợp với thực tế khách quan.
Trong thời gian qua với sự nỗ lực của nhiều cơ quan chức năng trong
việc nghiên cứu đổi mới, bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện dần cơ chế, chính
sách trong lĩnh vực này; đặc biệt là đã có nhiều biện pháp, giải pháp tích
cực nhằm phát huy đầy đủ tính tích cực, hạn chế tối đa mặt tiêu cực. Tuy
vây, trên thực tế trong lĩnh vực đầu tư phát triển vẫn còn nhiều bất cập, cản
trở quá trình sản xuất, chưa phù hợp với thực tế khách quan: đầu tư còn dàn
trải; nợ đọng trong khối lượng vốn đầu tư xây dựng cơ bản lớn; lãng phí,
Hoàng Mạnh Cường - Tài chính công 44
1
Luận văn tốt nghiệp
thất thoát nhiều; những biểu hiên tiêu cực trong đầu tư còn diễn ra ở nhiều
nơi, nhiều cấp; hiệu quả đầu tư thấp...
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tôi đã đi sâu nghiên cứu đề tài luận
- Dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu, trình bày một cách chi tiết và có
hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được những
kết quả nhất định trên cơ sở những mục tiêu xác định.
- Trong “Quy chế đầu tư và xây dựng” theo Nghị định 52/1999/NĐ-CP
ngày 08 tháng 07 năm 1999 của Chính phủ: Dự án đầu tư là một tập hợp
Hoàng Mạnh Cường - Tài chính công 44
3
Luận văn tốt nghiệp
những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo
những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sư tăng trưởng hoặc duy trì, cải
tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian
xác định.
Dự án có vai trò rất quan trọng đối với chủ đầu tư, các nhà quản lý và tác
động trực tiếp tới tiến trình phát triển kinh tế xã hội. Nếu không có dự án, nền
kinh tế sẽ khó nắm bắt được cơ hội phát triển. Những công trình thế kỷ của
nhân loại trên thế giới luôn là minh chứng về tầm quan trọng của dự án. Dự
án là căn cứ quan trọng để quyết định bỏ vốn đầu tư, xây dựng kế hoạch đầu
tư và theo dõi quá trình thực hiện đầu tư. Dự án là căn cứ để các tổ chức tài
chính đưa ra quyết định tài trợ, các cơ quan chức năng của nhà nước phê
duyệt và cấp giấy phép đầu tư. Dự án còn được coi là công cụ quan trong
quản lý vốn, vật tư, lao động trong quá trình thực hiện đầu tư. Do vây, hiểu
được những đặc điểm của dự án là một trong những yếu tố quyết định sự
thành công của dư án.
1.2. Đặc điểm của dự án đầu tư
Xuất phát từ khái niệm dự án đầu tư, có thể nhận biết những đặc điểm cơ
bản sau đây của dự án:
- Dự án không chỉ là một ý tưởng hay phác thảo mà còn là hàm ý hành
động với mục tiêu cụ thể. Nếu không có hành động thì dự án vĩnh viễn tồn tại
ở trạng thái tiềm năng.
- Dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng hay ứng dụng mà phải
Theo thời hạn: Dự án ngắn hạn, dự án trung hạn, dự án dài hạn.
Theo cấp độ: Dự án được phân loại thành dự án lớn và dự án nhỏ.
Hoàng Mạnh Cường - Tài chính công 44
5
Luận văn tốt nghiệp
Tại Việt Nam, theo “Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng” ban hành kèm
theo Nghị định số 12/2000/NĐ-CP ngày 5-5-2000 của Chính phủ vể sửa đổi,
bổ sung Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 8-7-1999, thì dự án được phân
loại cụ thể như sau:
- Dự án nhóm A:
+ Các dự án thuộc phạm vi bảo vệ an ninh, quốc phòng có tính bảo mật
quốc gia, có ý nghĩa chính trị xã hội quan trọng, thành lập và xây dựng hạ
tầng khu công nghiệp mới
Tổng mức vốn đầu tư đối với các dự án này là: Không kể mức vốn đầu tư.
+ Các dự án sản xuất chất độc hại, chất nổ
Tổng mức vốn đầu tư đối với các dự án này là: Không kể mức vốn đầu tư.
+ Các dự án: Công nghiệp điện, khai thác dầu khí, chế biến dầu khí, hoá
chất, phân bón, chế tạo máy (bao gồm cả mua và đóng tầu, lắp ráp ô tô), xi
măng, luyện kim, khai thác, chế biến khoáng sản; các dự án giao thông: cầu,
cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ
Tổng mức vốn đầu tư đối với các dự án này là: Trên 600 tỷ đồng.
+ Các dự án: thuỷ lơi, giao thông, cấp thoát nước và công trình hạ tầng
kỹ thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin học, hoá dược,
thiết bị y tế, công trình cơ khí khác, sản xuất vật liệu, bưu chính viễn thông,
BOT trong nước, xây dựng khu nhà ở, đường giao thông nội thị thuộc các khu
đô thị đã có quy hoạch chi tiết được duyệt.
Tổng mức vốn đầu tư đối với các dự án này là: Trên 400 tỷ đồng.
+ Các dự án: hạ tầng kỹ thuật của khu đô thị mới; các dự án: công nghiệp
nhẹ, sành, sứ, thuỷ tinh; vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, mua sắm
thiết bị xây dựng, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chế biến
7
Luận văn tốt nghiệp
- Dự án nhóm C:
+ Các dự án: Công nghiệp điện, dầu khí, hoá chất, phân bón, chế tạo máy
(bao gồm cả mua và đóng mới tầu, lắp ráp ô tô), xi măng, luyện kim, khai
thác, chế biến khoáng sản; các dự án giao thông: cầu, cảng biển, cảng sông,
sân bay, đường sắt, đường quốc lộ. Các trường phổ thông nằm trong khu quy
hoạch (không kể mức vốn)
Tổng mức vốn đầu tư đối với các dự án này là: Dưới 30 tỷ đồng.
+ Các dự án: thuỷ lơi, giao thông, cấp thoát nước và công trình hạ tầng
kỹ thuật, kỹ thuật điện, điện tử, tin học, hoá dược, thiết bị y tế, công trình cơ
khí khác, sản xuất vật liệu, bưu chính viễn thông, BOT trong nước, xây dựng
khu nhà ở,trường phổ thông, đường giao thông nội thị thuộc các khu đô thị đã
có quy hoạch chi tiết được duyệt.
Tổng mức vốn đầu tư đối với các dự án này là: Dưới 20 tỷ đồng.
+ Các dự án: hạ tầng kỹ thuật của khu đô thị mới; các dự án: công nghiệp
nhẹ, sành, sứ, thuỷ tinh; vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, mua sắm
thiết bị xây dựng, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chế biến
nông, lâm sản.
Tổng mức vốn đầu tư đối với các dự án này là: Dưới 15 tỷ đồng.
+ Các dự án: y tế, văn hoá, giáo dục, phát thanh, truyền hình, xây dựng dân
dụng, kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và các dự án khác.
Tổng mức vốn đầu tư đối với các dự án này là: Dưới 7 tỷ đồng.
2. CÁC NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ CHO DỰ ÁN
2.1. Khái niệm về nguồn vốn đầu tư
Các nhà kinh tế học cổ điển, kinh tế chính trị học Mác- Lênin và kinh tế
học hiện đại chứng minh rằng: nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết
Hoàng Mạnh Cường - Tài chính công 44
8
Luận văn tốt nghiệp
chỉ bồi hoàn tiêu hao vật chất của toàn bộ nền kinh tế (của cả hai khu vực) mà
còn phải dư thừa để đầu tư làm tăng quy mô tư liệu sản xuất tiếp theo.
Hoàng Mạnh Cường - Tài chính công 44
9
Luận văn tốt nghiệp
Đối với khu vực II, yêu cầu phải đảm bảo:
(c + v + m) < (v + m)
I
+ (v + m)
II
Có nghĩa là toàn bộ giá trị mới của cả hai khu vực phải lớn hơn giá trị
sản phẩm sản xuất ra của khu vực II. Chỉ khi điều kiện này được thoả mãn,
nền kinh tế mới có thể dành một phần thu nhập để tái sản xuất mở rộng. Từ
đó quy mô vốn đầu tư cũng sẽ gia tăng.
Như vậy, để đảm bảo gia tăng nguồn lực cho sản xuất, gia tăng quy mô
đầu tư, một mặt phải tăng cường sản xuất tư liệu sản xuất ở khu vực I, đồng
thời phải sử dụng tiết kiệm tư liệu sản xuất ở cả hai khu vực. Mặt khác, phải
tăng cường sản xuất tư liệu tiêu dùng ở khu vực II, thực hành tiết kiệm tiêu
dùng trong sinh hoạt ở cả hai khu vực.
Với phân tích như trên, chúng ta thấy rằng theo quan điểm của C. Mác,
con đường cơ bản và quan trọng về lâu dài để tái sản xuất và tiêu dùng. Hay
nói cách khác, nguồn lực cho đầu tư tái sản xuất mở rộng chỉ có thể được đáp
ứng do sự gia tăng sản xuất và tích luỹ của nền kinh tế.
Quan điểm về bản chất của nguồn vốn đầu tư lại tiếp tục được các nhà
kinh tế học hiện đại chứng minh. Trong tác phẩm nổi tiếng “Lý thuyết tổng
quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” của mình, John Maynard Keynes đã
chứng minh được rằng: Đầu tư chính bằng phần thu nhập mà không chuyển
vào tiêu dùng. Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng, tiết kiệm chính là phần dôi ra
của thu nhập so với tiêu dùng:
Điều đó có nghĩa là:
đầu tư từ nước ngoài. Khi đó đầu tư nước ngoài hoặc vay nợ có thể trở thành
một trong những nguồn vốn đầu tư quan trọng của nền kinh tế. Nếu tích luỹ
Hoàng Mạnh Cường - Tài chính công 44
11
Luận văn tốt nghiệp
của nền kinh tế lớn hơn nhu cầu đầu tư trong nước trong điều kiện thặng dư
tài khoản vãng lai thì quốc gia đó có thể đầu tư vốn ra nước ngoài hoặc cho
nước ngoài vay vốn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế.
Từ những quan điểm về sự hình thành nguồn vốn đầu tư của các nhà kinh
tế học nói trên mà ta có thể đưa ra khái niệm về nguồn vốn đầu tư như sau:
Nguồn vốn đầu tư: là thuật ngữ dùng để chỉ các nguồn tập trung và phân
phối vốn cho đầu tư phát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước
và của xã hội. Nguồn vốn đầu tư bao gồm nguồn vốn đầu tư trong nước và
nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
2.2. Nguồn vốn đầu tư cho dự án
Việt Nam cũng như hầu hết các nước đang phát triển, trong giai đoạn
đầu của sự phát triển kinh tế, do mức thu nhập thấp nên khả năng tiêu dùng
và tích luỹ vốn đều rất hạn chế. Trong khi đó, nhu cầu của nền kinh tế lại
cần những khoản vốn lớn để đầu tư cho cơ sở hạ tầng, xây dựng các công
trình làm nền tảng cho sự phát triển kinh tế. Do đó, trong giai đoạn này, nền
công nghiệp của đất nước chưa phát triển nên hàng hoá xuất khẩu đại bộ
phận sẽ là sản phẩm sơ chế như: dầu thô, gạo, cà phê, cao su, thuỷ sản…là
những hàng hoá có giá trị thấp. Ngược lại, nhu cầu phát triển đòi hỏi phải
nhập khẩu máy móc, thiết bị, các sản phẩm hoá chất và cả kỹ thuật công
nghệ, là những sản phẩm có giá trị cao. Việc xuất nhập khẩu hàng hoá như
vậy làm cán cân thương mại và cán cân thanh toán luôn ở tình trạng nhập
siêu. Thách thức này làm gia tăng sự mất cân đối giữa nhu cầu và khả năng
về vốn đầu tư. Vì thế, mà ngoài nguồn vốn trong nước ra thì ta có thể tranh
thủ vốn đầu tư từ nước ngoài để bù đắp cho sự thiếu hụt nguồn vốn đầu tư
phát triển của đất nước.
2.2.1.1 Nguồn vốn đầu tư nhà nước
Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà
nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư
phát triển của doanh nghiệp nhà nước.
(1) Nguồn vốn ngân sách nhà nước: là nguồn chi của ngân sách nhà
nước cho đầu tư và là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Nguồn vốn ngân sách thường được sử dụng đầu tư cho các dự án thuộc
chương trình đầu tư công cộng, các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội,
quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh
vực cần sự tham gia của nhà nước, chi cho công tác lập và thực hiện các dự án
quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây
dựng đô thị và nông thôn. Hàng năm, nguồn vốn ngân sách đầu tư cho dự án
thường chiếm khoảng 20% tổng nguồn vốn đầu tư chung. Tỷ lệ này tuy không
lớn, nhưng nó có ý nghĩa quan trọng trong việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư
chung, tạo môi trường để thu hút các thành phần kinh tế khác tham gia đầu tư
phát triển.
Nguồn vốn ngân sách nhà nước được hình thành chủ yếu từ nguồn thu
trong nước của ngân sách, sau khi đã chi trả cho các khoản chi thường xuyên,
dự phòng hoặc trả nợ. Ngoài ra nó còn gồm cả vốn ODA viện trợ không hoàn
lại hoặc vốn vay đưa vào ngân sách. Vì vậy mà tình hình thu, chi ngân sách
hàng năm tăng hay giảm sẽ quyết định rất lớn đến nguồn vốn chi cho các dự
án đầu tư hàng năm của quốc gia. Sau đây ta sẽ đi xem xét kỹ hơn về tình
hình thu, chi của ngân sách qua các năm từ 2001 đến 2005:
Hoàng Mạnh Cường - Tài chính công 44
14
Luận văn tốt nghiệp
BẢNG 1: CÂN ĐỐI THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TT Chỉ tiêu
Đơn vị
24,981 33,830 35,800 37,212 39,900 171,723
% trong tổng số % 24.0 27.8 25.2 20.6 19.0 22.6
B
TỔNG CHI
NSNN
tỷ
đồng
129,773 148,208 176,322 209,024 258,470 922,797
Tốc độ tăng chi % 16.41 14.21 18.97 18.55 23.7 18.30
1
Chi đầu t phát
triển
tỷ
đồng
40,236 45,218 51,003 62,874 74,000 272,331
% trong tổng số % 31.0 30.5 28.9 30.1 28.6 29.5
2 Chi thờng xuyên
tỷ
đồng
71,562 78,039 95,489 116,346 132,395 493,831
% trong tổng số % 55.1 52.7 54.2 55.7 51.2 53.5
3
Chi trả nợ, viện
trợ
tỷ
đồng
14,943 19,823 24,760 29,404 34,775 123,705
% trong tổng số % 11.5 13.4 14.0 14.1 13.5 13.4
C
BỘI CHI
+ Các dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc
phòng, an ninh, các dự án không có khả năng thu hồi vốn và được quản lý sử
dụng theo phân cấp về chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển.
+ Hỗ trợ các dự án của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần có
sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Hoàng Mạnh Cường - Tài chính công 44
16
Luận văn tốt nghiệp
+ Chi cho công tác điều tra, khảo sát, lập các dự án quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông
thôn khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép.
+ Cho vay của Chính phủ để đầu tư phát triển.
+ Vốn khấu hao cơ bản và các khoản thu của Nhà nước để lại cho doanh
nghiệp nhà nước để đầu tư.
- Thẩm quyền quyết định đầu tư các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước:
+ Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư hoặc uỷ quyền quyết định đầu
tư các dự án thuộc nhóm A.
+ Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,
cơ quan quản lý tài chính của Trung ương Đảng, cơ quan Trung ương của các
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội (được xác định trong Luật Ngân
sách Nhà nước), Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định đầu tư các dự
án thuộc nhóm B và C.
+ Tổng cục trưởng các Tổng cục trực thuộc Bộ có thể được Bộ trưởng ủy
quyền quyết định đầu tư các dự án thuộc nhóm C.
+ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh được uỷ quyền cho Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư quyết định đầu tư
các dự án có mức vốn dưới 2 tỷ đồng. Các tỉnh và thành phố còn lại, Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có thể ủy quyền cho Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu
tư quyết định đầu tư các dự án có mức vốn dưới 500 triệu đồng.
+ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã được quyết định đầu tư các
bằng vốn vay ODA để cho vay lại cần đưa vào kế hoạch thực hiện theo đúng
tiến độ giải ngân của các nhà tài trợ, tăng cường quản lý để bảo đảm hiệu quả
cao nhất, góp phần hoàn vốn nhanh.
Hoàng Mạnh Cường - Tài chính công 44
18
Luận văn tốt nghiệp
Trong điều kiện nền kinh tế của Việt Nam còn yếu kém về hiệu quả và
sức cạnh tranh như hiện nay, các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế còn
chưa đủ sức đầu tư đổi mới công nghệ, hoặc xây dựng các cơ sở sản xuất mới
với công nghệ theo hướng hiện đại thì việc hỗ trợ đầu tư cho các doanh
nghiệp bằng nguồn vốn tín dụng đầu tư của nhà nước là rất cần thiết. Tuy vậy
nguồn vốn này sẽ hạn chế dần trong tương lai.
Tất cả các thành phần kinh tế đều có thể tiếp cận nguồn vốn tín dụng đầu
tư của nhà nước, nếu có những dự án đầu tư có hiệu quả, được thông qua
thẩm định của các cơ quan chức năng. Các chủ đầu tư sử dụng nguồn vốn tín
dụng đầu tư của nhà nước cho các dự án, có trách nhiệm hoàn trả vốn và lãi
theo các quy định của nhà nước và theo hợp đồng ký kết giữa bên cho vay và
bên vay. Tuy nhiên, việc cho vay của nhà nước cũng chỉ là hỗ trợ, chưa có
khả năng cho vay 100% mức vốn của dự án. Các doanh nghiệp và các nhà
đầu tư có vay vốn cần huy đồng thêm các nguồn vốn khác nhau và vốn tự có
để bảo đảm thực hiện các dự án có hiệu quả cao nhất.
Đối với nguồn vốn tín dụng đầu tư của nhà nước, thì thẩm quyền quyết
định đầu tư các dự án của doanh nghiệp nhà nước sử dụng vốn tín dụng đầu tư
phát triển của Nhà nước, thực hiện theo quy định như đối với vốn ngân sách
nhà nước nêu trên.
+ Hội đồng quản trị các Tổng công ty nhà nước được quyền quyết định
đầu tư các dự án nhóm C. Riêng các Tổng công ty nhà nước do Thủ tướng
Chính phủ trực tiếp quản lý, Hội đồng quản trị của tổng công ty được quyền
quyết định đầu tư các dự án nhóm B, C.
+ Chủ đầu tư các dự án nhóm C sử dụng các nguồn vốn quy định tại
+ Đối với các dự án nhóm A, thẩm quyền quyết định đầu tư và thực hiện đầu
tư được áp dụng theo quy định đối với dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước;
Hoàng Mạnh Cường - Tài chính công 44
20
Luận văn tốt nghiệp
+ Đối với các dự án nhóm B, C doanh nghiệp nhà nước căn cứ vào quy
hoạch phát triển ngành đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc thông qua
để quyết định đầu tư; quá trình thực hiện đầu tư do doanh nghiệp tự chịu trách
nhiệm trên cơ sở thực hiện đúng các chế độ chính sách hiện hành của nhà
nước về quản lý đầu tư và xây dựng về định mức, đơn giá và quy chế đấu
thầu. Tổ chức quản lý vốn của doanh nghiệp và các tổ chức hỗ trợ vốn cho dự
án có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện quyết định đầu tư và thực hiện
quyết toán vốn đầu tư.
2.2.2. Nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài
Ta có thể xem xét nguồn vốn đầu tư nước ngoài dưới giác độ như là dòng
lưu chuyển vốn quốc tế (international capital flows). Về thực chất thì các
dòng lưu chuyển vốn quốc tế là biểu thị quá trình chuyển giao nguồn lực tài
chính giữa các quốc gia trên thế giới. Trong các dòng lưu chuyển vốn quốc tế,
dòng từ các nước phát triển đổ vào các nước đang phát triển thường được các
nước thuộc thế giới thứ ba đặc biệt quan tâm. Dòng vốn này diễn ra dưới
nhiều hình thức. Mỗi hình thức có đặc điểm, mục tiêu và điều kiện thực hiện
riêng, không hoàn toàn giống nhau. Theo tính chất lưu chuyển vốn, có thể
phân loại các nguồn vốn chính như sau:
+ Tài trợ phát triển chính thức (ODF – official development finance).
Nguồn này bao gồm: viện trợ phát triển chính thức (ODA – official
development assistance) và các hình thức tài trợ phát triển khác. Trong đó,
ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu trong nguồn ODF, vì thế khi đề cập đến nguồn
tài trợ phát triển chính thức thì chỉ đề cập đến nguồn ODA.
+ Nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại.
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Hoàng Mạnh Cường - Tài chính công 44
22
Luận văn tốt nghiệp
Trong các chương trình, dự án ODA đã được ký kết có những dự án quốc
gia mang ý nghĩa kinh tế xã hội quan trọng đối với cả nước. Việc vận động
nguồn ODA trực tiếp tập trung cho các vùng nghèo, có nhiều khó khăn cũng
được cải thiện một bước so với trước đây. Giá trị ODA bình quân đầu người
mà các vùng nghèo, khó khăn được thụ hưởng trực tiếp trong thời gian qua đã
được cải thiện một phần. Nhiều công trình đầu tư bằng nguồn vốn ODA đã
hoàn thành, đưa vào sử dụng góp phần tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống
người dân, tăng cường công bằng xã hội.
2.2.2.2. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Đây là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư và phát triển không chỉ đối với
các nước nghèo mà kể cả các nước công nghiệp phát triển. Nguồn vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài có đặc điểm cơ bản khác với các nguồn vốn nước ngoài
khác là việc tiếp nhận nguồn vốn này không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận.
Thay vì nhận lãi suất trên vốn đầu tư, nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận
thích đáng khi dự án đầu tư hoạt động có hiệu quả. Đầu tư trực tiếp nước
ngoài mang theo toàn bộ tài nguyên kinh doanh vào nước nhận vốn nên nó có
thể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới, đặc biệt là những nghành đòi hỏi cao
về kỹ thuật, công nghệ hay cần nhiều vốn. Vì thế, nguồn vốn này có tác dụng
cực kỳ to lớn đối với quá trình công nghiệp hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và tốc độ tăng trưởng nhanh ở nước nhận đầu tư.
Kinh nghiệm phát triển hiện đại của một số nước Đông á cho thấy rằng
đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển
của các quốc gia này. Vấn đề hiệu quả sử dụng vốn FDI tuỳ thuộc chủ yếu
vào cách thức huy động và quản lý sử dụng nó tại nước tiếp nhận đầu tư chứ
không chỉ ở ý đồ của người đầu tư.
Đối với Việt Nam, sau hơn 10 năm thực hiện chính sách mở cửa, nguồn
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đóng góp phần bổ sung vốn quan trọng cho
) của hoạt động đầu tư là mức độ đáp ứng nhu cầu
phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và nâng cao đời sống người
Hoàng Mạnh Cường - Tài chính công 44
24
Luận văn tốt nghiệp
lao động trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên cơ sở vốn đầu tư mà
cơ sở đã sử dụng so với kỳ khác, các cơ sở khác hoặc so với định mức chung.
E
tc
=
Các kết quả mà cơ sở thu được do thực hiện
đầu tư số vốn đầu tư mà cơ sở đã thực hiện để tạo ra các kết quả trên
E
tc
được coi là có hiệu quả khi E
tc
> E
tc0
Trong đó: E
tc0
- Chỉ tiêu hiệu quả tài chính định mức, hoặc của các kỳ
khác mà cơ sở đã đạt được chọn làm cơ sở so sánh, hoặc của các đơn vị khác
đã đạt được tiêu chuẩn hiệu quả.
Do đó, để phản ánh hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư người ta phải
sử dụng một hệ thống các chỉ tiêu. Mỗi chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh của
hiệu quả và được sử dụng trong những điều kiện nhất định.
3.1.1.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính
Đối với dự án đầu tư, hệ thống đánh gía hiệu quả tài chính gồm có:
- Chỉ tiêu lợi nhuận thuần, thu nhập thuần của dự án: Đây là chỉ tiêu phản
ánh hiệu quả tuyệt đối của dự án đầu tư .Chỉ tiêu lợi nhuận thuần tính cho từng